BIỂN LÒNG TÌNH SÂU. * Huỳnh Tâm.

Họa phẩm Huỳnh Tâm
"Biển Lòng Tình Sâu" là một trường ca được sinh ra từ giao điểm của ký ức, triết lý và những rung động thẳm sâu trong cõi người. Tác phẩm không chỉ là một dòng chảy thơ ca, mà còn là một hành trình nội tâm, nơi người đọc được dẫn dắt đi qua những miền cảm xúc mơ hồ, những lớp sương vô thường, và những khoảng lặng mà bản thể con người thường né tránh. Ở đó, trăng-song-mưa-bóng-hư vô… không còn là hình ảnh thuần túy, mà trở thành những biểu tượng sống động, mang hơi thở của tâm linh và triết học phương Đông. 

TRƯỜNG CA MÙA ĐÔNG. * Huỳnh Tâm.

Họa phẩm Đinh Cường


Trên những cánh đồng mọi miềm đất nước cho đền nay đã từng in dấu chân người, vẫn còn sót lại những vết thương của chiến tranh, những mảnh kim loại vô tri nhưng đủ sức cướp đi một tuổi thơ. Cũng như những mùa đông không chỉ lạnh bởi gió trời, mà còn lạnh bởi những mất mát cuộc đời.
Trường ca Mùa Đông được viết để tưởng nhớ những em trẻ linh hồn bé nhỏ, đã rời thế gian khi chưa kịp hiểu hết ý nghĩa của nụ cười. Đây không chỉ là câu chuyện của những em bé, mà là tiếng vọng của bao phận người đã nằm xuống trong im lặng.

SÔNG DINH ĐỒNG NỘI. * Huỳnh Tâm.

Nỗi đau nào và sự thức tỉnh trong mùa đông không phải là tiếng khóc bi lụy, mà là lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng sâu sắc về giá trị của hòa bình. 
Tác giả vần thơ này, hy vọng bạn chia sẻ và nối tiếp cho nhau, những nhịp thở dài không đứt quãng của đất trời: 
- Để lấn át tiếng nổ. 
- Cả tiếng gió. 
- Cả tiếng thầy cô lặng im.

KẾT LẠI VÒNG TAY. * Huỳnh Tâm.

Họa phẩm Đinh Cường

Có những thời khắc trong lịch sử, dân tộc phải đứng trước những ngã rẽ lớn lao. Và chính trong những thời khắc ấy, vòng tay con người trở thành nhịp cầu nối liền núi với biển, nối miền xuôi với miền ngược, nối những trái tim tưởng chừng xa cách thành một mạch sống chung.

MẸ SÔNG DINH. * Huỳnh Tâm.

Dòng Sông Dinh
Có những dòng sông không chỉ chảy qua vùng miền địa dư, mà còn chảy qua mỗi đời người, qua ký ức, qua những nỗi đau và niềm thương không bao giờ khép lại. Sông Dinh dòng nước nhỏ hiền hòa của xứ Trầm Hương đã chứng kiến bao phận người chìm nổi, bao mái nhà tan tác trong những mùa binh lửa.

Kịch Thơ. MÙA ĐÔNG. * Huỳnh Tâm.

Độc Thoại Trên Sân
Khấu.
CẢNH 1 – TIẾNG NỔ TRONG SƯƠNG.
* Ánh sáng xanh nhạt. Một người đứng giữa sân khấu, tay run nhẹ. Gió thổi qua tiếng nhạc nền.

NHÂN VẬT:
Sáng nay… sương còn đọng trên đồng. 
Một bước chân nhỏ… 
một tiếng nổ xé trời… 
và mùa đông bỗng già đi một tuổi. 

RỬA SẠCH VẾT THƯƠNG CŨ. * Huỳnh Tâm.

Họa phẩm Đinh Cường

M
ẹ đứng bên chiều gió lạc loài 
Nhìn con lưu lạc giữa trần ai 
Đất cháy từng đêm còn vết cũ 
Trời nghiêng mỗi sớm rụng tương lai 
Mẹ hóa sử thi gìn bản sắc 
Thành mây che chở những hình hài 
Gia sản mẹ trao không của cải 
Chỉ là nỗi nhớ chẳng nguôi phai. 
* Huỳnh Tâm.

NHỮNG CƠN GIÓ CŨ. * Huỳnh Tâm.

Họa phẩm Đinh Cường

Tr
ên cánh đồng xưa, mây ngủ lại 
Gió chạm vai người, gió thở dài 
Có bước chân ai vừa qua đó 
Để hồn đất gọi mãi không phai.
 
Mặt trời đỏ lửa trong câu hát 
Như máu cha ông gửi tháng ngày 
Như giọt thương yêu còn vương mãi 
Trên từng nhánh cỏ biết sum vầy. 

LUẬN ĐIỂM TRIẾT HỌC HỘI HỌA. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

Hội họa, từ thuở khởi nguyên, không chỉ là hành vi ghi dấu hình ảnh mà còn là một phương thức vận dụng tư duy. Mỗi đường nét, mỗi sắc độ đều là một mệnh đề triết học, một cách con người đối thoại với thế giới và với chính mình.
Khi khảo sát những luận điểm của hội họa, ta không chỉ tìm hiểu lịch sử của các trường phái, mà còn đi sâu vào cấu trúc tư duy thẩm mỹ của nhân loại qua từng thời đại.

HỘI HỌA ĐƯƠNG ĐẠI MỘT NGỮ CẢNH, TRẢI NGHIỆM NHÂN LỌA. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

Hội họa không chỉ là nghệ thuật của hình ảnh mà còn là nghệ thuật của tư tưởng. Mỗi thời đại, mỗi nền văn minh đều kiến tạo cho mình một hệ luận điểm riêng về hội họa, phản ánh cách họ hiểu thế giới và hiểu chính mình.
Từ thời cổ đại, hội họa được xem như một phương tiện mô phỏng. Nhưng khi nhân loại bước vào thời kỳ hiện đại,

NỀN TẢNG TRIẾT HỌC HỘI HỌA. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

Họa Phẩm Huỳnh Tâm
- Hội họa như một hệ thống luận điểm của nhân loại.
- Bản thể của hình ảnh và sự hình thành cái nhìn.
- Hội họa như ngôn ngữ: Ký hiệu, biểu tượng và cấu-trúc.
- Tính vật chất và tính phi vật chất của hội họa.
* Lịch Sử Tư Tưởng Hội Họa Đông Tây.
- Hội họa phương Đông: Khí vận, tâm pháp và mỹ học của khoảng trống.

HỘI HỌA NHƯ MỘT HỆ THỐNG LUẬN ĐIỂM CỦA NHÂN LOẠI. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

- Hội họa như một hình thức tư duy.
Hội họa không chỉ là hành vi tạo hình mà là một cách con người suy nghĩ về thế giới. Mỗi đường nét là một mệnh đề. Mỗi sắc độ là một luận điểm. Mỗi bố cục là một cấu trúc tư duy. Khi khảo sát hội họa, ta đang khảo sát cách con người kiến tạo thế giới bằng hình ảnh.
- Hình ảnh như một bản thể triết học.

HỘI HỌA LÀ MỘT NGÔN NGỮ: KÝ HIỆU, Ý HIỆU, BIỂU TƯỢNG VÀ CẤU TRÚC. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

                             Họa Phẩm Huỳnh Tâm
Nếu ngôn ngữ là hệ thống ký hiệu của tư duy khái niệm, thì hội họa là hệ thống ký hiệu của tư duy trực giác. Con người không chỉ nói bằng lời mà còn nói bằng hình ảnh. Một bức tranh, dù không có chữ, vẫn có thể diễn đạt những tầng nghĩa mà ngôn từ không thể chạm tới. Vì thế, để hiểu hội họa, ta phải hiểu nó như một ngôn ngữ một hệ thống biểu đạt có cấu trúc, có quy luật, có khả năng tạo nghĩa.

TÍNH VẬT CHẤT VÀ TÍNH PHI VẬT CHẤT CỦA HỘI HỌA. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

Họa Phẩm Huỳnh Tâm
Hội họa, từ thuở khởi nguyên, luôn đứng giữa hai cực: Vật chất và phi vật chất. Một bức tranh là vật thể có màu, có chất liệu, có bề mặt. Nhưng đồng thời, nó cũng là phi vật thể có tinh thần, có ý niệm, có cảm xúc. Hai cực này không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau, tạo nên bản chất kép của hội họa.
Để hiểu hội họa, ta phải hiểu sự căng kéo giữa vật chất và phi vật chất, giữa cái hữu hình và cái vô hình, giữa chất liệu và tinh thần.

HỘI HỌA PHƯƠNG ĐÔNG: KHÍ VẬN, TÂM PHÁP VÀ MỸ HỌC CỦA KHOẢNG TRỐNG. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

Hội họa phương Đông không chỉ là nghệ thuật của hình ảnh mà là nghệ thuật của tinh thần. Nó không tìm cách mô phỏng thế giới mà tìm cách nắm bắt khí vận của thế giới. Không tìm cách tái hiện hình thể mà tìm cách biểu đạt tâm pháp của người vẽ. Không tìm cách lấp đầy bề mặt mà tìm cách mở ra khoảng trống nơi vô hạn và hữu hạn gặp nhau.

HỘI HỌA PHƯƠNG TÂY: HÌNH THỂ ÁNH SÁNG VÀ CẤU TRÚC LÝ TÍNH. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

Họa Phẩm Huỳnh Tâm
Hội họa phương Tây, từ Hy Lạp cổ đại đến thời hiện đại, luôn đặt trọng tâm vào hình thể, ánh sángcấu trúc lý tính. Nếu phương Đông tìm kiếm tinh thần trong hình ảnh, thì phương Tây tìm kiếm trật tự của thế giới trong hình ảnh. Nếu phương Đông xem thiên nhiên như dòng chảy vô tận, thì phương Tây xem thiên nhiên như cấu trúc có thể phân tích.

ĐÔNG-TÂY GIAO THOA THỊ GIÁC HỘI HỌA HÌNH THÀNH MỸ HỌC TOÀN CẦU. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

Họa Phẩm Huỳnh Tâm
Lịch sử hội họa không phải là hai dòng chảy tách biệt Đông và Tây mà là một mạng lưới giao thoa liên tục. Từ thế kỷ 19 trở đi, sự tiếp xúc giữa hai nền văn minh đã tạo ra những biến động sâu sắc trong tư duy nghệ thuật. Phương Tây học từ sự tối giản, khí vận và khoảng trống của phương Đông. Phương Đông học từ ánh sáng, hình thể và cấu trúc lý tính của phương Tây.

CẤU TRÚC HIỆN ĐẠI HỘI HỌA VỚI SỰ NỔI LÊN CỦA CHỦ THỂ. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

Thời hiện đại không chỉ là một giai đoạn lịch sử mà là một cuộc cách mạng trong tư duy. Nó phá vỡ những hệ hình đã tồn tại hàng thế kỷ: Hình thể lý tưởng, ánh sáng thiêng liêng, phối cảnh tuyến tính, trật tự của lý tính.
Hội họa hiện đại không còn tìm cách mô phỏng thế giới mà tìm cách giải cấu trúc thế giới. Không còn tìm cách tái hiện cái nhìn mà tìm cách phê phán cái nhìn.

SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT TRONG Ý NIỆM HỘI HỌA. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

Nếu hiện đại là cuộc cách mạng phá vỡ hình thức, thì đương đại là cuộc cách mạng phá vỡ chính khái niệm nghệ thuật.
Trong thời đương đại, hội họa không còn là bề mặt toan, không còn là màu sắc, không còn là hình ảnh. Nó trở thành một tư duy, một hành động, một trải nghiệm, một ngữ cảnh.
Đương đại không hỏi: "Bức tranh vẽ gì" mà hỏi:

SỰ TAN RÃ CỦA HỌA PHẨM VÀ NHỮNG HÌNH THỨC HỘI HỌA MỚI. * Họa Sĩ Huỳnh Tâm.

Điêu Khắc Gia Phạm Văn Hạng và Huỳnh Tâm.


Trong suốt nhiều thế kỷ, bức tranh là biểu tượng của hội họa. Nó là nơi hình ảnh cư trú, nơi tư duy thị giác được định hình, nơi nghệ sĩ đối thoại với thế giới. Nhưng từ thế kỷ 20 trở đi, bức tranh bắt đầu tan rã không phải theo nghĩa vật lý, mà theo nghĩa triết học.