Mao là người
gây dựng nên chế độ Cộng Sản Trung Hoa. Ông là Chủ tịch đảng từ 1943
tới khi chết năm 1976, lãnh tụ CS các nước thường cầm quyền cho tới chết. Mao
Trạch Đông cũng là người thống nhất nước Tầu, là người đem chủ thuyết CS về,
sáng lập chủ nghĩa Mác Lê theo kiểu Tầu, gây nhiều cuộc chiến tranh, cách mạng
tàn phá đất nước và gây nhiều bất hạnh cho nhân dân.
Tháng 10-1934
Tưởng Giới Thạch đem 50 vạn quân bao vây khu Sô Viết Trung ương khiến Mao phải
tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh gian khổ vượt gần 10 ngàn cây số suốt một
năm trời tới tỉnh Thiểm Tây ở phía bắc. Họ di cư lên miền Bắc để được CS Nga
giúp đỡ.
Tưởng Giới Thạch
Trong cuộc nội
chiến Quốc Cộng, Mao tiêu diệt được 144 sư đoàn thiện chiến của QDĐ. Cuối năm
1948, Tưởng cử bà phu nhân Tống Mỹ Linh sang Mỹ xin viện trợ nhưng họ lờ đi
không đáp ứng.
Ngày 1 tháng 10 năm 1949, Mao Trạch Đông đánh thắng Tưởng Giới Thạch thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Cuối năm 1949 Tưởng và 2 triệu Quốc Dân Đảng chạy ra đảo Đài Loan. Dư luận Mỹ lên án Tổng
Thống Truman, một chính quyền Dân Chủ đã để mất Trung Hoa. Trong khi CS Sô Viết
lấy được kho vũ khí khổng lồ của Nhật giúp CS Tầu, phía Mỹ không giúp Quốc Dân
đảng đủ sức chống địch, lệ ủng hộ Truman từ 70% xuống còn 35%. Dân Chủ thời nào
cũng bỏ rơi đồng minh, năm 1975 bỏ Sai Gòn và bây giờ lại bỏ Kabul.
Tổng Thống Truman
Có tài liệu nói sau Thế chiến, cán cân quân sự nghiêng về
Mao. Chủ lực quân của họ tăng lên 1 triệu 2 và 2 triệu du kích. Nga
Sô đã giúp CS Tầu nhiều vũ khí lấy được của Nhật tại Mãn Châu. QDĐ chống
quân Nhật hồi Thế chiến thứ hai đã bị mất nhiều đơn vị tinh nhuệ trong những trận
đánh lớn, trong khi ấy CS Tầu ít thiệt hại, họ ít đụng chạm Nhật. Sau Thế chiến
Mỹ không thực sự giúp Tưởng thắng Hồng quân vì vai trò chống Nhật của QDĐ đã hết
(1)
Tống Mỹ Linh
Mao Trạch Đông chiếm được Hoa lục làm lệch cán cân quân sự
quốc tế của hai phe CS và Thế giới tự do đã đưa tới các cuộc chiến đẫm máu khác
ngay trong năm sau. Ông đã gây nên nạn đói đầu thập niên 60. Từ 1949-1958 Mao
thực hiện cải cách ruộng đất. Kế hoạch Nhẩy vọt 1958-60 đưa tới hậu quả tai hại,
chủ trương nhẩy vọt từ nông nghiệp sang kỹ nghệ lớn. Mao đã gây nạn đói cho khoảng
20, 40 triệu người bị chết đói. Mao đã biến nước Tầu thành một địa ngục đói khổ
tang thương thê thảm, đây là một sự sai lầm của lịch sử đã lựa chọn Mao. Ông ta
phạm tội chống nhân loại ấy thế mà vẫn được sùng bái, thờ phụng... thực là một
điều quái gở, chỉ có ở nước Tầu.
Hoa Quốc Phong
Cuối đời, Mao Trạch Đông đã thấy rõ sự thực phũ phàng cũa
Xã hội chủ nghĩa, một con đường đói khổ và từ ngày 21/2/1972, hình ảnh Mao Chủ
Tịch bắt tay Tổng Thống Đế Quốc đã thay đổi cả một kỷ nguyên. Nước Tầu đi vào
con đường làm ăn với tư bản, không còn chiến tranh, loạn lạc. Thời “Đại nhẩy vọt”
Mao 60 tuổi, thời Cách mạng văn hóa Mao 70 tuổi và khi bang giao với Mỹ Mao 80
tuổi.
Đặng Tiểu Bình
Sau Mao Trạch Đông, các lãnh tụ CS Trung Hoa liên tiếp
nhau Hoa Quốc Phong (1921-2008), Đặng Tiểu Bình (1904- 1997), Giang Trạch Dân
(1926), Hồ Cẩm Đào (1942) đều lo cải cách kinh tế, chỉ riêng Đặng Tiểu Bình có
gây cuộc chiến tranh tại biên giới Việt-Hoa năm 1979, một cuộc chiến tranh giữa
các chế độ CS. Nói chung họ ôn hòa, theo đúng tôn chỉ hòa bình, đổi
mới kinh tế mà Mao đã đặt đường đi từ 1972. Riêng Giang Trạch Dân được coi là
khát máu nhất, ông ta đàn áp, giết hại Pháp Luân Công tàn bạo, bán nội tạng của
phạm nhân y như dưới thời Đức Quốc Xã
Giang Trạch Dân
Kinh tế tăng trưởng
Nước Trung Hoa đói khổ lần đầu tiên được xuất hiện trên
TV, báo chí Mỹ và Tây phương tháng 2/1972: Đường phố Bắc Kinh toàn xe đạp và xe
bò... nay cũng tại nơi đây và những thành phố lớn, những tòa cao ốc, building mọc
lên như nấm, đường phố sáu hàng toàn xe hơi bóng loáng.
Các nhà lãnh đạo CS Trung Hoa chấp nhận đồng lương rẻ mạt
của giới Tư bản, trong khi các nhà tài phiệt Mỹ, Nhật, Âu Châu, Pháp, Anh, Đức
và cả Đài Loan... chỉ biết nhắm mắt bóc lột cái khối nhân công rẻ mạt của nước
Tầu. Trung Hoa đỏ rất kiên nhẫn, họ chịu khó kiếm tí cơm thừa của tư bản để từ
từ vươn lên như ta thấy ngày hôm nay, một nước chết đói nay trở thành một nền
kinh tế đứng thứ hai trên thế giới.
Trong mấy thập niên, kinh tế Trung Hoa đã tiến thật mạnh,
tỷ lệ tăng trưởng trung bình 10 chấm khiến Tổng sản lượng kinh tế (GDP) của họ
nay (2021) là hơn 16 ngàn tỷ Mỹ Kim, bằng hơn một nửa của TSL Mỹ (hơn 22 ngàn tỷ),
hiện nay Trung Cộng là nền kinh tế lớn thứ nhì trên thế giới.
Hoàng Đế Hirohito
Nhìn về quá khứ ta thấy
Năm 1952 Tổng sản lượng Trung Cộng rất khiêm tốn, chỉ có
30 tỷ Mỹ kim thôi, đến 1962 tức mười năm sau TSL tăng khiêm tốn lên 47 tỷ, năm
1972 tăng 113 tỷ, năm 1983 (10 năm sau) tăng thành 304 tỷ. Trong 30 năm (1952
-1983) TSL của họ tăng tư 30 tỷ tới 304 tỷ, từ bạc chục tới bạc trăm.
Mười năm sau tức 1993 TSL của họ tăng lên 619 tỷ, bước
sang thập niên 2000 kinh tế của họ bắt đầu nhẩy vọt, 10 năm sau tức 2003 TSL
lên 1,660 tỷ (một ngàn 660 tỷ), tới 2013 lên 9,611 tỷ (9 ngàn 611 tỷ) và bây giờ
lên hơn 16 ngàn tỷ (2)
So sánh Tổng sản lượng Mỹ-Hoa từ 1970 tới nay ta thấy Hoa
Lục tiến rất nhanh từng thập niên
Năm 1970 TSL Mỹ
là 1,075 tỷ. TSL Trung cộng chỉ có 89 tỷ
Năm 1980 TSL Mỹ 2,862 tỷ. TSL TC lên 305 tỷ
Năm 1990 TSL Mỹ 5,979 tỷ, TSL TC lên 398
tỷ
Năm 2000 TSL Mỹ 10,284 tỷ, TSL TC lên 1,214 tỷ
Năm 2010 TSL Mỹ 14,964 tỷ, TSL TC lên 6,066 tỷ
Năm 2015 TSL Mỹ 18,036 tỷ, TSL TC lên 11,158 tỷ...
(GDP in the United States and leaders)
Về tỷ lệ tăng trưởng ta thấy từ 1992 tới đầu thập niên
2000 tăng trưởng khoảng hơn 10 chấm, từ 2002 tới 2012 cũng vậy, hơn 10 chấm,
nhưng từ 2012 tới nay chậm lại từ 7.9 tới 6.9. Từ ngày theo kinh tế thị
trường vào năm 1978, Trung Cộng là một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng
nhanh nhất thế giới
Tuy nhiên các địa phương có khynh hướng lấy điểm với
Trung ương và họ thường tăng con số báo cáo, trên thực tế không cao như vậy.
Kinh tế Hoa Lục nay dựa trên xuất cảng, năm 2017 tổng
cộng 2.26 ngàn tỷ (Mỹ Kim), trong đó 94% là hàng sản xuất công nghiệp
tới các nước theo tỷ lệ: Mỹ 18.3%, khối Liên Âu 16.1%, Hồng Kông 13.8%, Nhật
6.1%, Nam Hàn 4.5%, các nước khác 41.2% (theo Wikipedia)
Hoa Lục nhập cảng 1.84 ngàn tỷ theo tỷ lệ Liên Âu
13.1%, Nam Hàn 10%, Nhật 9.2%, Đài Loan 8.8%, Mỹ 8.5%, các nước khác 50.4%
Người ta nói nay họ là một công xưởng lớn sản xuất đồ
tiêu dùng cho cả thế giới. Peter Navarro, tác giả cuốn Death by China đã nhận định
Trung Cộng vi phạm mậu dịch quốc tế bằng trợ cấp xuất cảng bất chính, chính
sách tiền tệ ma mãnh khiến hàng Tầu tràn ngập thị trường Hoa Kỳ (illegal
export subsidies and currency manipulation, effectively flooding the U.S.
markets").
Ông nói các công ty Mỹ không thể cạnh tranh với Trung Cộng
được vì họ không cạnh tranh với các công ty Tầu mà phải cạnh tranh với chính phủ
Trung Cộng ((American companies cannot compete because they’re not competing
with Chinese companies, they’re competing with the Chinese government.”)
Thời Tập Cận Bình (Xi Jinping)
Họ Tập thuộc hàng Thái Từ đảng, con cháu của đảng viên
cao cấp, trong một năm trời, ông ta đã thiết lập cơ cấu chính trị cho nước Tầu
CS. Họ Tập nay trở lại thời kỳ độc tài cá nhân Mao, Đặng.
Sinh năm 1953 hiện là nhà lãnh đạo tối cao Trung Cộng, Tổng
bí thư đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy trung ương thuộc thế hệ lãnh đạo
thứ năm, ông ta giữ hầu hết các cức vụ lớn then chốt. Năm 2002 Tập Cận Bình
(TCB) đậu Tiến sĩ luật, vào Trung ương đảng năm 2007, năm sau 2008 Phó chủ tịch
nước. Tháng 10/2010 được bầu làm Phó chủ tịch Quân ủy trung ương, cơ quan chỉ đạo
quân đội. Tháng 11/2012 Tập được Trung ương đảng bầu Tổng bí thư, rồi Chủ tịch
Quân ủy. Ngày 14/3/2013 ông được bầu làm Chủ tịch nước.
Tập Cận Bình ủng hộ phát triển kinh tế thị trường, thận
trọng cải cách chính trị, duy trì lãnh đạo của đảng là cần thiết để ổn định xã
hội, ông là người cứng rắn trong các vấn đề quốc tế. Tập mở chiến dịch chống
tham nhũng từ quan trên tới cấp nhỏ mà người ta gọi là “đả hổ, đập ruồi” (root
out tigers and flies). Các nhà quan sát cho rằng ông là nhà lãnh đạo nhiều quyền
lực nhất kể từ thời Đặng Tiểu Bình.
Họ Tập chủ trương “Kinh tê cấp tiến nhưng Chính trị bảo
thủ”. Văn thư phổ biến trong nội bộ đảng 2013 cảnh báo những tư tưởng Tây
phương như dân chủ, nhân quyền, xã hội dân sự. Ông ta nhìn nhận tính chất tối
cao của đảng CS thống trị Trung Quốc, nghĩa là chủ trương độc tài. Triều đại của
họ Tập bắt giam các nhà bất đồng chính kiến, củng cố sức mạnh chính trị để lãnh
đạo nền kinh tế lớn.
Về Kinh tế, ông thừa hưởng sự phồn thịnh từ các nhà lành
đạo trước: Hoa Quốc Phong, Đăng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào. Nhiều
nhận định cho rằng Tập trở lại chính sách chuyên chính, độc đoán từ thời xa
xưa, kiểm duyệt, thắt chặt kiểm duyệt truyền thông, internet. Chính sách đối
ngoại cứng rắn khiến các nước láng giềng e ngại, ưu tiên hàng đầu của Tập Cận
Bình là củng cố quyền lực.
Ông ta tập trung quyền lực giống như Mao và Đặng trước
đây và thực sự trở thành nhà độc tài giống chính sách độc tài cá nhân theo kiểu
Staline. Nhưng vấn đề đặt ra là giữa Thế kỷ 21 mà Tập Cận Bình trở lại thời kỳ
Mao, Đặng có thực hiện được lâu dài hay không? So với Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu
Bình thì tài cán, kinh nghiệm của họ Tập chẳng nghĩa lý gì.
Trong khi Mao Trạch Đông năm 1931-34 được bầu làm Chủ tịch
chính phủ lâm thời, sau lại bị phe phái gạt ra ngoài. Tháng 10-1934 Tưởng
Giới Thạch đem 50 vạn quân bao vây khu Sô Viết Trung ương khiến CS Tầu phải mở
đường máu tiến hành cuộc Vạn lý trường chinh gian khổ vượt gần 10 ngàn cây số
suốt một năm trời tới tỉnh Thiểm Tây ở phía Bắc lập căn cứ mới. Mao và các đồng
chí phải di cư lên miền Bắc để được CS Nga giúp đỡ. Rồi chiến tranh chống Nhật,
chống Quốc Dân Đảng, cuối cùng chiến thắng 1/10/1949 tuyên bố
thành lập Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, bao nhiêu
năm gian khổ để xây dựng sự nghiệp cho CS Trung Hoa.
Họ Đặng cũng ba chìm bẩy nổi: năm 1966 thời Cách mạng văn
hóa, Đặng Tiểu Bình bị phê phán là theo chủ nghĩa tư bản, bị cách mọi chức vụ. Tháng
3/1973 ông trở lại Bắc Kinh được phục hồi, được bầu vào Ban chấp
hành Trung ương đảng rồi Phó chủ tịch đảng, Phó Thủ tướng, rồi Đệ nhất Phó Thủ
tướng. Khi Chu ân lai mất ông lại bị Mao cách hết mọi chức. Năm 1978 sau khi lũ
bốn người bị lật đổ họ Đặng lại được khôi phục các chức vụ này.
Khi Tập Cận Bình lên cầm quyền, nhiều người hy vọng sẽ có
cởi mở hơn về tự do ngôn luận nhưng ngược lại, ông ta cho bắt bớ những nhân vật
bất đồng chính kiến, đàn áp tôn giáo vẫn khốc liệt ở Tây Tạng, Tân Cương.
Hai thập niên vừa qua, tăng trưởng kinh tế Trung Cộng rất
cao: Từ 1989 tới 2014 trung bình là 9.08%. Từ 2012 (Thời Tập Cận Bình) tới nay,
tỷ lệ tăng trưởng chậm lại: năm 2012 tỷ lệ 8.1, 7.6, 7.4 năm 2013 tỷ lệ 7.8,
7.5, 7.9, năm 2014 tỷ lệ 7.5, 7.3. Hoa Lục đầu tư ra nước ngoài 62 tỷ (Mỹ kim).
Năm 1979, 1980 hồi Tầu Cộng Việt Cộng đánh nhau, báo Sài Gòn Giải phóng của
CSVN đăng lại một bản tin của Tây phương cho biết trữ lượng ngoại tệ của Trung
Cộng chỉ có 4 tỷ Mỹ kim so với 32 tỷ của Đài Loan, nghĩa là Đài Loan gấp 8 lần
Tầu lục địa năm 1980, như thế nay Hoa Lục đã đi hia bẩy dặm tiến quá nhanh.
Nền kinh tế Hoa Lục chưa đủ trình độ một nền kinh tế tiêu
thụ mà còn phụ thuộc vào xuất cảng khoảng 60%. Tập Cận Bình cứng rắn với quôc tế
đưa tới tranh chấp Biển đông giữa các nước Hoa Lục, Brunei, Đài Loan, Mã Lai,
Phi Luật Tân, Việt Nam… về Hoàng Sa Trường Sa.
Từ khi Mao Trạch Đông hòa hoãn với Mỹ tháng 2/1972, Trung
Cộng không còn là mối đe dọa hòa bình cho Á châu. Nay Tập Cận Bình được thừa hưởng
nền kinh tế phồn thịnh và nền tảng Chính trị của các lãnh tụ tiền nhiệm, ông ta
lại thành mối đe dọa an ninh cho khu vực và cả Thế giới. Nhưng họ Tập khác Mao ở
chỗ Tập chỉ hù dọa bằng võ mồm chứ không bằng hành động: Mao Trạch Đông gây chiến
tại Triều Tiên, tại Bắc Việt đầu thập niên 50 khiến Mỹ và Tây phương phải lao
đao và bị nhiều thiệt hại.
Theo trang Hỏa lực toàn cầu, Globalfirepower.com Trung Cộng
trong những năm qua xếp hạng 3 trên thế giới với 777 tầu chiến, 3,260 máy bay,
Ngân sách Quốc phòng 178 tỷ. Nếu nói về số lượng Tầu chiến thì Bắc Hàn cách đây
mấy năm là nước nhiều nhất sau mới đến Trung Hoa, nhưng hầu hết là tầu giang
đĩnh chạy trên sông (tức brown-water navy) chỉ có một số ít tầu cận
duyên chạy ven biển.
Cho tới năm 1988, Trung Cộng không chú trọng về Hải quân,
chiến hạm của họ phần lớn là giang đĩnh chạy trên sông ngòi và tầu duyên phòng
(brown-water navy). Đầu thập niên 1990 khi CS Nga sụp đổ Trung Cộng không phải
lo đương đầu với Nga tại biên giới mà hướng về Biển Đông từ năm 2009. Tháng
3/1969 Nga-Hoa chạm súng với nhau tại sông Ussuri (Ô tô lý), từ đó hai bên dàn
quân nhiều chục Sư đoàn tại biên giới.
Họ mới canh tân Hải quân gần đây từ bỏ Hải quân Nước nâu
để hướng về Hải quân Nước Xanh, Đại dương (green-water navy).
Về số lượng chiến hạm, Hải quân Trung Cộng còn lạc hậu,
trong số chiến hạm của họ rất nhiều tầu do Nga sô cung cấp từ thời chiến tranh
lạnh có một số mới đóng. Trung Cộng mới canh tân Hải quân từ 2009 tới nay, cách
đây khoảng 5, 6 năm, báo trong nước, Hải ngoại cho biết một ông Tướng 4 sao Nhật
chê Hải, Không quân Trung Cộng còn lạc hậu về huấn luyện, kỹ thuật từ 10 tới 20
năm so với Nhật. Ông ta nói giờ này mà Trung Cộng còn xài tầu ngầm chạy bằng dầu
cặn, mở máy là đã bị đánh chìm. Họ mới thuê Nga đóng mấy chục chiếc Tiềm thủy
đĩnh tối tân chạy bằng nguyên tử.
Họ mới đóng được hai Hàng không mẫu hạm, nhưng trọng lượng
chỉ bằng một phần ba (1/3) HKMH của Mỹ, Hải quân Mỹ có 10 HKMH một trăm ngàn tấn,
trên thế giới chưa có nước nào có HKMH lớn như vậy, nó rất tốn kém (15 tỷ) và
phải có kỹ thuật cao. Tầu sân bay của Trung Cộng chỉ để huấn luyện, nay các chiến
hạm và HKMH của họ chỉ loanh quanh tại Biển đông, không thể và không dám đi xa.
Trung Cộng mới đóng thêm tầu sân bay Sơn Đông nhưng cũng chỉ là loại nhỏ, trung
bình, còn lâu họ mới đóng được HKMH 100 ngàn tấn như Mỹ (3)
Trung Cộng có tham vọng đuổi kịp Hải quân Mỹ nhưng phải mất
50 năm hay một Thế kỷ mới hy vọng, Tầu sân bay và chiến hạm Trung Cộng chỉ
loanh quanh ở Biển Đông không đi xa được trong khi tầu chiến Đế Quốc nghênh
ngang trên các Đại dương
Cách đây khoảng một tháng, Chính phủ Nhật tuyên bố nếu
Trung Cộng đánh Đài Loan họ sẽ tham gia bảo vệ Đài Loan vì nếu chiếm được Đài
Loan, Trung Cộng sẽ phong tỏa đường hàng hải của Nhật. Quân sự, kinh tế của Nhật
sẽ bị tê liệt, đời nào Nhật để cho Tầu Phù tác yêu tác quái.
Trung Cộng bèn hù dọa Nhật, nếu Nhật giúp bảo vể Đài
Loan, họ sẽ xử dụng bom nguyên tử để đánh Nhật vì họ biết là không thể thắng Hải
quân, Không quân Nhật. Cách đây 4 năm, Nhật đã tuyên bố nếu có Hải chiến tại
Thái Bình Dương, họ sẽ đánh bại Hạm Đội Nam Hải của Trung Cộng trong mấy ngày.
Trung Cộng phát biểu điên khùng, Mỹ sẽ không để cho họ
ném bom nguyên tử xuống đất Nhật vì nay Mỹ là cây dù nguyên tử cho cả thế giới. Từ 1940 tới
1996, trong 56 năm Mỹ đã chi 8,890 tỷ đô la (theo giá tiền ngày nay) trong việc
chế tạo vũ khí nguyên tử. Người ta ước lượng từ 1945 Mỹ đã chế tạo hơn 70,000 đầu
đạn nguyên tử, nhiều hơn tổng số đầu đạn nguyên tử của các nước trên
thế giới cộng lại (4)
Cuối năm 1949, Mao cho sửa chữa các sân bay, chuẩn bị đổ
bộ chiếm Đài Loan, ngày 5/1/1950 TT Truman tuyên bố không can thiệp
Nhưng nửa năm sau, ngày 25/6/1950 Bắc Triều Tiên được Nga
và Trung Cộng giúp trang bị đã ồ ạt tấn công Nam Triều Tiên (Nam Hàn). Hai ngày
sau 27/6/1950 TT Truman vội tuyên bố bảo vệ miền Nam Triều Tiên và lệnh cho Hạm
đội 7 bảo vệ Đài Đài Loan
Truman y như một thằng hề, thái độ lật lọng cho thấy cái
lưỡi không xương của ông ta
Đài Loan từ 1950 đến nay thoát chết đã được Mỹ bảo vệ,
còn lâu Trung Cộng mới dám tấn công Đài Loan. Trong bài China
Couldn’nt Really Invade Taiwan ,
Could it? Trên trang The National Interest có đoạn nói (xin tóm tắt):
“Trung Cộng khó xâm lăng Đài Loan ồ ạt mà thắng được,
tổn thất và sự nguy hại sẽ rất lớn cho chế độ”
Tổng số máy bay Đài Loan nay là 739, Trung
Cộng 3,260, về lượng tuy nhiều nhưng trong số này nhiều chiếc đã có từ thời chiến
tranh lạnh do Nga cung cấp, máy bay chiến đấu 2 bên là 288/1,200. Chiếm được
Đài Loan Trung Cộng cũng sẽ bị sứt mẻ lớn. (globalfirepower.com)
Nay dân số Âu Châu (không kể Nga) khoảng 600 triệu, dân số
Đông Nam Á (không kể Tầu Nhật, Hàn Quốc) khoảng 600 triệu, dân số Tầu là 1 tỷ 3
bằng cả hai khối Âu Á cộng lại, khiếp chưa? Kinh tế Hoa lục tăng trưởng nhanh
là nhờ cái đống thịt 1 tỷ 3 đi làm gia công chứ không phải vì hàng kỹ nghệ cao
như Nhật, Nam Hàn, Đức quốc. Nước Tầu xa xưa truyền bá văn minh cho Nhật, Triều
tiên nhưng nay Hoa Lục không văn minh bằng Nhật, Hàn quốc về mọi phương diện.
Kinh tế Hoa lục thật ra là một nền kinh tế bấp bênh, phụ
thuộc vào xuất cảng, nếu bị cấm vận, rút đầu tư thì họ khốn đốn ngay. Nay Hàng
không, sản xuất công nghiệp của Hoa Lục phụ thuộc vào nhập cảng, thí dụ như cái
TV phụ thuộc vào nhập cảng cơ phận từ 50% trở lên, máy bay 80% …một nền kinh tế
không tự chủ được mà phụ thuộc vào Mỹ,Tây phương, Nhật.
Những năm gần đây Trung Cộng diệu võ dương oai tại Biển
đông để đe dọa các nước lân bang nhưng gặp phản ứng cứng rắn các nước khu vực họ
đã ôn hòa trở lại. Sự thực Trung Cộng không hề muốn chiến tranh mà chỉ đánh võ
mồm. Nếu có đánh lớn thì sự nghiệp mà họ xây dựng mấy chục năm nay sẽ tan thành
tro bụi, các thành phố Thiên Tân, Thượng Hải , Bắc Kinh...sẽ nát như cám. Thế
thì hung hăng hù dọa các nước khác làm gì??
Tập Cận Bình nét mặt cục súc không khôn ngoan như Mao, Đặng,
người ta cho rằng ông ta khiến cho nền hòa bình Á Châu bị xấu đi từ mấy năm
nay.
Không! Ông ta chẳng là gì cả, so với Mao, Đặng họ Tập chỉ
là con số không.
* Trọng Đạt
(1) - La Guerre civil en chine,
Geographie.blog le monde.fr
-
Communists Win China ’s
War, Macrohistoory and World Time Line, Fsmitha.com
-
Chinese civil war, Wikipedia
(2) Wikipedia,
Economy of China , China 's
Historical GDP for 1952 –present
(3) Wikipedia,
People's Liberation Army Navy
(4) Wikipedia
-Nuclear weapons and the










Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire