Cuối cùng, dù có đùa giỡn đến mấy, Kim Dung cũng phải cho nhân vật Vi Tiểu Bảo của mình trốn ra đi cùng bảy mụ vợ hương trời sắc nước Tô Thuyên, A Kha, Mộc Kiếm Bình, Phương Di, Tăng Nhu, Song Nhi và Kiến Ninh công chúa. Trước đây, họ đã về Dương Châu, bà Vi Xuân Phương nhìn đàn dâu tươi tốt, thầm khen con tinh đời; nếu gã lập nên một viện thì toàn thể các viện ở Dương Châu sẽ sụp tiệm. Nay, chắc Vi Tiểu Bảo không dám về Dương Châu vì sợ vua Khang Hy truy nã. Ngay đến trùm cười Kim Dung cũng chẳng biết nhân vật của mình trốn đi đâu. Viết truyện cười như vậy quả thế gian đệnhất, bọn hậu sinh ở Tuổi trẻ Cười xin ngả nón kính chào cụ. Ba trăm năm đã trôi qua, tất nhiên cũng chẳng nắm rõ hậu duệ của Vi Tiểu Bảo. Thế nhưng, ở đâu có bia ôm, động điếm; ở đâu có tham nhũng, có dùng tiền để mua chuộc kẻ dưới; ở đâu có chửi tục “con mẹ nó, tổ bà mười tám đời quân rùa đen, phường chó đẻ”; ở đâu có nịnh bợ; ở đâu có kẻ thú nhận “chữ nghĩa biết ta nhưng ta chẳng biết nó” thì ở đó có tinh thần Vi Tiểu Bảo được lưu truyền.
KIM DUNG GIỮA ĐỜI TÔI * Tập 1 * Vũ Đức Sao Biển
MỤC LỤC:
1. Khái quát phong cách xây dựng
nhân v2. Võ công
3.
Rư
4.
Âm nhạc
5.
Hoa
6.
Y học
7.
Tình yêu
8.
Tình dục
9.
Chất hài
10.
Ghen
11.
Chất thơ
12.
Ngôn ngữ bình dân
13.
Số phận những bộ sách
14.
“Thời trang”
15.
Những nhân vật quái dị
16.
Nghề kỹ nữ
17.
Con trâu
18.
Người Tây dương
19.
Kỹ thuật
20.
Thức ăn Trung Hoa
21.
Tinh thần Phật giáo
22.
Libido
23.
Nghệ thuật tiểu thuyết của Kim Dung
24.
Kim Dung đặt lại mấy vấn đề lịch sử
25.
Kim Dung và ngôn ngữ xã hội hóa
26.
Hồn tính lãng mạn phương Đông
27.
Những ông thần si tình
28.
"Thiên ngoại hữu thiên"
29.
Vạn sự giai không
30.
Chữ Xuân
31.
Kiếm luận
32.
Đao luận
33.
Cành mai trên Thiên Sơn
34.
Thư pháp và Võ công
35.Suy
niệm ký tiểu hữu
36.
Tiếu ngạo giang hồ
37.
Những suy niệm siêu hình học
38.
Sự suy tàn của chủ nghĩa bạo lực
39.
Thanh kiếm và Cây đàn
40.
Huyền thoại Thủ cung sa
41.
Bọn hào sĩ giang hồ ăn Tết
42.
Bọn hào sĩ giang hồ tiếp thị
43.
Hàng giả tống Vân Nam
44.
Bức giác thư giã từ thế kỷ
45.
Hành trình qua thống khổ
46.
Đêm phương Nam đọc lại Ỷ thiên Đồ long ký
47.
Sử kiếm ý, bất sử kiếm chiêu
48.
Kiều Phong - Khát vọng của tự do
49.
Khóc lên hỡi Nghi Lâm!
50.
Vi Tiểu Bảo ở đâu?
Khái quát phong cách xây
dựng nhân vật
Trong những năm trước
1975 tại miền Nam người đọc xem Kim Dung tiên sinh, tiểu thuyết gia Hongkong,
là một nhà văn lớn. Những tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp của ông, được đăng báo
dưới dạng feuilleton hoặc in thành sách, đã hấp dẫn hàng triệu người đọc Việt
Nam. Văn của ông đã được truyển trạch để đưa vào giáo trình văn cấp trung học
và đại học tại Đài Loan, Hongkong và Hoa Lục. Và ngay trong lòng nước Mỹ, người
Hoa đã lập ra “Kim Dung học hội”, chuyên nghiên cứu, giới thiệu và dịch những
tác phẩm của ông ra tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha...
Điều mà người ta dễ nhận
ra nhất là bút lực của Kim Dung rất hùng hậu. Mỗi tác phẩm là một bộ (thường
trên 10 quyển, trung bình khỏang 500, 600 trang một quyển). Chúng tôi chỉ xin
giới thiệu đầu tiên một khía cạnh trong kỹ thuật tiểu thuyết của ông: phong
cách xây dựng nhân vật.
Trước năm 1975, sách Kim
Dung được in gồm: 1. Thư kiếm ân cừu lục 2. Bích huyết kiếm 3. Xạ điêu
anh hùng truyện 4. Thần điêu hiệp lữ 5. Tuyết Sơn phi hồ 6. Phi hồ ngoại truyện
(Lãnh nguyệt bảo đao) 7. Ỷ thiên Đồ long ký 8. Liên thành quyết (Tố tâm kiếm)
9. Thiên Long bát bộ (Lục mạch thần kiếm truyện) 10. Hiệp khách hành 11. Tiếu
ngạo giang hồ 12. Lộc Đỉnh ký Một điều cần lưu ý là nếu chúng ta phân
biệt rõ 4 khái niệm: Truyện (tiểu thuyết hoàn toàn hư cấu), Ký (tác phẩm văn
xuôi viết về người thật, việc thật) và Lục (cuốn sách) thì Kim Dung sử dụng 3
khái niệm đó với một ý nghĩa duy nhất để chỉ các bộ tiều thuyết võ hiệp của
ông. Khuynh hướng của Kim Dung là thường đặt những cuốn tiểu thuyết của mình
vào những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của Trung Quốc.
Bộ Thiên Long bát bộ được đặt và khung cảnh lịch
sử triều Tống (1127-1279) với sự tương tranh, tương giao của 6 thế lực phong kiến:
Tống, Đại Lý, Khiết Đan (Liêu), Tây Hạ, Thổ Phồn và Yên (Tiên Ti, đã suy tàn).
Bộ Lộc Đỉnh ký được đặt
vào khung cảnh lịch sử triều Khang Hy (1662-1722) nhà Thanh, khi mà các thế lực
chống Thanh như Đường Vương, Quế Vương, Lỗ Vương và Thiên Địa hội hoạt động mạnh...
Chính vì thế, trong tiểu thuyết của ông, có những nhân vật lịch sử như Triệu Hú
(Tống Triết Tông), Gia Luật Hồng Cơ (hoàng đế Đại Liêu), Đoàn Chính Minh (hoàng
đế Đại Lý), Khang Hy (hoàng đế Thanh), Trần Vĩnh Hoa (Trần Cận Nam, tổng đường
chủ Thiên Địa hội)... Bên cạnh đó là nhưng nhân vật thuần túy hư cấu, thường là
nhân vật chính của tiều thuyết... Trong Thiên Long bát bộ, đó là Kiều Phong,
Đoàn Dự, Hư Trúc, Du Thản Chi, Đinh Xuân Thu...Trong Lộc Đỉnh ký, đó là Vi Tiểu
Bảo. Những nhân vật tiểu thuyết của ông kết hợp với nhân vật lịch sử tạo thành
một phong cách tiều thuyết hư hư, thực thực. Phong cách này khá đậm nét khi ông
xây dựng cặp nhân vật Khang Hy - Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh ký. Từ 1 thằng bé
lưu manh trong động điếm Lệ Xuân viện thành Dương Châu, Vi Tiểu Bảo đã bị hoàn
cảnh đẩy đưa lên Bắc Kinh giả làm thái giám rồi thân cận với vua Khang Hy, gia
nhập Thiên Địa hội làm một thứ gián điệp hai mang, trở thành công tước triều
Thanh, nhận nhiệm vụ ký hoà ước lịch sử Hắc Long giang 1684 với Phí Diêu Đa La
(Féodore) của Nga Ta Lư! Tác giả có ghi chú rõ về chuyện hư cấu của mình nhưng
điều ấy vẫn không làm giảm đi sự thú vị trong lòng người đọc. Một cách khái
quát, nhân vật trong tiểu thuyết Kim Dung thường được chi làm 2 tuyến: chính
phái (hay bạch đạo) và tà phái (hay hắc đạo). Tuy nhiên, trong tác phẩm Kim
Dung không hề rơi vào chủ nghĩa công thức: những kẻ mà ông xếp vào hàng tà thường
là những chính nhân quân tử, những kẻ mà ông giới thiệu như là chính nhân quân
tử là là kẻ chẳng ra gì. Bất kỳ người Trung Quốc nào cũng gọi Minh giáo (tức
Bái hỏa giáo) từ Ba Tư truyền sang là tà đạo. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Kim
Dung đã chứng minh ngược lại: Minh giáo là một chính giáo, nồng nàn tình cảm
yêu nước, xả thân để cứu trăm họ ra khỏi ách thống trị của Mông Cổ. Những
Trương Vô Kỵ, Dương Tiêu, Vi Nhất Tiếu, Phạm Dao, Hân Thiên Chính... là những
con người quang minh lỗi lạc, hành sự trong sáng, sống rất người. Và chính
nghĩa thuộc về họ, chứ không phải thuộc về nhân vật Chu Nguyên Chương, vốn đầy
thủ đoạn chính trị, đã cướp công Minh giáo để lên ngôi mở ra nhà Minh. Còn có
ai đẹp hơn Quân tử kiếm Nhạc Bất Quần, chưởng môn phái Hoa Sơn trong Tiếu ngạo
giang hồ? Thế nhưng từ cuốn 9 trở đi, Nhạc Bất Quần dần dần hiện nguyên hình là
một kẻ độc ác; dùng con gái làm bậc thang để leo lên, giết cả rể, lừa vợ, giết
học trò, quyết chiếm được ngôi MInh chủ Ngũ Nhạc phái, tự thiến để trở thành kẻ
lại cái. Nguỵ quân tử vẫn nguy hiểm hơn chân tiểu nhân! Những nhân vật chính
trong tác phẩm của Kim Dung thường là những con người bao dung, đôn hậu, không
hủ nho, câu nệ, không làm bộ làm tịch. Đó là Kiều Phong tự tử ngoài Nhạn Môn
quan để mưu cầu hòa bình cho trăm họ Tống - Liêu. Đó là tiểu anh hùng Hồ Phỉ
(Phi hồ ngoại truyện) tìm ra kẻ thủ giết cha mà vẫn không xuống tay hạ sát. Đó
là Quách Tĩnh (Xạ điêu anh hùng truyện) liều chết để giữ thành Tương Dương, là
Thạch Phá Thiên chỉ biết sống thuần phác khôn hề hại ai... Họ chính là mẫu “người
hùng” lý tưởng theo nhận thức đạo đức Trung Hoa. Chúng ta không nắm rõ lắm về
thân thế Kim Dung. Nhưng truyện của ông thường dành tình cảm cho những con người
xuất thân rất tầm thường, những đứa bé mồ côi không cha mẹ hoặc không biết ai
là cha mẹ. Lệnh Hồ Xung, Hồ Phỉ, Thạch Phá Thiên, Trương Vô Kỵ, Dương Qua...là
những chàng trai, những cậu bé như vậy. Đời đã dạy họ cách sống và vốn sống. Và
họ đã thành người, những con người rất trung thực, đạo đức. Kim Dung đặt tên
cho những nhân vật mình rất hay. Có những nhân vật mà cái tên biểu hiện đầy đủ
tính cách của mình: Nhậm Ngã Hành (chỉ làm theo ý mình), Nhạc Bất Quần (không
chơi với ai) nhưng lại có rất nhiều bạn bè. Thông thường, trước mỗi tên nhân vật,
tác giả đặt cho một ngoại hiệu. Điều thú vị là loại nhân vật càng xoàng xĩnh
thì ngoại hiệu càng “kêu”: Đoạn ngạc tam quyền, Đoạt mệnh tam quyền, Nhất kiếm
chấn Thiên Nam...Nhân vật có ngoại hiệu dài nhất là Giang dương đại đạo vạn lý
độc hành thái hoa dâm tặc khoái đao Điền Bá Quang (tướng cướp đường sông biển,
tên dâm tặc chuyên hãm hiếp phụ nữ, ngàn dặm đi một mình, đánh đao rất nhanh)
và Đả biến thiên hạ vô địch thủ kim diện Phật Miêu Nhân Phượng (đánh khắp thiên
hạ không ai địch nổi, Phật mặt vàng). Có ngoại hiệu làm cho người đọc nhận lầm
là 3 nhân vật khác nhau như Côn Lôn tam thánh Hà Túc Đạo (Ỷ thiên Đồ long ký).
Thực sự, “tam thánh” là lời người đời xưng tụng Hà Túc Đạo cầm thánh, kỳ thánh,
kiếm thánh chứ không phải là “3 ông thánh”. Có những nhân vật thoạt đọc ngoại
hiệu cứ tưởng là một người hoá ra 2 như Hoàng Hà Lão Tổ (Lão Đầu Tử và Tổ Thiên
Thu sống trên sông Hoàng Hà - Tiếu ngạo giang hồ). Những nhân vật chính, siêu
việt thuờng không có ngoại hiệu hoặc ngoại hiệu rất ngắn : Kiều Phong, Hư Trúc,
Đoàn Dự, Bắc cái Hồng Thất... Ngay cách đặt tên nhân vật cũng đã nói lên tài
năng của Kim Dung. Đây cũng là chỗ giúp người đọc phân biệt truyệt thật của Kim
Dung và những nguỵ tác. Truyện của Kim Dung thường có những nhân vật quái dị, mỗi
nhân vật mang một phong cách riêng, không giống ai. Đó là Tiêu Tương dạ vũ Mạc
Đại tiên sinh (Tiếu ngạo giang hồ), chưởng môn phái Hành Sơn, vẫn ăn mặc rách
rưới, giấu thanh kiếm mỏng như lá lúa trong cây đàn; là Đoàn Dự, Du Thản Chi
(Thiên Long bát bộ) suốt đời si tình, chạy theo nhan sắc; là Vi Tiểu Bảo (Lộc Đỉnh
ký) lưu manh nhưng chẳng bao giờ cần che giấu tính lưu manh... Loại nhân vật
này tiêu biểu cho quan điểm “hoà nhi bất đồng” (có hòa mình vẫn không giống được)
của Nho giáo. Những nhân vật của ông sống với cả tính cách, đặc điểm của mình.
Họ có thể sống rất tốt, cũng có thể rất xấu những mỗi con người như vậy - dù chỉ
xuất hiện trong một đọan ngắn ngủi - vẫn để lại những ấn tượng sâu đậm trong
lòng người đọc. Điều ấy đã bao nhiều nhà văn làm được. Kim Dung sử dụng phong
cách xây dựng nhân vật như một cách đánh lừa độc giả và gây cho độc giả sự thú
vị khi được “bị lừa” như vậy. Mở đầu Tiếu ngạo giang hồ là hình ảnh tốt đẹp của
Lâm Bình Chi. Sau đó, Lâm Bình Chi bị lâm nạn nhà tan, người chết, phải lưu lạc
tha hương. Ai cũng nghĩ Lâm Bình Chi là nhân vật trung tâm, con người chính
nhân quân tử. Nhưng không! Đọc hết bộ sách chúng ta mới thấy cái rởm đời của
Lâm Bình Chi, cái chân thật của Lệnh Hồ Xung. Hạnh phúc thuộc về những con người
chân thật. Đọc Hiệp khách hành, ta cứ ngỡ Thạch Phá Thiên là một tên tiểu ma đầu
tàn bạo, dâm ác, lừa lọc. Nhưng không, cậu chỉ có một cái tội: giống hệt người
anh ruột tàn ác, dâm đãng Thạch Trung Ngọc. Chỉ có đôi mắt trẻ thơ của A Tú mới
nhìn ra được chỗ khác biệt tốt đẹp đó, điều mà tất cả mọi người lớn không nhìn
ra. Và cuối cùng, Thách Phá Thiên đã tìm ra được pho võ công thượng thặng ẩn
trong bài thơ Hiệp khách hành của Thi tiên Lý Bạch, không phải do nghiên cứu được
ý nghĩa của bài hành, mà nhờ chỉ nhìn nét viết (vì cậu không biết chữ). Kim
Dung muốn chứng mình một điều: cái chân thật, cái dốt nát vẫn thắng được cái cơ
tâm, cái hiểu biết rộng rãi nhất. Ai không thú vị với những định đề như vậy? Sẽ
rất thiếu sót nếu như chúng ta bỏ quên những nhân vật nữ trong tác phẩm Kim
Dung. Tuy mang danh là truyện võ hiệp nhưng tác phẩm Kim Dung thực chất là những
tiều thuyết về tình yêu đôi lứa. Các nhân vật nữ của ông xuất thân trong xã hội
phong kiến nhưng sống và yêu rất lãng mạn - tất nhiên trong sự cho phép của lễ
giáo Trung Hoa. Đó là nhưng con người biết yêu say đắm và biết xả thân vì người
yêu: Nhậm Doanh Doanh - Lệnh Hồ Xung (Tiếu ngạo giang hồ), Triệu Mẫn – Trương
Vô Kỵ (Ỷ thiên Đồ long ký), Viên Tử Y - Hồ Phỉ (Lãnh nguyệt bảo đao), A Tú - Thạch
Phá Thiên (Hiệp khách hành), A Châu - Kiều Phong (Thiên Long bát bộ). Tuy nhiên
trong mọi tình huống, họ vẫn giữ được tiết sạch giá trong của người phụ nữ
phương Đông. Nói như vậy, không có nghĩa là Kim Dung vẫn giữ nhân vật nữ của
mình bo bo trong vòng tư duy cổ điển của lễ giáo Trung Hoa. Không, ông đã tạo
ra những tình huống có vấn đề: Kỷ Hiểu Phù đã hứa hôn với Hân Lợi Hanh nhưng lại
thất thân với Dương Tiêu, sinh ra đứa con gái và đặt tên là Bất Hối (không hối
hận) (Ỷ thiên Đồ long ký). Tiểu Long Nữ là sư phụ, đã bị kẻ khác cưỡng dâm
nhưng vẫn yêu say đắm đồ đệ của mình là Dương Qua (Thiền điêu hiệp lữ). Những
nhân vật nữ của ông biết đánh kiếm, đánh chưởng, ám khí, ghen tuông, giận hờn,
đau xót vì chia ly. Họ có một vẻ đẹp riêng từ ngoại hình đến tâm hồn, rất lý tưởng,
nhưng cũng rất thật. Cũng có thể nói Kim Dung là nhà văn lớn phương Đông thế kỷ
XX. Về mặt trước tác, tác phẩm của ông đồ sộ hơn bất cứ nhà văn nào khác. Bút
pháp của ông lôi cuốn, hấp dẫn người đọc một cách lạ lùng. Và hệ thống kiến thức
của ông từ y học đến địa lý, lịch sử, võ thuật, tâm lý, bệnh học, tôn giáo...
hoàn chỉnh một cách vô song. Tiếc thay một nhà văn như vậy là chưa có tên trong
những nhà văn được nhận giải Nobel văn học. Nhưng dù gì đi nữa, những nhà văn
khác cũng đã học tập được từ Kim Dung nhiều kinh nghiệm tiểu thuyết. Ông xứng
đáng là nhà văn bậc thầy của những bậc thầy trong thế kỷ chúng ta.
Võ công
Các nhân vật trong tác phẩm
của Kim Dung hợp lại thành một giới - giới võ lâm – và đương nhiên, sinh hoạt của
họ là sự thể hiện võ công để giết người, mưu đồ địa vị quyền lực; võ công để cứu
người, trừ gian diệt bạo, biểu dương cái lẽ công bằng ở đời. Nói đến những nhân
vật của Kim Dung, không thể không nói đến võ công. Một cách khái quát, Kim Dung
đã đặt vào cho những nhân vật của mình những loại hình võ công (hay công phu,
kungfu) mà họ cần phải có. Các loại hình võ công bao gồm chưởng pháp (phép đánh
bằng tay), quyền pháp (phép đánh bằng nắm tay), chỉ pháp (phép đánh bằng ngón
tay), cầm nã thủ pháp (phép đánh bằng câu, bắt, móc, giật) trảo pháp (phép chụp
bằng ngón tay), cước pháp (phép đá), bộ pháp (phép di chuyển), khinh công (phép
đi nhanh). Nếu các nhân vật của ông chuyên sử dụng vũ khí thì mỗi loại vũ khí
được kết hợp với một pháp để hình thành võ công riêng cho họ (đao pháp, thương
pháp, kiếm pháp, trượng pháp, côn pháp... Đối với một số nhân vật đặc biệt, Kim
Dung đã tạo ra cho họ những thứ võ công đặc biệt: thần công Sư tử hống (tiếng rống
của sư tử) của Tạ Tốn (Ỷ thiên Đồ long ký), Hấp tinh đại pháp (phép hút kình lực
và công lực kẻ khác làm công lực và kình lực của mình) của Nhậm Ngã Hành (Tiếu
ngạo giang hồ), Nhiếp hồn đại pháp (phép thôi miên) của Đinh Xuân Thu (Thiên
Long bát bộ)... Kim Dung tạo ra cho nhân vật của mình những hoàn cảnh, những
tình huống để họ thủ đắc võ công. Có những nhân vật không chịu học võ, suốt
ngày chỉ lo học sách thành hiền, học kinh Phật như vương tử Đại Lý Đoàn Dự hay
như nhà sư trẻ Hư Trúc cùng bị đẩy đưa vào hoàn cảnh phải học võ công để tự cứu
mình và cứu người, trở thành bậc thượng thừa. Có kẻ say mê võ công, đi tìm suốt
đời mà chẳng thấy. Con đường mà Kim Dung dẫn dắt những nhân vật trung tâm của
mình đến với các thứ võ công không khỏi khiến cho người đọc cười thầm. Nhân vật
của Kim Dung thể hiện võ công qua kình lực. Đứng trên quan điểm triết học Trung
Hoa, ông chia kình lực ra làm hai loại: dương cương và âm nhu. Dương cương là
loại kình lực mãnh liệt, khi xuất chiêu phát ra tiếng động. Âm nhu là kình lực
mềm mại, khi xuất chiêu không phát ra tiếng động. Hai loại kình lực đó loại nào
cũng có thể giết người, làm tan bia vỡ đá! Ông lấy Nhu chế Cương, lấy Cương chế
Nhu. Kẻ thắng cuộc là kẻ có công lực cao hơn. Căn cứ vào võ học Trung Hoa, Kim
Dung để cho các nhân vật của mình thi triển võ công theo hai cách: trực tiếp và
gián tiếp. trong cách đánh trực tiếp; chưởng, trảo, chỉ, quyền... phải đụng đến
người địch thủ. trong cách đánh gián tiếp; chưởng, trảo, chỉ, quyền... không đụng
đến người địch thủ, Kim Dung gọi đó là cách không. Cách không điểm huyệt chỉ
pháp của Kiều Phong, Lục mạch thần kiếm của Đoàn Dự, Thất thương quyền của Tạ Tốn...
đều có cái khả năng cách không này. Đặc biệt Kim Dung có đề cập đến Cách sơn đả
ngưu thần công (thần công đánh con trâu cách trái núi). Trong Thiên Long bát bộ,
ông đã để cho quốc sư nước Thổ Phồn dùng Tiểu Tu ni chưởng đánh vào đỉnh đồng
bên này, đỉnh đồng không phát ra tiếng động và vẫn lành lặn nhưng phía bên kia
lại lủng. Cách diễn tả như vậy nghe hơi phi khoa học nhưng lại làm thoả mãn trí
tưởng tượng vốn phong phú của con người. Kim Dung đặt tên cho các loại võ công
rất độc đáo và riêng trong khía cạnh này, ông cũng đã tự chứng mình được trình
độ viết tiểu thuyết của mình. Một là – võ công thường gắn liều với nguồn gốc xuất
thân. Thí dụ các nhà sư xuất thân từ phái Thiếu Lâm thì phải biết sử La Hán quyền,
Niêm hoa chỉ, Thiếu Lâm trường quyền, Di Đà chưởng, Giáng ma trượng... Ai xuất
thân từ đạo gia Võ Đang thì có Thái cực quyền, Võ Đang miên chưởng. Hư Trúc học
được võ công của phái Thiên Sơn thì võ công đó được gọi là Thiên Sơn lục dương
chưởng, Thiên Sơn lục dương chỉ, Thiên Sơn chiết mai thủ... Hai là – tên của võ
công thường gắn liền với những chiêu thức, đòn thế của môn võ công ấy. Trong
tinh thần này, người đọc tìm thấy Hàng long thập bát chưởng (18 chưởng hạ rồng),
Liên hoàn thập tam cước (13 thế đá liền nhau), Độc Cô cửu kiếm (9 thế kiếm của
Độc Cô Cầu Bại). Ba là – tên của môn võ công thường gắn liền với sinh hoạt, đặc
điểm của động vật. Trong tinh thần này, ta thường gặp trong tác phẩm của Kim
Dung những Xà quyền (rắn), Đại Thánh quyền (khỉ), Áp hình công (vịt), Hàm mô
công (ếch), Ưng trảo công (chim ưng), Kê trảo công (gà). Ngay cả đến con rồng -
một động vật trong linh thoại cổ Trung Hoa – cũng có công phu: Long trảo công.
Bốn là – tên của võ công gắn liền với tính chất, hậu quả khi sử dụng võ công
đó. Trong tinh thần này, ta thường gặp Tam tiếu tiêu dao tán (thuốc bột làm người
ta cười 3 lần trước khi chết), Thất thương quyền (loại quyền pháp muốn luyện được
phải bị 7 thứ nội thương trong phủ tạng), Hoá thi phấn (loại thuốc bột làm tan
xác chết ra nước)... Kim Dung có một bề dày kiến thức về y học cổ Trung Hoa. Một
cố nhân vật của ông thường vừa giỏi võ công, vừa tinh thâm y thuật, phối hợp y
thuật với võ công hoặc để cứu người, hoặc để chế ngự người. Trong Tiếu ngạo
giang hồ, ta bắt gặp nhân vật Sát nhân danh y Bình Nhứt Chỉ, cứu người chỉ cần
một ngón tay và giết người cũng chỉ cần một ngón tay. Trong Ỷ thiên Đồ long ký,
ta gặp Điệp cốc y tiên Hồ Thanh Ngưu và sau đó là Trương Vô Kỵ, giỏi về chữa
thương, phục hồi kỳ kinh bát mạch. Thuốc độc và phóng độc cũng là một loại võ
công. Trong Tiếu ngạo giang hồ, ta gặp Lam Phượng Hoàng, giáo chủ Ngũ độc giáo
Vân Nam. Trong Phi hồ ngoại truyện, ta gặp Độc thủ dược vương chuyên đánh thuốc
độc. Cũng theo Kim Dung, âm nhạc cũng là một dạng võ công có thể chế ngự địch
thủ. Một số nhân vật của ông như Côn Lôn tam thánh Hà Túc Đạo (Ỷ thiên Đồ long
ký), Cầm điên Khang Quảng Lăng (Thiên Long bát bộ), Nhậm Doanh Doanh và Lưu
Chính Phong (Tiếu ngạo giang hồ)... đã dùng tiếng đàn, tiếng sáo, hoặc để chữa
thương, hoặc để khắc chế địch thủ. Đoạn cảm động nhất là đoạn Doanh Doanh đàn
khúc Thanh tâm phổ thiện trú để xoa dịu thần kinh cho Lệnh Hồ Xung khi chàng
trai này bị trọng thương. Viết về võ công nên kiến thức võ học của Kim Dung rất
uyên bác. Ông Yên Thị Đồ Cẩu Khách trên tờ Tân Họa báo cho biết rằng Kim Dung
thường tham khảo ý kiến của các võ sư về đòn thế, về cách xuất chiêu, nhả kình
lực của từng thế võ. Ông dung hợp võ công với y học Trung Hoa, tạo cho người đọc
sự thú vị tuyệt vời, điều mà những tác giả truyện võ hiệp khác chưa làm được. Đặc
biệt, khi viết về những võ công của các bang hội, giáo phái khác ngoài lãnh thổ
Trung Quốc, kiến thức võ học của ông đã được thực hiện rất tinh tường. Đại thi
hào Ba Tư Omar Khayan đã ghi nhận võ công Bái hỏa giáo (Minh giáo) Ba Tư được
ghi lại trên 8 tấm thẻ Thánh hỏa lệnh và tâm pháp thì được ghi lại trên những tấm
da dê. Kim Dung nghiên cứu đoạn kinh mở đầu của Bái hỏa giáo Ba Tư, đã dung hợp
ý kiến của Omar Khayan để xây dựng nên những đoạn mô tả về sinh hoạt của Minh
giáo Trung Hoa (Ỷ thiên Đồ long ký). Một điều cần chú ý là Kim Dung không lạm dụng
khuynh hướng đa sát trong tiểu thuyết võ hiệp, điều mà ta thường gặp trong các
loại phim cao bồi Viễn Tây (Mỹ) và phim chưởng Hongkong cũng như ở một số tiểu
thuyết gia khác viết truyện võ hiệp. Trong 12 bộ tiểu thuyết, Kim Dung có mô tả
2 trận đa sát: một là đoạn Kiều Phong bị quần hùng Trung Nguyên vây hãm ở Tụ hiền
trang (Thiên Long bát bộ), hai là đoạn phái Tung Sơn bịt mặt giả làm người của
Ma giáo vây hãm phái Hằng Sơn ở Long Tuyền (Tiếu ngạo giang hồ). Chữ Nhân của đạo
Khổng đã được ông tôn trọng một cách hết sức nghiêm túc đúng như quan niệm của
Khổng Tử: “Nhân giả nhân dã” (Đạo nhân là đạo của con người vây). Đọc văn của
ông, người ta chỉ thấy cái thiện chế ngự cái ác, cái chính nghĩa thắng cái gian
tà và tinh thần nhân đạo được đề cao triệt để. Những nhân vật bình thường nhất
cũng biết tha thứ cho kẻ thù, cũng nói được “Oán thù nên giải chứ không nên kết”
hoặc “Hồi đầu thị ngạn” (Quay đầu là bờ)... Và họ đã tha thứ cho nhau. Những
nhân vật ma đầu, đầy mình tội lỗi như Đinh Xuân Thu, Du Thản Chi, Lâm Bình Chi,
Thạch Trung Ngọc,... cuối cùng rồi cũng chỉ bị phế võ công, đưa cho những người
nhân hậu quản chế để khỏi đi gieo rắc cái ác. Không có ai bị giết, bị hành hạ,
bị trả thù đau đớn. Tất cả nỗ lực của Kim Dung nhằm mình họa một nguyên tắc lớn:
chữ Võ không bằng chữ Hiệp. Các nhân vật chính phái của ông hành hiệp cứu đời,
xả thân vì cuộc sống, cứu vớt kẻ trầm luân, đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ
hòa bình hạnh phúc cho trăm họ. Họ không mưu cầu lợi danh, địa vị cho riêng
mình. Đoạn tiêu biểu nhất cho cái Hiệp trong tác phẩm Kim Dung là đoạn Trương
Vô Kỵ, giáo chủ Minh giáo, chỉ huy các lực lượng kháng Nguyên, bị một thuộc tướng
của mình là Chu Nguyên Chương đánh thuốc mê và bắt giam. Chu Nguyên Chương có
tham vọng lên ngôi thống lãnh. Trương Vô Kỵ có thể giết Chu Nguyên Chương chỉ với
một ngón tay, nhưng đã không làm điều đó. Anh đã lặng lẽ bỏ ra đi để được suốt
đời ngồi vẽ lông mày cho người yêu là Triệu Minh. Chu Nguyên Chương kháng chiến
chống quân Nguyên thành công lên ngôi cửu ngũ, mở ra nhà Minh, truyền được 263
năm (1380-1643). Cái mà người ta tìm được trong tác phẩm Kim Dung chính là lòng
nhân ái. Lòng nhân ái đó đặt trên cơ sở của tư tưởng Khồng giáo, Phật giáo, Đạo
giáo phương Đông. Trong khi các nhân vật của ông sử dụng võ công để đánh nhau,
họ vẫn tôn trọng lòng nhân ái mà “hạ thủ lưu tình” (xuống tay nhưng vẫn giữ được
tình người). Hai kẻ thù đánh nhau, đến khi chia tay vẫn có thể nói được lời từ
biệt: “Non xanh trơ đó, nước biếc còn đây, còn ngày gặp gỡ.” Chiêu thức nào có
tên gọi độc ác quá, được đổi tên ngay: Thế Lưỡng bại câu thương (đôi bên cùng
chết) của phái Võ Đang được đổi tên thành Thiên địa đồng thọ (đất trời cùng tồn
tại) và được khuyến khích không đem ra sử dụng. Võ công làm nên tiểu thuyết võ
hiệp nhưng không quyết định nội dung tiểu thuyết võ hiệp. Cái quyết định chính
là chữ Hiệp, đứng sau chữ Võ.
Rượu
Cũng như nhiều dân tộc khác ở vào vùng khí hậu
lạnh, dân tộc trung Hoa thường thích rượu. Khái niệm rượu đã được người xưa kết
hợp với khái niệm lễ, không có rượu không thành lễ nghi (vô tửu bất thành lễ).
Rượu là thức uống kích thích niềm sảng khoái, được dùng trong y dược Trung Hoa
như một chất xúc tác. Thời Tam Hoàng, Ngũ Đế đã có những bài thuốc ngâm rượu,
những cách xông hơi rượu ra đời. Trong những tác phẩm võ hiệp tiêu biểu của Kim
Dung, rượu luôn luôn có mặt, dàn trải khắp cả câu chuyện. Chắc hẳn những bạn đọc
tác phẩm Kim Dung đều đồng ý rằng đoạn tửu luận của Tổ Thiên Thu trong Tiếu ngạo
giang hồ là đoạn gây sảng khoái nhất. Với đoạn văn này, Kim Dung đã nâng nghệ
thuật uống rượu lên thành một thứ đạo: tửu đạo - và với cách diễn đạt tài tình,
dàn cảnh oái ăm, Kim Dung đã thực sự cuốn hút người đọc. Tổ Thiên thu biết được
Lệnh Hồ Xung, người yêu của Thánh cô Nhậm Doanh Doanh, đang bị bệnh mất hết
công lực. Anh ta bèn ăn cắp Tục mệnh bát hoàn (8 viên thuốc duy trì mạng sống)
của một người bạn thân là Lão Đầu Tử, hòa vào rượu để dẫn dụ cho Lệnh Hồ Xung uống.
Nguyên Lão Đầu Tử đã bỏ ra 18 năm để ăn cắp những kỳ trân, dược vật trên thế
gian, chế ra 8 hoàn thuốc thuần âm, chữa trị chứng "Tiên thiên bất
túc" (một dạng suy dinh dưỡng) cho con gái mình là Tiểu Di. Trong khi đó,
bệnh của Lệnh Hồ Xung thuộc trạng thái khí âm hàn. Cho nên, đem thuốc thuần âm
cho kẻ dư khí âm hàn uống khác nào sông Trường Giang nước đã đầy, lại được tháo
nước hồ Bàn Dương, hồ Động Đình đưa vào cho nước thêm đầy lên, hóa ra càng thêm
hại. Tổ Thiên Thu biết Lệnh Hồ Xung là người khảng khái, không chịu uống thuốc
ăn cắp nên y bày đặt ra chuyện tửu luận, kích thích tinh thần Lệnh Hồ Xung.
Theo y, bậc danh sĩ phải biết uống từng thứ rượu với từng thứ chung riêng: rượu
Bồ đào uống chung Dạ quang; rượu Trúc diệp thanh phải uống chén Dương chi bạch
ngọc mà phải Dương chi bạch ngọc đời Bắc Tống; rượu trắng phải uống trong sừng
trâu, lấy mùi tanh của sừng chế ngự mùi men nồng của rượu; rượu Bách thảo mỹ tửu
được chế với 100 thứ hoa cỏ thơm, phải được uống với chung bằng trúc để thơm
hơn...Y nói một hơi 8 thứ rượu và móc trong bọc ra 8 thứ chén, rót rượu vào mời
Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung tức khí, nuốt sạch 8 chén rượu; có chén thum thủm
mùi cá ươn, có chén cay sè, có chén rào rạt như ngàn dao đâm vào cổ họng...Thiện
ý của Tổ Thiên Thu là cứu người, vì hắn dốt nát về y lý hóa ra làm hại người.
Trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung xây dựng nhân vật Lệnh Hồ Xung, đại đệ tử
phái Hoa Sơn, là một chàng du tử lãng mạn, quý rượu hơn tính mạng mình. Đoạn buồn
cười nhất là đoạn Lệnh Hồ Xung xin rượu Hầu nhi tửu của lão ăn xin dưới chân
thành Hành Dương. Lệnh Hồ Xung chỉ xin uống một tợp và lão cũng chỉ đồng ý cho
uống một tợp mà thôi. Nào ngờ, nghe hơi rượu ngon, Lệnh Hồ Xung đã vận hỗn
nguyên khí công uống sạch bầu rượu. Lão ăn xin lăn đùng ra khóc vì tiếc bầu rượu.
Lệnh Hồ Xung đành phải xin lỗi và mời lão vào tửu lâu, đãi lão một chầu tuý luý
càn khôn. Trong khi uống rượu, các nhân vật của Kim Dung thường thể hiện phẩm
cách người đối ẩm với mình. Đoạn uống rượu đẹp nhất và khiến cho người đọc kinh
ngạc nhất là đọan Điền Bá Quang mời rượu Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung bị sư phụ
phạt giam trên đỉnh Ngọc Nữ Phong để ăn năn, sám hối. Biết bạn rất nhớ rượu, Điền
Bá Quang đã vượt 5000 dặm về tới kinh đô Lạc Dương, vào trong Tuý tiên lâu,
hoàng cung của vua Tống, ăn cắp 2 hũ Thiệu Hưng nữ nhi hồng. Thấy trong hầm rượu
của hoàng cung còn đến mấy ngàn hũ Thiệu Hưng, Điền Bá Quang phóng cước đá bể tất
cả để "bọn vua quan không còn được uống thứ rượu quý này nữa", vì
trên đời này "chỉ còn Điền mỗ với Lệnh Hồ huynh đệ mới xứng đáng được uống
nó mà thôi". Tuy nhiên, gánh 2 hũ rượu lên Ngọc Nữ Phong là chuyện dễ, mà
được đối ẩm với Lệnh Hồ Xung là chuyện cực kỳ khó vì Điền Bá Quang vốn rất sợ
sư phụ của Lệnh Hồ Xung là Nhạc Bất Quần. Hắn bèn nghĩ cách điệu hổ ly sơn làm
Nhạc Bất Quần lầm mưu xuống núi đi tìm Điền Bá Quang. Thế là hắn ung dung lên
Ngọc Nữ Phong đối ẩm với Lệnh Hồ Xung. Nhà Nho có câu: "Bậc quân tử lấy
văn kết bạn" (quân tử dĩ văn hội hữu). Kim Dung đã mượn chén rượu cho những
nhân vật võ lâm của mình giao kết với nhau. Trong tình bạn hay trong tình yêu,
chén rượu vẫn làm vai trò của cơ duyên hội ngộ. Đọc Thiên Long bát bộ, ta thấy
cuộc hội ngộ giữa Kiều Phong, bang chúa Cái Bang và Đoàn Dự, vương tử nước Đại
Lý, là cuộc hội ngộ trong hương rượu nồng. Thoát ra khỏi cảnh giam cầm ở Thái Hồ,
Đoàn Dự tìm đến một quán rượu ngoài thành Vô Tích thì bắt gặp: "Một đại
hán mắt sáng như điện, trạc ngoài 30, thân thể cao lớn, mặc áo vải màu tro, phục
sức sơ sài, mộc mạc" đang ngồi độc ẩm. Đoàn Dự nhận định: "Đây chắc
chắn là hào khách của Yên, Triệu; Giang Nam quyết không thể có nhân vật thế
này". Ngoại hình Kiều Phong đã khiến Đoàn Dự kính ngưỡng, bèn mời Kiều
Phong uống rượu. Kiều Phong gọi tất cả 30 cân rượu (khoảng 18 lít) và đề nghị
Đoàn Dự uống bằng bát lớn. Đoàn Dự nào biết uống rượu? Cho nên uống xong bát đầu
tiên, anh đã muốn gục xuống tại chỗ; Kiều Phong chỉ nhìn anh mà tủm tỉm cười. Đến
đây thì Kim Dung "cứu" nhân vật của mình. Vốn Đoàn Dự đã học được tuyệt
kỹ Lục mạch thần kiếm, quy khí lực vào huyệt Đan điền rồi vận công phóng kiếm
khí vô hình ra 6 ngón tay. Từ kiếm khí, Kim Dung cho phép nhân vật của mình
phóng ra ...kiếm tửu. Đoàn Dự nạp hết số rượu vừa uống vào huyệt Đại truy, rồi
dẫn rượu đi qua các huyệt Thiên tôn, Kiên chân, Tiểu hải, Chi chính, Dưỡng lão,
Dương cốc, Hậu thoát và "phóng" rượu ra nơi ngón Thiếu trạch (ngón
út). Anh ta cứ gác tay trái lên vách quán rượu, uống bao nhiêu vận nội lực
phóng rượu ra bấy nhiêu khiến Kiều Phong kinh hoàng, tưởng tửu lượng chàng thư
sinh cao không kể xiết! Từ cuộc đấu rượu hi hữu đó, họ nhận ra phẩm chất của
nhau và kết nghĩa anh em. Cuộc đối ẩm giữa Kiều Phong và Đoàn Dự làm cho người
đọc vừa sảng khoái vừa buồn cười. Rượu nối kết tình bạn và cũng chính rượu tạo
ra hào khí. Trong Thiên Long bát bộ, có đoạn nhà sư Hư Trúc, cung chủ cung Linh
Thứu, bái kết Kiều Phong làm đại ca trước mặt quần hùng Trung Nguyên khi Kiều
Phong đang bị quần hùng vây hãm. Từ nước Khất Đan, Kiều Phong dẫn 18 tên lính
trung thành gọi là Yên Vân thập bát kỵ, mang theo 36 da dê đựng rượu quay về
chùa Thiếu Lâm, tỉnh Hồ Nam. Nơi đây, anh bị quần hùng vây hãm. Trong cảnh nguy
nan, bỗng dưng Đoàn Dự xuất hiện. Hai anh em đang bưng rượu lên uống thì một
nhà sư xấu xí trong đội ngũ chùa Thiếu Lâm chạy ra: "Đại ca với tam đệ uống
rượu sao không gọi ta?". Nhà sư đó là Hư Trúc. Hư Trúc đã kết nghĩa với
Đoàn Dự nhưng chưa được bái kiến Kiều Phong. Mặc dù quy luật giới tửu (cấm rượu)
của chùa Thiếu Lâm rất khắt khe nhưng khi đã thấy đại ca và tam đệ uống rượu để
chuẩn bị cho cuộc chiến đấu, Hư Trúc cũng nổi hào khí, muốn uống rượu trước mặt
quần hùng để chia sẻ với hai người anh em những hoạn nạn sẽ xảy ra. Và quả
nhiên bầu rượu nghĩa tình đó đã làm nên đại sự. Kiều Phong chế ngự được kẻ đại
ác Du Thản Chi, vươn tay xách cổ Cô Tô Mộ Dung Phục như người ta xách một con
gà. Đoàn Dự sử dụng 6 thế Lục mạch thần kiếm đánh cho Mộ Dung Phục thất điên
bát đảo, làm phơi bày toàn bộ âm mưu đen tối của nhà Mộ Dung. Hư Trúc vận Bắc
minh chân khí, biến những giọt rượu của đại ca thành băng làm một thứ Sinh tử
phù cấy vào người gã đại ác Đinh Xuân Thu, chế ngự và sanh cầm gã. Bọn Yên Vân
thập bát kỵ, mỗi người một túi rượu, phanh cổ áo để lộ ra hình tượng con chó
sói được xăm trên ngực của dân tộc Khất Đan, hú lên những tiếng hoang dã và ngửa
cổ uống rượu, thể hiện quyết tâm cũng liều chết với chủ tướng Kiều Phong. Chưa
có một đoạn nào trong tiểu thuyết cổ kim miêu tả hào khí của con người trước
gian nan thử thách hay hơn đoạn của Kim Dung viết về cuộc hội ngộ của 3 anh em
Kiều Phong – Hư Trúc – Đoàn Dự dưới chân núi Thiếu Thất. Nhưng rượu trong tác
phẩm võ hiệp của Kim Dung không chỉ uống trong lúc đoàn viên, mà còn được uống
trong khi lâm biệt đầy máu và nước mắt. Như trong trận ác đấu của Kiều Phong tại
Tụ hiền trang. Từ khi biết mình là người Khất Đan, Kiều Phong chỉ mong tìm về bên
kia Nhạn môn quan để suốt đời săn chồn đuổi thỏ, tuyệt không dính dấp đến giới
võ lâm Trung Quốc nữa. Nhưng hoàn cảnh đã bó buộc ông phải cứu lấy cô bé A
Châu, và ông đã bế nàng tới Tụ hiền trang ra mắt Tiết Mộ Hoa, nhờ viên thần y
này giúp đỡ. Hóa ra Kiều Phong đã tự dấn thân vào chốn hung hiểm: quần hùng
Trung Nguyên đang họp nhau tại Tụ hiền Trang để bàn kế sách diệt ông, loài Liêu
cẩu man rợ! Kiều Phong nhìn những kẻ đang vây hãm mình. Họ là những anh em ruột
thịt của ông ngày trước ở Cái Bang, là những bạn bè tốt của ông thuộc các võ
phái Trung Quốc, là những người mà ông chưa bao giờ có ý niệm thù hằn, căm
ghét. Nhưng cục diện ở Tụ hiền trang lúc đó là một mất một còn, là ta sống thì
người chết. Kiều Phong đã đề nghị anh em Du Ký, Du Câu - chủ nhân Tụ hiền trang
- cho xin mấy vò rượu lớn. Ông rót rượu ra bát lớn, mời anh em Cái bang uống
trước để nói lời cuối cùng, dứt tình đoạn nghĩa. Ông uống rượu với bạn bè các
môn phái mỗi người một bát. Có kẻ bưng tô rượu dứt tình với Kiều Phong mà nước
mắt tuôn rơi. Rồi sau đó, Kiều Phong đại khai sát giới, tìm con đường sống
riêng cho mình, chạy về bên kia ải Nhạn môn quan nghìn trùng xa cách. Có trường
hợp uống rượu tưởng như chia biệt lại hóa ra đoàn viên. Đó là trường hợp uống
rượu kỳ cục của Cẩu Tạp Chủng (Thạch Phá Thiên), một thiếu niên ngây thơ, trong
trắng trước hai ông anh kết nghĩa đầy mưu mô xảo quyệt là Trương Tam và Lý Tứ.
Trương Tam, Lý Tứ thật ra chỉ là tên giả mạo; họ chính là hai sứ giả Thưởng Thiện
và Phạt Ác của đảo Long Mộc ngoài biển Đông. Trương Tam, Lý Tứ cũng giả vờ kết
nghĩa với Thạch Phá Thiên, cũng thề đồng sinh đồng tử, nhưng trong bụng hai lão
chỉ muốn chàng thiếu niên này chết đi cho khuất mắt. Trương Tam có bầu rượu
dương cương, Lý Tứ có bầu rượu âm nhu, mỗi lão tự uống bầu rượu của mình và lão
này rất sợ bầu rượu của lão kia. Kết nghĩa xong, chàng thiếu niên Thạch Phá
Thiên đề nghị... uống rượu. Thạch Phá Thiên ngây ngô, xin được uống hai thứ rượu
trong dủ hai bầu. Trương Tam, Lý Tứ cả mừng vì đinh ninh thế nào thằng nhỏ này
cũng chết tươi vì hai thứ rượu xung đột nhau. Một lần nữa, Kim Dung lại "cứu”
nhân vật ngây thơ, trong trắng của mình. Thạch Phá Thiên đã từng ngộ kỳ duyên,
con người chàng ta dung hòa được cả hai loại chất độc dương cương và âm nhu.
Cho nên uống rượu xong, chẳng những chàng trai trẻ không chết mà công lực còn
tăng tiến. Trương Tam, Lý Tứ hối hận và xấu hổ vô cùng. Từ tình bạn giả trá, họ
đã đổi ra tình bạn chân thành. Cẩu Tạp Chủng trở thành người em tốt của Thưởng
Thiện và Phạt Ác. Đó là chương uống rượu thú vị nhất trong toàn bộ bộ truyện Hiệp
khách hành. Rượu trong truyện võ hiệp Kim Dung còn làm nên tình yêu lứa đôi,
giàu chất thơ lãng mạn. Có những lứa đôi gặp gỡ lần đầu tiên qua chén rượu và
tình yêu bắt nguồn từ đó. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Trương Thúy Sơn làm quen với
Hân Tố Tố qua chén rượu trên con thuyền nhỏ đậu giữa lòng Thái Hồ. Trương Vô Kỵ
cũng gặp gỡ và yêu quận chúa Triệu Minh qua chén rượu. Đoạn giàu chất thơ nhất
của Ỷ thiên Đồ long ký là đoạn Triệu Minh nhớ Vô Kỵ, tìm lên tửu lâu và ngồi
đúng vào cái bàn mà hai người đã từng ngồi đối ẩm. Thiếu vắng Vô Kỵ, cô cũng gọi
bình rượu, thức ăn, hai cái chén, hai đôi đũa, hai chung rượu. Cô rót rượu ra đủ
hai chung, uống một chung và nước mắt rơi. Đúng lúc đó thì Trương Vô Kỵ xuất hiện.
Và họ tìm lại được hơi ấm tình yêu trong chung rượu đối ẩm. Trong Tiếu ngạo
giang hồ, Lệnh Hồ Xung thường đối ẩm với người yêu là Doanh Doanh. Một nhân vật
khác, Lam Phượng Hoàng, giáo chủ Ngũ độc giáo Vân Nam, cũng rất say đắm Lệnh Hồ
Xung. Cô mang vò rượu Ngũ độc mỹ tửu, trong đó có ngâm năm thứ trùng độc, từ
Vân Nam đến Giang Nam để chữa bệnh cho Lệnh Hồ Xung. Cảm xúc tấm thịnh tình đó,
Lệnh Hồ Xung đã uống rượu cho cô vui lòng. Tác giả Kim Dung đã để cho Lam Phượng
Hoàng hôn Lệnh Hồ Xung trước mặt mọi người, kể cả sư phụ của Lệnh Hồ Xung là Nhạc
Bất Quần. Trong con mắt của Lam Phượng Hoàng, kẻ biết uống rượu của cô mới là
người tốt. Trong Thiên Long bát bộ, mỗi khi trở về Nhạn môn quan, Kiều Phong nhớ
A Châu là tìm đến chung rượu giải sầu. Đoạn đẹp nhất trong mối tình hai người
là đoạn Kiều Phong ngồi nghe A Châu tâm sự: "Đại ca ơi, tiểu nữ nguyện suốt
đời đi theo đại ca về Nhạn môn quan săn chồn đuổi thỏ, sống cuộc đời ung dung
khoái lạc". Nghe cô bé tâm sự, Kiều Phong cao hứng. Trong cái quán nghèo
ngoài biên giới không có một giọt rượu, ông cũng giả vờ nâng cái chén không
lên, ngửa cổ ra như đang thực sự thưởng thức men rượu nồng. Trong Thần điêu hiệp
lữ, có cô bé Quách Tương, 16 tuổi, say mê người anh họ mình là Thần điêu đại hiệp
Duơng Qua. Mặc dù Dương Qua chạy theo hình bóng của sư phụ là Tiểu Long Nữ,
không nghĩ đến mối tình si của Quách Tương, Quách Tương vẫn vượt ngàn dặm ra đi
tìm anh. Trong túi hành trang của cô bé, luôn luôn có một bầu rượu. Cô chỉ có mỗi
ước mong: cùng Dương Qua đối ẩm. Nhưng ước mong đó không bao giờ thành hiện thực.
Quách Tương lên núi đi tu, trở thành sư tổ phái Nga Mi. Những lứa đôi yêu nhau
của tác phẩm Kim Dung uống rượu như ta uống cà phê. Họ gặp nhau là mời nhau
chén rượu, trang trọng, cung kính. Không có ai uống rượu đến nỗi quần áo xốc xếch,
ong bớm lả lơi. Chén rượu trong tình yêu của tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung mang
theo tính cách đạo đức mặc dù khung cảnh uống rượu lãng mạn vô kể: uống trong
quán khuya vắng người, uống trong căn phòng chỉ có hai người, giữa đêm mùa dông
tuyết rơi lả tả; uống trên con thuyền nhỏ chơi vơi giữa đêm trăng trên dòng Trường
Giang mông mênh. Nhân vật Tiêu Tương Dạ Vũ Mạc Đại tiên sinh, chưởng môn phái
Hành Sơn trong Tiếu ngạo giang hồ luôn luôn gắn liền tâm hồn mình với chén rượu.
Kim Dung mô tả Mạc Đại:"Tướng mạo tiên sinh điêu linh cổ quái, lúc nào
cũng như ba phần tỉnh, bảy phần say". Mạc Đại có cây dao cầm rất cũ kỹ,
trong cây dao cầm lại giắt một lưỡi kiếm mỏng như lá lúa. Tiên sinh xuất hiện
dưới chân núi Hành Sơn, trong quán rượu đầy ấn tượng. Quần hùng gồm 7 gã, uống
7 chung trà, đang ngồi nghị luận rằng võ công Mạc Đại còn kém thua sư đệ mình
là Lưu Chính Phong vì Lưu Chính Phong đánh ra một đường kiếm là đứt đầu 5 con
chim nhạn. Lúc đang nói chuyện cao hứng thì một ông già gầy gò đi đến, nghẹo cổ
nhìn các hán tử và bảo: "Các người nói thúi lắm!". Rồi bỗng dưng, các
gã hán tử chỉ thấy trước mắt hoa lên một cái như có một luồng ánh sáng lấp
lánh. Ông già gầy gò bỏ đi, tiếng đàn tình tang xa dần. Một cơn gió nhẹ thổi
qua trên bàn ruợu, 7 cái miệng chén bị cắt đứt lìa lần lượt rơi xuống mặt bàn,
vỡ tan. Hóa ra kẻ lam lũ ấy là Mạc Đại tiên sinh. Ông già say ấy rút kiếm khi
nào, chém 7 miệng chén khi nào, đút kiếm vào đáy cây dao cầm khi nào, không ai
nhìn rõ được. Chỉ với một đường kiếm tiện đứt 7 miệng chung thì 7 đầu chim nhạn
phỏng có là bao! Rõ ràng, trong đoạn này có hai thứ: một thứ trà sinh nói bậy của
7 hán tử và một thứ rượu cực kỳ tỉnh táo của Mạc Đại tiên sinh. Rượu trong truyện
võ hiệp của Kim Dung cũng biến thành một thứ võ khí. Trong Thiên Long bát bộ, bọn
Dư Bà Bà của cung Linh Thứu tung bì rượu lên thành thế Mãn thiên hoa vũ (mưa
hoa đầy trời) cho chủ nhân mình là Hư Trúc dùng Bắc minh chân khí hóa rượu
thành băng, khống chế địch thủ. Rượu được dùng để pha độc được, trừng trị những
anh háo sắc. Vợ của Mã Đại Nguyên là Ôn Thị tư tình với Đoàn Chính Thuần, em ruột
nhà vua nước Đại Lý. Giận Chính Thuần lòng dạ lang chạ, Ôn Thị đã pha bình Mê
xuân tửu dụ cho Đoàn Chính Thuần uống, rồi trói lại và bắt đầu... cắn từng miếng
thịt của Đoàn Chính Thuần để trả thù. Trong Lộc Đỉnh ký, Vi Tiểu Bảo đã biết
dùng Mê xuân tửu từ thuở bé. Mẹ của y là Vi Xuân Hoa, làm điếm trong thành
Dương Châu đã từng pha thuốc mê vào rượu cho bọn làng chơi uống, để trấn lột tiền
tài vật dụng. Đắc thủ được bài học lưu manh đó khi làm quan lớn ở Bắc Kinh, Vi
Tiểu Bảo cũng pha chế những bình Mê xuân tửu để hãm hại, vu cáo những kẻ thù của
mình. Từ rượu độc, Vi Tiểu Bảo nghĩ ra những trò đầu độc khác tệ hại hơn và tất
nhiên mực độ lưu manh hạ cấp cao hơn. Rượu trợ lực cho những màn tác oai, tác
quái của bọn quan lại triều Thanh. Để hành hạ Trịnh Khắc Sảng, kẻ tình địch
ngày trước của mình, Vi Tiểu Bảo đã cho tiền để bọn thị vệ dưới quyền uống rượu
thoải mái. Uống xong, chúng kéo qua tư dinh Trịnh Khắc Sảng, đòi nợ cho
"công tước" Vi Tiểu Bảo. Chúng đập phá nhà cửa, tài sản, lăng nhục Trịnh
Khắc Sảng và vợ con, bắt cóc, giết người rồi vu cáo... Đọc tác phẩm Kim Dung,
ta biết được người Trung Quốc có nhiều thứ rượu danh tiếng: Thiệu Hưng Nữ nhi hồng,
Thiệu Hưng Trạng nguyên hồng, Trúc diệp thanh, Mai quế lộ, Bách thảo tửu, Biên
tái tửu, Hầu nhi tửu, Bồ đào tửu, Ngũ gia bì, Kim tước tửu... Đọc Kim Dung, ta
mới biết được phong cách uống rượu của người Trung Quốc: rượu thường được hâm
nóng trước khi uống, nhất là vào mùa đông. Thỉnh thoảng, trong vài tình huống đặc
biệt, khi công nghiệp làm nước đá chưa ra đời, tác giả đã để cho nhân vật mình
làm ra băng để uống rượu. Trong Tiếu ngạo giang hồ, có đoạn Lệnh Hồ Xung cùng
Hướng Vấn Thiên tìm về Cô Mai sơn trang ở Giang Nam gặp gỡ Giang Nam tứ hữu. Để
mời rượu Lệnh Hồ Xung giữa mùa hè nóng bức, Đan Thanh tiên sinh đã nhờ anh mình
là Hắc Bạch Tử dùng Hàn băng chưởng hóa nước thành ra nước đá ướp lạnh rượu bồ
đào Thổ Lỗ Phồn! Đọc Kim Dung, ta mới biết được những cách uống rượu khác nhau.
Đối ẩm là hai người uống, thường là tình nhân hoặc bạn hữu thân thiết. Độc ẩm
là uống một mình, trong lòng đang lo nghĩ hoặc tưởng nhớ. Cộng ẩm hay Quần ẩm
là một nhóm người cùng uống với nhau. Loạn ẩm là một đám đông cùng uống. Trong
Tiếu ngạo giang hồ, đoạn loạn ẩm hay nhất là đoạn bọn tà ma ngoại đạo thết tiệc
Lệnh Hồ Xung để lấy lòng Thánh cô Doanh Doanh. Thương nhau, quý nhau, người ta
mới tặng rượu. Quần hào Cái bang Trung Quốc, tuy là đi ăn mày, đáng lẽ chỉ xin
cơm, thì người ta còn xin cả rượu nữa. Chén rượu của Kim Dung đã làm cho những
nhân vật của ông nổi tiếng. Hồng Thất Công nổi tiếng chuyên uống rượu với thịt
chó. Kiều Phong nhờ rượu mới phát huy được thần oai, càng uống càng mạnh, càng
tỉnh táo. Hư Trúc nhờ uống rượu phá giới mà tìm ra được cô vợ sắc nước hương trời:
công chúa Văn Nghi của nước Tây Hạ. Thạch Phá Thiên nhờ uống hai thứ rượu độc
mà hóa giải được sự xung đột của âm dương nhị khí, đạt đến mức thượng thừa
trong võ học... ở chừng mực nào đó, Kim Dung đã nghĩ đến câu cổ thi: Cổ lai
thánh hiền giai tịch mịch Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh (Xưa nay thánh hiền đều lặng
lẽ Chỉ người uống rượu mới còn danh) (Lý Bạch) Tác phẩm của Kim Dung tràn đầy
rượu và ruợu. Trừ những nhà sư, các nhân vật của ông ít nhiều đều biết đến chén
rượu. Rượu làm nên sự hưng phấn cho cuộc đấu tranh chống cái ác, biểu dương cái
thiện và lẽ công bằng ở đời. Uống rượu nhiều tất có tình trạng say rượu xảy ra.
Những người say trong tác phẩm Kim Dung cũng say một cách tử tế. Trong những hội
loạn ẩm, họ say quyền thách đố nhau hoặc cãi cọ chửi bới. Duy nhất trong 12 bộ
truyện, có một nhân vật say rượu phạm vào tội đại ác, trở thành một thứ tửu tặc.
Nhân vật đó là Thành Khôn, sư phụ của Tạ Tốn trong Ỷ thiên Đồ long ký. Thành
Khôn giả say rượu, đã làm nhục và giết hại vợ con của đồ đệ mình. Y lẻn vào
chùa Thiếu Lâm làm một nhà tu giả mạo dưới pháp danh Viên Chân. Kẻ tửu tặc ấy
đã bị tìm ra, bị trừng trị nhưng rồi cuối cùng cũng được tha thứ. Rượu trong
truyện võ hiệp Kim Dung khác xa với rượu ở miền Viễn Tây Mỹ trong phim cao bồi,
khác xa với rượu trong các hộp đêm trên toàn thế giới và cũng khác xa với
"rượu" trong các quán bia ôm. Chính vì thế, tôi mạnh dạn gọi rượu
trong truyện Kim Dung là một loại rượu đạo đức. Rượu trong truyện Kim Dung thể
hiện triết lý nhân sinh gần gũi cuộc sống. Nó làm nên tình yêu, tình bạn, hận
thù, sự tha thứ, mối hoài cảm, niềm hối tiếc. Qua rượu, Kim Dung hé mở cho
chúng ta nhìn thấy một khoa học mới: tửu học. Với một chữ Rượu, Kim Dung đã vượt
xa hơn bất kỳ nhà văn nào khác. Rượu của ông có bài bản, có tính chất triết lý
tề chỉnh. Nó góp phần làm nên cái đẹp cho đời sống con người. Men rượu kết hợp
với men tình, men võ khiến ta không “uống” được tác phẩm mà lòng vẫn say.
Âm nhạc
Kim Dung quan niệm âm nhạc cũng như một thứ võ
công, có thể giúp người ta dưỡng thương, chữa bệnh, mê hoặc và khắc chế địch thủ.
Trên một đất nước Trung Hoa rộng lớn, đa chủng tộc và sắc tộc, nhiều loại hình
âm nhạc đã ra đời và hình thành. Trong những tác phẩm võ hiệp của mình, Kim
Dung đã dành cho âm nhạc một vị trí quan trọng. Âm nhạc có ở khắp mọi nơi.
Trong tác phẩm võ hiệp của ông, ta bắt gặp "cái vỏ" là sự đấu tranh của
võ lâm đầy đau thương, sắt máu nhưng "cái ruột" chính là tâm hồn nghệ
sĩ khoáng dật, thanh thoát... Có những tác phẩm mà âm nhạc như một sợi chỉ
xuyên suốt, trở thành cốt lõi, chi phối toàn bộ và tạo nên cái hồn cho tác phẩm.
Đó là trường hợp của Tiếu ngạo giang hồ. Tác phẩm này lấy chủ đề từ một bản nhạc
cầm tiêu hợp tấu giữa bạch đạo và hắc đạo, giữa chính và tà. Đó là bản nhạc hợp
soạn giữa hai người nghệ sĩ, hai nhân vật võ lâm tiêu biểu: Lưu Chính Phong, sư
đệ của chưởng môn phái Hành Sơn và Khúc Dương, trưởng lão của Triêu Dương thần
giáo. Vốn xưa, họ là hai người đứng ở hai thái cực, hai thế lực đối nghịch với
nhau, coi nhau là cừu hận. Nhưng rồi âm nhạc đã nối kết tình bạn của Lưu - Khúc
lại và người này nhìn ra bản chất nghệ sĩ tài hoa của người kia. Khúc Tiếu Ngạo
giang hồ ra đời như kết quả của hai tâm hồn đồng thanh, đồng điệu và đồng cảm,
một khúc nhạc có khả năng hoá giải sự khác biệt giữa hắc và bạch. Lưu Chính
Phong và Khúc Dương, một cầm một tiêu, đã hoà tấu bản này đạt tới đỉnh cao nhất
của âm nhạc "khoan hoà trung chính, khi mau sầm sập, khi khoan thai, chỗ
trầm lắng, chỗ cao vút", tương thông tâm ý. Lưu Chính Phong ăn mừng thọ 60
tuổi, muốn rửa tay gác kiếm để tìm những tháng ngày ung dung tự tại giữa một đời
đấu tranh trá ngụy. Thế nhưng, phái Tung Sơn mà lãnh tụ là Tả Lãnh Thiền đã huy
động hết lực lượng của Hoa Sơn, Hằng Sơn, Thái Sơn nhằm ngăn cản hành động của
Lưu Chính Phong, vu cáo rằng "Lưu Chính Phong kết bạn tà ma", buộc
Lưu Chính Phong phải tìm cách giết Khúc Dương, chặt đứt mối quan hệ với Triêu
Dương thần giáo. Không đồng ý với cách sống bán bạn cầu vinh, Lưu Chính Phong
đã chịu một thảm kịch đau đớn: nhà tan người chết, bản thân bị trọng thương.
Khúc Dương nhanh tay cứu bạn, đưa bạn chạy về dưới núi Hành Sơn. Nơi đây, hai đại
cao thủ đã hợp tấu lần sau cùng trước khi qua đời rồi trao bản nhạc cho đệ tử
phái Hoa Sơn là Lệnh Hồ Xung. Phải chăng khát vọng Tiếu Ngạo giang hồ là không
bao giờ có thể thực hiện được giữa một cuộc sống đầy đua tranh, thù hận, chia rẽ
và bạo lực? Cầm bản đàn của hai bậc tiền bối, Lệnh Hồ Xung phiêu bạt giang hồ,
thân danh tàn tạ, bị khinh miệt, bị đánh, bị vũ nhục, bị vu cáo. Người ta cứ
đinh ninh rằng đó là một loại bí lục võ công thượng thặng! Lệnh Hồ Xung gặp
nàng Doanh Doanh trong ngõ Lục Trúc thành Lạc Dương, ngỏ hết nỗi đau thương của
đời mình, trong đó có niềm đau về mối tình đầu tan vỡ. Doanh Doanh đã dạy cho Lệnh
Hồ Xung khúc đàn Thanh tâm phổ thiện trú để duy trì mạng sống. Âm nhạc trở
thành một liều thuốc chữa bệnh tâm thần, tạo nên sự hưng phấn, đem lại nguồn sống
cho Lệnh Hồ Xung. Đoạn dễ thương nhất của Tiếu ngạo giang hồ là đoạn Doanh
Doanh đàn Thanh Tâm Phổ Thiện Trú ru cho Lệnh Hồ Xung ngủ. Cuối cùng, âm nhạc
cũng không đủ tác dụng vực dậy một tâm hồn đau thương trong một thể xác đã suy
tàn, nàng đành cõng tình lang lên chùa Thiếu Lâm, chịu bị cầm tù để tình lang
được chữa trị. Kết thúc Tiếu ngạo giang hồ là một kết thúc thật đẹp. Lệnh Hồ
Xung chữa được thương thế, cùng Doanh Doanh hợp tấu bản Tiếu ngạo giang hồ, sống
cuộc đời thanh bình, hạnh phúc. Tiếu ngạo giang hồ đưa ra một luận điểm triết
lý sâu sắc: con người sinh ra không thể sống một mình, cũng không thể sống hai
mình khi tâm ý chẳng tương thông. Khát vọng của Tiếu ngạo giang hồ chính là
tình thương yêu con người đằm thắm. Sự giao hoà âm nhạc tạo nên giao hoà tình
yêu và chỉ có tình yêu chân chính mới đạt đến hạnh phúc làm người. Trong Tiếu
ngạo giang hồ, ta bắt gặp một loại hình âm nhạc khác - âm nhạc lang thang của
chưởng môn phái Hành Sơn Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh. Với vóc dáng
"điêu linh cổ quái", người chưởng môn ấy từ chối quyền lực và danh vọng,
mang một cây dao cầm trong có dấu một thanh kiếm mỏng như lá lúa, vui chơi bốn
biển năm hồ. Kiếm để trừ diệt kẻ ác, dao cầm để di dưỡng tâm hồn. Mạc Đại tiên
sinh chính là hình tượng mà Nam Hoa Kinh của Trang Tử thường mơ ước: "Khi
cao lên 9000 dặm, nương mây cỡi gió mà bay". Tiếc thay, ông ta chưa đạt được
phong cách thần tiên thoát tục đó bởi cái khúc Tiêu Tương dạ vũ mà tiên sinh
thường hay hát là một "bài ca buồn bã có đi mà không có lại". Tiếng
hát của tiên sinh là tiếng hát lênh đênh trong ảo ảnh sương khói và suốt đời,
tiên sinh chỉ là một nghệ sĩ lang thang. Mạc Đại là nhà du ca lớn nhất trong Tiếu
ngạo giang hồ và trong toàn bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, một thứ thần
tiên bị đọa phải nhập thể và nhập thế. Nếu Doanh Doanh chơi nhạc thính phòng
thì âm nhạc của Mạc Đại là nhạc du ca. Nhưng Tiếu ngạo giang hồ không phải chỉ có
chừng đó dạng âm nhạc. Tiếu ngạo giang hồ còn có khúc "Sơn ca Phúc Kiến"
của Lâm Bình Chi mang về núi Hoa Sơn dạy cho Nhạc Linh San hát. "Chị em
lên núi hái chè", câu sơn ca đó làm tan hồn nát ruột Lệnh Hồ Xung vì mỗi
khi Nhạc Linh San hát lên, anh biết nàng ta đang nghĩ tới Lâm Bình Chi và phụ rẫy
mối tình đầu của mình. Tiếu ngạo giang hồ còn có một bài ca rất buồn cười mà bọn
giáo chúng Triêu Dương thần giáo đồng thanh hợp ca để tâng bốc Nhậm Ngã Hành
khi lão vừa chiếm lại được ngôi giáo chủ: "Thánh giáo văn thành võ đức,
nhân nghĩa anh minh, thiên thu trường trị, nhất thống giang hồ. Bọn thuộc hạ
đưa lời cung nghinh thánh giáo chủ thương sinh trạch bị, ơn khắp lê
dân..." Nguyên cái loại "âm nhạc" này phát xuất từ thời giáo chủ
Đông Phương Bất Bại. Khi Đông Phương Bất Bại trở thành "tất bại", bọn
giáo chúng Triêu Dương thần giáo mới dùng nó để ca ngợi Nhậm Ngã Hành. Cả ngàn
người cùng há miệng hò ca chấn động cả lỗ tai người nghe! Thứ "âm nhạc"
này bị coi là nhạc sến! Trong bộ Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Dung đã để cho âm nhạc
xuất hiện trước tiên với nhân vật Côn Lôn tam thánh Hà Túc Đạo. Hà Túc Đạo tuổi
ngoài 40, khuôn mặt xương xương, giỏi kiếm, giỏi cờ, giỏi đàn, được xưng tụng
là tam thánh, từ Côn Lôn xuống Trung Nguyên. Ông ta có một khúc đàn tuyệt vời,
có thể sai khiến trăm chim tụ họp về nhảy múa, ca hót gọi là Không sơn điểu ngữ.
Cô bé Quách Tương, 19 tuổi, đi tìm Dương Qua, đã gặp người trung niên tài hoa
Hà Túc Đạo ngoài rừng chùa Thiếu Lâm, được nghe khúc Bách điểu triều phụng và
tiếng muôn chim ca hót. Hình ảnh trong sáng, tươi đẹp của cô đã in ngay vào
trong tâm hồn chàng nghệ sĩ trung niên. Hôm sau, khi chiến đấu với ba cao thủ
Thiếu Lâm Tây Vực trước sự chứng kiến của Quách Tương, Hà Túc Đạo chỉ dùng đến
một tay, tay còn lại vận Cách không chỉ phóng vào cây dao cầm đang để dưới đất,
mời Quách Tương nghe bản nhạc mình mới sáng tác tặng cô. Kiếm chưởng thì sát phạt
sắt máu, tiếng đàn lại lãng mạn xuân tình, u uất thương nhớ. Cái công phu phân
ý của Hà Túc Đạo quả thật hy hữu! Cô bé Quách Tương thơ ngây nghe hết cung đàn,
cảm động và đỏ mặt vì biết Hà Túc Đạo đang dùng âm nhạc tỏ tình với mình. Thế
nhưng mối tình của Hà Túc Đạo cũng chẳng tới đâu. Hà Túc Đạo đánh thua sư Giác
Viễn, hổ thẹn chạy về núi Côn Lôn. Quách Tương yêu Dương Qua mà tìm nhau không
gặp, lên núi Nga My đi tu, mở ra phái Nga My. Âm nhạc của Hà Túc Đạo cũng
"có đi mà không có lại". Nó trở thành bài biệt ca của tình yêu. Nhưng
âm nhạc hay nhất, đẹp nhất, mang giá trị nhân bản cao nhất vẫn là bài Hoả ca của
giáo chúng Minh giáo (tức Bái Hoả giáo), truyền từ Ba Tư (tên cũ: Perse - thời ấy
chưa gọi Iran) sang Trung Quốc. Đây là bài ca được hát trên Quang Minh Đỉnh khi
quần hùng Trung Quốc bao vây quần hùng Minh giáo, vu cáo họ là tà giáo, có ý muốn
đuổi tận diệt. Theo tác giả Kim Dung, bài Hoả ca lấy từ thơ của nhà thơ lớn Ba
Tư Omar Khayam, có những câu được dịch thoát ra như thế này:
Đốt tàn thân xác của ta
Ngọn lửa thánh bốc cháy lên đỏ rực
Sống đã chẳng có chi là hạnh phúc
Thì chết đi nào có khổ
đau gì.
Vì thiện lương, ta trừ cái ác
Nẻo quang minh cứ vậy mà đi
Hỷ, Lạc, Sầu, Bi xin gởi về cát bụi
Tội nghiệp thay người đời
hoạn nạn lắm khi. Giữa cảnh đang bị cường địch bao vây, giáo chúng Minh giáo vẫn
ung dung tự tại hát lên bài Hoả ca dâng lên đức Giáo chủ Minh Tôn Di Lạc, bày tỏ
tấm lòng của mình với cuộc đời và thể hiện khí phách hiên ngang trước cái chết.
Trương Vô Kỵ đã nghe được bài ca đó và nhận ra rằng Minh giáo là một đạo nhân bản,
rằng những lời kết án Minh giáo là bàng môn tả đạo là những lời xuyên tạc, rằng
việc chống lại người Minh giáo là hành động phi nhân. Và chàng đã xả thân cứu
quần hùng Minh giáo, nguyện hiến tấm thân vì trăm họ để cho giáo chúng Minh
giáo được sống. Chàng được Minh giáo Trung Hoa bầu lên làm giáo chủ, huy động
các lực lượng Minh giáo chống lại quân Nguyên, giành lại được giang sơn từ giống
nòi di tộc. Chu Nguyên Chương lên ngôi cũng còn biết nhớ nguồn gốc của mình xuất
thân từ Minh giáo nên đặt đế hiệu là Minh Thành Tổ. Người Minh giáo mặc áo đạo
bào trắng, trước ngực áo có vẽ ngọn lửa đỏ, gặp nhau chào bằng hai bàn tay chắp
lại thành hình ngọn lửa. Và thánh ca của họ chính là bài Hoả ca, bài mang một
giá trị nhân bản, nhân đạo tuyệt vời. Trong Thiên Long bát bộ, âm nhạc mới
phong phú làm sao. Trước hết, người ta dễ nhận ra bài ca "chiến thắng"
ê a của bọn lính Khất Đan sau những cuộc "hành quân" qua thảo nguyên
ngoài ải Nhạn Môn Quan. Bọn chúng bắt đàn bà, giết trẻ em, tước đoạt tài vật của
những gia đình lương dân Trung Quốc. Ấy thế mà chúng vẫn hát được! Cũng trong bộ
truyện này, người đọc thật sự cảm thấy thú vị với bài ca bợ đít của bọn đệ tử
phái Tinh Tú nhằm ca ngợi Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu. Mỗi khi Đinh Xuân Thu
xuất hiện hay lâm trận, bọn đệ tử đồng thanh hát:
Tinh Tú lão tiên
Danh lừng Trung thổ
Oai lực vô biên
Đánh đâu thắng đó
Nhân vật Bao Bất Đồng, một
thuộc hạ của Cô Tô Mộ Dung Phục đã làm cho phái Tinh Tú mắc lỡm khi cất giọng
solo bài này dưới chân núi Thiếu Thất để bọn Tinh Tú “hợp ca” theo:
Tinh Tú lão tiên
Danh lừng Trung thổ
Oai lực vô biên ...
Thối hơn rắm chó Đem “rắm chó” vào trong bài
ca để “hướng dẫn” bọn đề đệ Tinh Tú hát theo làm trò cười cho thiên hạ, cách
phê phán thói nịnh của Kim Dung vừa bình dân, vừa bác học hết chỗ nói. Nói đến
âm nhạc trong Thiên Long bát bộ, ta không thể quên hai nhân vật quái dị trong
nhóm Hàm Cốc bát hữu (tám người bạn ở Hàm Cốc) là Cầm điên Khang Quảng Lăng và
Hí mê Lý Quỹ Lỗi. Cầm điên Khang Quảng Lăng đánh địch bằng cây dao cầm. Nghe tiếng
đàn của lão, trái tim người ta nhảy loạn lên, đầu óc trở thành u mê, hồ đồ. Tiếng
đàn của lão thoạt đông, thoạt tây; khi trên, khi dưới khiến người ta tưởng
khinh công của lão xuất thần nhập hoá. Nhạc sĩ Khang Quảng Lăng này rất hồ đồ.
Lão tin rằng tiếng đàn của lão có thể làm người chết sống lại: "Vậy mộ của
Huyền Khổ đại sư chôn ở đâu ? Dẫn ta đến mau, ta đàn cho đại sư nghe một khúc,
không chừng đại sư có thể sống lại (?)". Ngược lại với Khang Quảng Lăng,
nhân vật Lý Quý Lỗi là một con hát. Anh ta vừa đánh, vừa hát bội, thậm chí khi
bị đánh gãy chân, thay vì rên la, anh ta lại mở miệng hát (!). Hai nhân vật
chơi nhạc trong Hàm Cốc bát hữu là hai con người hồn nhiên như trẻ con. Họ xuất
hiện rất ngắn nhưng để lại ấn tượng rất sâu trong lòng người đọc. Trong Thiên
Long bát bộ, người ta còn nghe bài ca "Xin cơm" của anh em Cái bang,
một bài hát không dùng vào việc xin cơm thông thường mà để kết Đả cẩu trận, khắc
chế địch nhân hung hãn. Khi viết về âm nhạc, kiến thức âm nhạc của Kim Dung
tiên sinh cũng rất tinh tường và phong phú. Trong Lộc Đỉnh ký, ông đã trích lại
bài ca của danh sĩ Ngô Mai Thôn nói về Trần Viên Viên - một danh kỹ cuối Minh đầu
Thanh, người tình của Lý Sấm và Bình Tây Vương Ngô Tam Quế. Trần Viên Viên được
mô tả "mặt đẹp như Quan Âm", sống một cuộc đời đau thương chìm nổi
đúng như định đề cổ điển của văn học "hồng nhan đa truân". Tất cả những
đau thương đó đều được đúc kết thành Viên Viên khúc. Khi đi tu, Viên Viên vẫn
hát khúc ca Ngô Mai Thôn viết cho mình với cây dao cầm. Ngô Tam Quế nghe được
vài chục câu, Mỹ đao vương Hồ Dật Chi nghe được dăm ba câu. Chỉ có Vi Tiểu Bảo,
một kẻ chẳng hiểu âm nhạc là gì, lại có hồng phước nghe được trọn bài. Viên
Viên khúc nghe thật buồn bã, đúng là một bài ca mất nước chẳng khác gì Hậu đình
hoa của Lý Hậu chủ trong thơ Đỗ Mục:
Thương nữ bất tri vong quốc hận
Cách giang do xướng Hậu đình hoa
(Con hát biết đâu hờn
vong quốc Bên sông còn hát Hậu đình hoa) Lộc Đỉnh ký còn có một loại "âm
nhạc" ngộ nghĩnh khác: những bài ca nịnh bợ của bọn Thần Long giáo. Đó là
những bài ca mang tính chất tự kỷ ám thị dùng trong lúc đánh nhau, đã được Kim
Dung viết với một giọng văn thô thiển, phù hợp với "trình độ" của bọn
giáo chúng ngu muội:
Hồng giáo chủ thần thông
quảng đại
Giáo chúng ta đánh bại khắp nơi
Địch nhân thấy bóng chạy
tơi bời Cứng rắn cũng tan tành xác pháo Hồng giáo chủ ra oai sấm sét Chúng đô
nhi sức mạnh phi thường Ta một người trăm địch khôn đương Địch hàng vạn trăm
quân đủ thắng Hồng giáo chủ thần kinh như điện Chiếu nhãn quang ra khắp muôn
phương... Những bài hát như vậy mang tính kinh điển, khẩu hiệu, quê muội, tự nó
đã nói lên được kiểu lừa bịp trá ngụy của những tà giáo thứ thiệt. Cái hay của
Kim Dung là ông chỉ mô tả sự kiện, tường thuật vấn đề không bình luận. Nhưng
thông qua sự kiện, vấn đề, người đọc nhận biết được ý đồ của ông, hiểu được ông
muốn nói lên điều gì. Bài ca tập thể lạ lùng của giáo chúng Thần long giáo sau
đây khiến người ta nghĩ đến “bài ca” của các tiểu tướng Hồng vệ binh ở Trung Quốc
trong thời kỳ Cách mạng văn hóa: Bảo huấn của giáo chủ Thời khắc ghi tronglòng
Lập công và thắng địch Trường thọ với non sông. Trong truyện võ hiệp của Kim
Dung, âm nhạc xuất hiện khắp mọi nơi trên đất nước Trung Hoa rộng lớn. Trong
Phi hồ ngoại truyện, ta nghe được tiếng hát vùng Sơn Đông - Triết Giang của tiểu
anh hùng Hồ Phỉ. Trong Xạ điêu anh hùng truyện, ta nghe được khúc sáo ma quái,
nhiếp hồn của Đông tà Hoàng Dược Sư. Trong Tiếu ngạo giang hồ, ta nghe được tiếng
hát của dân tộc Miêu Cương của giáo chủ Ngũ Độc giáo Vân Nam Lam Phượng Hoàng.
Trong Lộc Đỉnh ký, ta nghe được bài ca Trầm Giang hùng tráng trích từ tác phẩm
dân ca Đào hoa phiến, ca ngợi cái chết anh hùng của nhà yêu nước Sử Các Bộ, người
chịu hy sinh để giành lại đất nước trong bàn tay di tộc. Nhưng không phải ai
cũng có thể hát được khúc Trầm Giang. Đi trên sông Liễu Giang giữa đêm mưa gió,
cả mấy chục người mà chỉ có Trần Cận Nam - Tổng đường chủ của Thiên Địa hội -
và Ngô Lục Kỳ - đường chủ Hồng Thuận đường của Thiên địa hội - mới đủ công lực
cất lên tiếng hát át cả tiếng cuồng phong sậu vũ:
Đầy lòng phẫn nộ ngỏ cùng
ai
Giọt lệ già nua dạ ái
hoài
Trong chốn cô thành mong
cứu viện
Tàn quân huyết chiến luống
bi ai
Đoái trông cố quốc lòng
đau xót
Trùng vây không nỗi vượt
ra ngoài
Trường giang một dải ba
ngàn dặm
Nỡ để về tay kẻ khác loài… Và:
Non nước ngàn thu để tiếng truyền
Đau lòng huyết lệ khắp Tây Xuyên... Trong Thiên
Long bát bộ, ta nghe được tiếng hát bài ca "Hái sen ở Giang Nam"
(Giang Nam khả thái liên) hoà với tiếng đàn hồ cầm thánh thót của cô gái đẹp A
Bích tại Yến tử ổ, Giang Nam:
Giang Nam khả thái liên
Liên điệp
Hà điền điền Ngư hý liên điệp đông Ngư hý liên
điệp tây... (Giang Nam ta hãy hái sen Lá sen dày khít mọc chen thành đồng Cá đùa bên lá
sen phía đông Cá đùa bên lá sen phía tây...) Nhưng tiếng hát đẹp nhất, mang nặng
tính chất triết lý nhất là vẫn là tiếng hát của Tiểu Siêu, cô gái lai người Ba
Tư. Tiểu Siêu là cô bé 16 tuổi, được mẹ là Đại Y Ty đưa vào "nằm
vùng" trong Minh giáo Trung Quốc, len lỏi lên Quang Minh Đỉnh để tìm cách
đánh cắp bộ thần công Đại nã di tâm pháp. Cô trở thành con hầu của giáo chủ
Trương Vô Kỵ và thầm yêu trộm nhớ Trương Vô Kỵ. Nhưng cô đã tiên cảm được rằng
mối tình đó không đến đâu, số phận của cô không biết sẽ trôi dạt về đâu. Nỗi u
oán đó biểu hiện lên trong những khi cô hát cho giáo chủ Minh giáo Trương Vô Kỵ
nghe. Lời ca nguyên là 1 trong 101 bài thơ của Nga Mạc (Omar Khayam) - thi hào
Ba Tư đã được Quách Mạt Nhược dịch qua tiếng Quan Thoại. Triết lý trong lời ca
là cái khát vọng cắt nghĩa cho được những vấn đề gần gũi nhất của con người: cuộc
sống, tình yêu và cái chết:
Lai như lưu thủy hề thệ như phong
Bất tri hà xứ lai hề hà sở chung
(Chợt đến như giòng sông
nước chảy Thoắt tan như gió qua mau Chẳng biết từ đâu mà đến Cũng chẳng biết về
nơi đâu) Bài ca này là một bài thánh ca của Bái hỏa giáo Ba Tư và tiếng hát cuối
cùng là tiếng hát của Hân Ly trong cơn mê sảng trước khi chết trên một hải đảo
vùng Đông Bắc Trung Quốc. Trong lịch sử văn minh Trung Quốc, không có biên giới
giữa Thi và Ca. Trường phái thơ Đường đã dung nạp một cách tự nhiên âm nhạc vào
thi ca; biến phong cách này trở thành truyền thống:
Sở thanh phong địch ly
đình vãn
Quân hướng Tiêu Tương ngã
hướng Tần Hoặc:
Khương địch hà tu oán
Dương liễu?
Xuân phong bất độ Ngọc
môn quan
Kim Dung đã đưa âm nhạc
vào tiểu thuyết đúng như truyền thống của Đường thi nhưng lãnh vực phản ánh của
ông rộng hơn và mức độ phản ánh sâu sắc hơn. Âm nhạc đó hoá giải được tính chất
đấu tranh gay gắt, phức tạp của bản chất truyện võ hiệp. Nó làm nên cái hồn
tính lãng mạn cho tiểu thuyết võ hiệp, đem lại chất hài hước vui nhộn cho tiểu
thuyết võ hiệp. Nói là âm nhạc, nhưng nó chính là võ công, là công phu, là y đạo,
và đồng thời là phương thức biểu lộ tình yêu. Ngay chính trong cách dung nạp
này, Kim Dung đã chứng tỏ được rằng ông là bậc thầy trong kỹ thuật viết tiểu
thuyết. Đọc Kim Dung là lắng nghe chất âm nhạc trong tiểu thuyết của Kim Dung,
nhờ âm nhạc, người ta thấy được niềm tin, dù trong đau thương hay trong hạnh
phúc. Hoa Văn chương tiểu thuyết, kể cả văn chương tiểu thuyết võ hiệp, luôn có
những đoạn tả cảnh. Cảnh quan thiên nhiên hiện ra trong văn chương đã trở thành
một thứ quy luật tất yếu, không thể thiếu được. Vả chăng, người Trung Hoa đã
quan niệm “Vạn vật đồng nhất thể” mà con người cũng là một vật trong vạn vật
cho nên con người không thể tự tách mình ra khỏi thiên nhiên, ra khỏi cảnh quan
và môi trường sống. Văn chương tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung cũng vậy. Con người
trong tiểu thuyết của ông luôn luôn gắn liền với thiên nhiên, sống giữa thiên
nhiên và hoạt động với thiên nhiên. Nhưng vượt lên trên tất cả cung cách mô tả
thiên nhiên, Kim Dung đã dành cho hoa nhiều cảm tình nhất.
Hoa
Xuất hiện trongg 12 bộ tiểu
thuyết võ hiệp của ông như là biểu tượng cho bốn mùa. Hoa tiêu biểu cho chiều
sâu trí tuệ và tâm hồn của người trồng hoa và chơi hoa. Hoa là sản phẩm đặc
trưng của từng vùng đất mà đất Trung Hoa vô cùng rộng lớn nên hoa cũng cực kỳ
phong phú về chủng loại, đặc sắc về ngoại hình. Ở một chừng mực nào đó, ta có
thể thấy Kim Dung đã thể hiện kiến thức của một nhà hoa học trong những bộ tiểu
thuyết của mình. Trong Thiên Long bát bộ, theo gót chân lãng du của vương tử Đại
Lý Đoàn Dự, tác giả đưa chúng ta đi về vùng Giang Nam nước Tống. Mùa xuân về
trên Thái Hồ, Giang Nam, ta bắt gặp hoa sen và hoa hồng lăng khoe sắc thắm,
thoang thoảng hường đưa trong gió. Rồi tác giả đưa chúng ta về Mạn Đàn sơn
trang của Vương phu nhân, thưởng thức hoa trà. Đoạn lý luận về hoa trà của Đoàn
Dự có thể coi là một chương hoa học kỳ thú trong Thiên Long bát bộ. Hoa trà -
tiếng Phạn là Mạn đà la – là một loài hoa nổi tiếng được trồng phổ biến khắp
vùng Vân Nam. Lúc bấy giờ, Vân Nam thuộc nước Đại Lý. Hoa trà trở thành quốc
hoa của Đại Lý. Vân Nam có khí hậu ấm, mứa nhiều quanh năm, dân dã bình thường
cũng biết trồng hoa trà để thưởng ngoạn. Thế nhưng,Vương phu nhân là đem hoa
trà từ Vân Nam (Đại Lý) về trồng ở Giang Nam (Tống) mà lại thiếu kinh nghiệm
chăm sóc khiến các gọi là Mạn đà sơn trang của phu nhân dưới mắt Đoàn Dự chẳng
đáng một xu. Vốn ghét tính cách tàn bạo, ngang ngược của Vương phu nhân, Đoàn Dự
thẳng thừng phê phán sự dốt nát của bà khi trồng trà: “Tỷ như khóm trà hoa này
chắc phu nhân cho là quý lắm? Cái lan can bên cạnh mới thực là đẹp.”. Khen như
vậy khác nào khen quyển sách in đẹp mà nội dung rỗng tuếch. Những kiến thức về
hoa trà của Đoàn Dự khiến Vương phu nhân vừa kinh hãi, vửa thẹn thùng. Chậu hoa
mà phu nhân gọi là “Ngũ sắc trà hoa” (hoa tra năm màu) thì Đoàn Dự gọi là “Lạc
đệ tú tài” (tú tài thi hỏng). Đoàn Dự cho biết loại hoa trá quý nhất là “Thập
bát học sĩ” (18 vị học sĩ) gồm 18 bông, màu sắc không bông nào giống bông nào
(toàn hồng, toàn trắng, toàn tía...không hỗn tạp), cùng nở một lúc và cùng tàn
một giờ. Sau “Thập bát học sĩ” là “Bát tiên quá hải” (8 vị tiên qua biển) chỉ
có một gốc, nở ra cùng lúc 8 bông với 8 màu khác nhau. Sau “Bát tiên quá hải”
là “Thất tiên nữ” (7 tiên nữ) chỉ có một gốc nở ra 7 bông. Sau “Thất tiên nữ”
là “Phong trần tam hiệp” (3 hiệp khách phong trần) chỉ có 1 gốc nở ra đúng 3
bông. Rồi “Nhị Kiều” (hai nàng họ Kiều), rồi chia hạng chánh, phó... đủ kiểu
chơi. Vương phu nhân còn khen ngợi loại trà “Mãn nguyệt” (trăng tròn). Đoàn Dự
bác ngay vàlý luận đó phải là loại “Ỷ lan Kiều’ (nàng Kiều e thẹn dựa vào lan
can). Trồng “Ỷ lan Kiều” phải chọn nơi nửa kín nửa hở để xứng với câu thơ: E thẹn
ôm đàn che nửa mặt Ai kêu ai gọi cũng làm thinh. Viết đến đâu, Kim Dung trích dẫn
thơ ca đến đó: Xuân câu thuỷ động trà hoa bạch Hạ cốc vân sinh lệ tử hồng (Dòng
xuân nước gợn hoa trà trắng Non hạ mây vương trái vải hồng) Hoặc: Thanh quần ngọc
diện như tương thức Cửu nguyệt trà hoa mãn độ khai (Quần xanh vóc ngọc như từng
gặp Tháng chín, hoa trà rợp lối đi) Thật sự, Trung Quốc đã từng có tác phẩm Điền
trung trà hoa ký nghiên cứu về hoa trà trong đó có đoạn: “Đại Lý trà hoa tối
giáp hải nội, chủng loại thất thập nhị, đại ư mẫu đơn. Nhất vọng nhược hỏa tề
vân cẩm, thước nhật chưng hà.” (Hoa trà Đại Lý đứng đầu thiên hạ, gồm 72 loại
khác nhau, có loại lớn hơn cả hoa mẫu đơn, khiến ta đứng xa vẫn trông đỏ rõ một
góc trời như mây gấm hoà vào cho màu trắng ban mai thêm rực rỡ). Thật ít có nhà
văn nào đạt được kiến thức hoa học và vận dụng kiến thức ấy - vốn thuộc phạm vi
sinh học – vào văn chương một cách nhuần nhuyễn như Kim Dung. Đúng là Kim Dung
đã đưa hoa vào tác phẩm văn chương võ hiệp của mình, dùng hình ảnh tươi đẹp của
hoa để chế ngự bớt tính chất căng thẳng và đôi khi tàn nhẫn của thế giới võ hiệp.
Hoa là biểu tượng cho một dạng công lực thượng thừa, Kẻ luyện nội công đến mức
cao siêu nhất được gọi là “Tam hoa tụ đỉnh”. Hoa được dùng để đặt tên cho các
pho võ công: Niêm hoa chường, Niêm hoa chỉ của phái Thiếu Lâm; Thiên Sơn thiết
mai thủ của phái Tiêu Dao; Lạc anh chưởng pháp của Đào hoa đảo. Hoa trở thành mệnh
lệnh tấn công như khi bang chúng Cái bang hát bài Liên hoa lạc (cánh sen rơi)
thì có nghĩa là họ kết Đã cẩu trận để chống lại kẻ địch, bao vây kẻ địch. Hoa
trở thành đòn thức, chiêu thế của người sử dụng võ công, và khi sử dụng, giới
võ lâm phải thể hiện cho được yếu tính của đòn thức, chiêu thế mang tên hoa đó.
Nhà sư Thổ Phồn Cưu Ma Trí khi đánh chiêu Niêm hoa vi tiếu trong Niêm hoa chỉ vẫn
giữ được khuôn mặt tươi cười, tư thế ung dung của khái niệm niêm hoa (cánh hoa
chưa nở). Nhà sư Hư Trúc sử dụng Thiên Sơn chiết mai thủ với phong cách nhẹ
nhàng, khuôn mặt trầm tĩnh đúng như người đang bẻ cành mai trên núi Thiên Sơn
mà kình lực có thể làm tan bia, vỡ đá. Phái Thiếu Lâm có chiêu Hoa khai kiến Phật
(Hoa nở thấy Phật) bó buộc đệ tử Thiếu Lâm chấp hai tay lên trước ngực, vừa hàm
ý chào kính kẻ địch, vừa thể hiện đức từ bi của nhà Phật: đấu tranh là phải đấu
chứ không muốn giết hại lẫn nhau. Ta bắt gặp trong tiểu thuyết Kim Dung những
tên gọi Lạc hoa lưu thủy (hoa rụng nước trôi), Mãn thiên hoa vũ (mưa hoa đầy trời),
Liên hoa phất huyệt thủ (đánh huyệt như phất hoa sen), Hồ điệp xuyên hoa (bướm
len giữa khóm hoa), Thiên nữ tán hoa (tiên nữ rắc hoa)... Hoa muôn đời là biểu
tượng của người phụ nữ đẹp, là biểu tượng của cô gái trong trắng thơ ngây. Kinh
Thi có câu: “Xước ước như xử nữ” (mềm mại như gái trinh) và từ “xước ước” cũng
đồng thời là từ diễn tả dáng thanh lịch của ngàn hoa. Những nhân vật nữ của Kim
Dung như Nhậm Doanh Doanh, Nhạc Linh San, Nghi Lâm, Lam Phượng Hoàng (Tiếu ngạo
giang hồ), Hoàng Dung, Quách Tương, Tiều Long Nữ (Thần điêu hiệp lữ), Hân Tố Tố,
Triệu Minh, Chu Chỉ Nhược, Tiểu Siêu (Ỷ thiên Đồ long ký)... đều có “khuôn mặt
đẹp như hoa nở, nụ cười tươi như hoa nở”. Những cô gái trinh bạch, xinh đêp ấy
được gọi là Hoàng hoa khuê nữ (cô gái trong phòng khuê dịu dáng như hoa cúc)
nhưng lĩnh vực hoạt động của họ không phải là phòng khuê nữa mà là giới giang hồ.
Họ là hào khách võ lâm biết yêu hoa: Vương phu nhân yêu hoa trà, Mộc Uyển Thanh
yêu hoa mai côi (hoa hồng) và con người cô cũng toát ra mùi hương tự nhiên của
mai côi đến nỗi cô có ngoại hiệu là Hương Dược Xoa (Thiên Long bát bộ), Lăng
Sương Hoa, con gái tri phủ Giang Lăng thành Lăng Thoái Tư yêu hoa cúc (Liên
thành quyết). Kẻ nào manh tâm chiếm đoạt trinh tiết người phụ nữ bị Kim Dung gọi
là tên Thái hoa dâm tặc (tên dâm tặc chuyên hái hoa). Trong Tiếu ngạo giang hồ,
có gã Giang dương đại đạo thái hoa dâm tặc vạn lý độc hành khoái đao Điền Bá
Quang. Hắn gớm ghiếc đến nỗi phụ nữ nhà lành cũng bị cha mẹ cấm không được gọi
đến tên. Nhà sư Bất Giới đã trừng trị tội dâm dật của hắn bằng cách điểm trọng
huyệt, xuyên một cặp tụ tiễn (mũi tên nhỏ) vào bộ phận sinh dục để hắn không thể
“hái hoa” được nữa. Ngoại hiệu của nhà sư là Bất Giới (không cấm cản chi hết)
nhưng nhà sư buộc Điền Bá Quang phải cạo đầu làm sư, đặt lại ngoại hiệu cho hắn
là Bất Khả Bất Giới (không thể không cấm). Cách trừng trị kinh khủng như vậy là
nhằm bảo vệ những đời hoa! Hoa là biểu tượng của tình yêu lứa đôi, và đặc biệt
trong võ hiệp tiểu thuyết của Kim Dung, là biểu tượng của tình yêu chung thuỷ.
Thời đôi mươi, Vương phu nhân say mê Đoàn Chính Thuần, thất thân với y và sinh
ra Vương Ngọc Yến. Đoàn Chính Thuần là hoàng thái đệ của Đoàn Chính Minh, vua Đại
Lý; không thể cưới được Vương phu nhân. Tương tư tình lang, Vương phu nhân đem
trà Đại Lý về trồng tại Giang Nam, lập nên cái gọi là Mạng đà sơn trang (Thiên
Long bát bộ). Còn trong Liên thành quyết, Kim Dung đã thực sự tạo cho hoa cúc một
tâm hồn riêng khi ông xây dựng mối tình Đinh Điển – Lăng Sương Hoa. Đinh Điển
luyện thành thần công Thần chiếu kinh, chỉ cần vươn tay ra chộp một cái là kẻ
thù phải chết. Anh yêu tiểu thư Lăng Sương Hoa, con gái tri phủ Lăng Thoái Tư
thành Giang Lăng, nên ẩn thân vào nhà tù thành Giang Lăng để ngày ngày được ngắm
màu hoa cúc vàng trên cửa sổ do chính Lăng Sương Hoa chăm sóc. Lăng Sương Hoa
ra sức chăm bón hoa, giữ cho hoa tươi mãi để tạ lòng người yêu. Tình yêu lặng lẽ
giữa người tù và cô tiểu thư diễn ra thật nên thơ những cũng rất mạnh mẽ. Tri
phủ Lăng Thoái Tư biết được điều đó; lão cố tìm mọi cách để giết Đinh Điển để
chiếm đoạt bộ Liên thành quyết - một bí lục mô tả đường đi nước bước của mộ kho
báu trị giá liên thành. Lão bức tử con gái, đặt cô vào quan tài rồi tẩm thuốc độc
lên vỏ quan tài, chờ Đinh Điển sa bẫy. Quản nhiên một hôm Đinh Điển nhận ra rằng
chậu hoa cúc trên cửa sổ của người tình đã héo úa. biết rằng Lăng Sương Hoa đã
gặp điều gì đó chẳng lành, Đinh Điển vượt ngụ, thâm nhập vào tư dinh Lăng Thoái
Tu. Thấy tấm bài vị đề “Lăng Sương Hoa ái nữ chi linh vị” trên nắp quan tài,
anh đau xót ông lấy quan tài khóc rống lên và lập tức bị trúng độc. Đinh Điển
chết, dặn dò lại nghĩa đệ là Địch Vân phải hợp táng xương cốt của anh và Lăng
Sương Hoa chung một nơi. Lăng Sương Hoa được chôn trong nghĩa địa phía tây
thành Giang Lăng còn Đinh Điển thì chết ở vùng Quan ngoại. Cuối truyện, chàng Địch
Vân mang bọc xương cốt của nghĩa huynh Đinh Điển từ ngàn dặm trở lại Giang
Lăng, đào mả Lăng Sương Hoa và hợp táng hai người. Anh còn mua hoa cúc, cuốc đất
chung quanh mộ rồi trồng cho hai người mấy cụm với ước mong hương hồn họ nhìn
thấy bóng hoa và được sống lại với tình yêu cũ. Liên thành quyết có cái buồn và
chất thơ lãng mạn xuyên suốt toát ra từ bóng hoa cúc vàng - mối tình của Đinh
Điển và Lăng Sương Hoa. Người yêu hoa thì rất quý hoa, xem hoa như là bạn; còn
kẻ ghét hoa thì rất giận hoa, xem hoa là thù địch. Đó là trường hợp của Vi Tiểu
bào, một tiểu lưu manh bất học vô thuật, may mắn trở thành quan lớn triều Khang
Hy (Lộc Đỉnh ký). Vua Khang Hy ra lệnh cho Vi Tiểu Bảo làm khâm sai đại thần,
trở về quê quán thành Dương Châu xây dựng toà Trung liệt từ. Nghe đồn Vi Tiểu Bảo
là một thiếu niên, tưởng gã là người có tài văn học, các quan ở Dương Châu bèn
mời gã vào uống rượu ngâm thơ trong chùa Thiền Trí. Mùa ấy, hoa thược dược đang
nở mà thược dược ở Dương Châu và chùa Thiền Trí là thứ hoa tươi đẹp nhất thiên
hạ. Nhìn thấy thược dược tươi hơn hớn, Vi Tiểu Bảo tức muốn sôi gan. Nguyên
lai, lúc mới lên chín mười tuổi, gã đã từng cùng bọn tiểu lưu manh thành Dương
Châu đột nhập chùa Thiền Trí hái trộm hoa thược dược. Một nhà sư nào đó đã rượt
cả bọn chạy, Vi Tiểu bảo nhỏ con, chạy chậm bị nhà sư nắm áo éo lại, tát cho một
cái. “Mối thù” ấy âm ỉ mãi trong lòng gã nên khi quay về Dương Châu, thấy lại
thược dược đại đóa nở phô hồng khoe tía trong chùa Thiền Trí là gã nổi nóng. Gã
đặt chuyện nói rằng vua Khang Hy đang nuôi bầy ngựa chiến và ra lệnh cho gã chặt
hết thược dược trong thiên hạ để làm thức ăn cho ngựa. Nghe câu nói đó, bá quan
văn võ Dương Châu và các nhà sư chùa Thiền Trí đều vỡ mật kinh tâm. May mắn là
viên tuần phủ Dương Châu học rộng biết nhiều. Viên tuần phủ phải nịnh Vi Tiểu Bảo
rằng thược duợc là tượng trưng cho người đàn ông thành đạt, công danh hiển
hách; rằng Vi Tiểu Bảo về Dương Châu đúng mùa thược dược mãi khai là điều tốt
lành, ngày sau ắt thăng quan tiến chức cao sang không biết bao nhiêu mà lường.
Cho nên việc chặt hoa thược dược cho ngựa ăn là chuyện rất uổng. Viên tuần phủ
còn ngắt một đóa hoa thược dược kình cẩn gài lên mũ của Khâm sai đại thần và
chúc phúc. Quả nhiên lời nói khôn khéo đó của viên tuần phủ đã làm nguôi cơn giận
của Vi Tiểu Bảo, cứu được ngàn hoa của chùa Thiền Trí và thành Dương Châu. Kiến
thức về hoa của Kim Dung thật phong phú. Loại hoa gì, tính năng ra sao, nở mùa
nào, có nhiều ở địa phường nào đều được lý giải một cách cặn kẽ. Mỗi mùa hoa,
mang hteo một loại chướng khí. Chướng khí là hậu quả của cây lá rụng xuống ao
chằm, rồi bốc lên, tạo thành những dịch bệnh cho con người. Tháng ba âm lịch có
Đào hoa chướng, tháng năm chó Lựu hoa chướng, tháng tám có Phù dung chướng. Kim
Dung cho biết người Vân Nam vốn yêu hoa trà, coi hoa trà là một loài hoa quý
cho nên không lấy tên hoa trà để gọi chướng khí. Hoa làm đẹp thêm cho tác phẩm
võ hiệp của Kim Dung, tạo nên chiều sâu cho tác phẩm. Hoa là nơi gửi gắm tâm
tình con người. Chất thơ tự có trong hoa biến thành chất thơ cho tác phẩm. Đoc
Kim Dung càng nhiều lần, ta càng khám phá ra thêm nhiều vẻ đạp, càng nhận ra
làn u hương thuần nhã của hoa. Giòng xuân nước gợn hoa trà trắng Non hạ mây
vương trái vải hồng. Có người nói bóng hoa trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung
là hình ảnh của Hạ Mộng, người tình của ông. Hạ Mộng đã xa ông như lạc hoa lưu
thủy. Và tiểu thuyết của ông giàu bóng hoa, hương hoa bởi Hạ Mộng vẫn sống
trong trái tim ông. Y học
Khát vọng sống lâu, mạnh
khỏe không chỉ là khát vọng riêng của người Trung Quốc mà còn là của toàn thể
nhân loại. Trung Quốc là đất nước có một nền y học cổ truyền rất thâm hậu và những
hoạt động y học cổ truyền của đất nước này đã hình thành khái niệm Đông y. Hơn
1.800 năm trước, danh y Hoa Đà đã có những công trình nghiên cứu y học thời
danh, trong đó có nguyên tắc luyện khí công gọi là Ngũ thú khí công (hay Ngũ cầm
hí), mô phỏng chiêu thức hoạt động của loài cọp, gấu, nai, khỉ và hạc (Hổ hí,
Hùng hí, Lộc hí, Hầu hí, Hạc hí). Quan điểm cơ bản của Hoa Đà có thể tóm tắt là
mô phỏng hoạt động của năm động vật trên, hít làm không khí thanh lương vào phổi
và nạp xuống Đan điền, vận dụng vào từng bộ phận trên cơ thể, giúp con người khỏe
mạnh. Võ học thấy rằng sức mạnh đó có thể dùng để chế ngự được kẻ khác. Có thể
nói, truyện võ hiệp Kim Dung cũng tràn đầy kiến thức y học. Đọc truyện võ hiệp
Kim Dung, người ta thường bắt gặp hai khái niệm nội công và ngoại công. Nội
công là tiềm lực, sức mạnh bên trong của hào khác giang hồ. Ngoại công là chiêu
thức, quyền cước bên ngoài. Kẻ có nội công cao, theo Kim Dung mô tả, là kẻ hái
một chiếc lá, bẻ một bông hoa cũng có thể sát thương địch thủ. Kẻ có ngoại công
cao thì thái dương huyệt gồ cao, khi vũ lộng tay chân, gân cốt nổi lên, các khớp
xương kêu răng rắc. Nội công là cái gốc, ngoại công là cái ngọn. Luôn luôn kẻ
có nội công cao là kẻ hơn người. Trong 12 bộ tiểu thuyết, có trường hợp cá biệt
Kim Dung để cho ngoại công thắng nội công. Nhạc bất quần, sư phụ Lệnh Hồ Xung,
chưởng môn phái Hoa Sơn theo phe Khí tông (lấy khí làm chủ). Y dạy Lệnh Hồ Xung
rằng phải vận khí trước rồi mới phóng chiêu thức ra sau, mỗi chiêu thức đều có
thuớc tấc, bộ vị nhất định. Khi Lệnh Hồ Xung tình cờ gặp thái sư thúc tổ Phong
Thanh Dương theo phe Kiếm tông (lếy kiếm thức làm chủ), đang ẩn cư trong hang
núi Hoa Sơn thì Phong Thanh Dương dạy Lệnh Hồ Xung rằng chỉ cần kiếm chiêu liên
miên bất tuyệt, đánh ra theo ý muốn của mình như nước chảy mây trôi là đã khắc
chế được địch thủ. Lệnh Hồ Xung đã lĩnh hội được phép sử kiếm ý (ý nghĩ đến
đâu, kiếm phóng ra đến đó) chứ không sử kiếm chiêu và gọi đó là biện pháp “liệu
địch tiên cơ” (ra tay, chiếm thời cơ trước kẻ địch). Và rõ ràng, phương pháp Kiếm
tông đã thắng Khí tông: Lệnh Hồ Xung mất hết công lực vẫn đánh ra một chiêu,
đâm mù mắt 15 kẻ địch hùng mạnh (Tiếu ngạo giang hồ). Các khái niệm nội công,
ngoại công, chiêu thức - đầu tiên là khái niệm y học chứ không phải của võ học.
Trong mỗi bộ sách của mình, Kim Dung thường xây dựng một hoặc vài ba nhân vật
thầy thuốc. Những thầy thuốc này được gọi rất trang trọng: danh y, thần y. Bên
cạnh thứ thuốc cứu người, Kim Dung còn xây dựng những nhân vật chuyên đánh thuốc
độc, đầu độc kẻ khác. Quan điểm của ông rất mới lạ: thuốc độc cũng là một dạng
thuốc cần thiết phải dùng đến. Trong Tiếu ngạo giang hồ, người ta gặp Sát nhân
danh y Bình Nhứt Chỉ. Cả ngoại hiệu và tên của người này cũng rất lạ lùng: thầy
thuốc nổi tiếng (danh y) nhưng cứu một người thì phải giết một người (sát nhân)
và khi cứu người hay giết người, đều chỉ dùng đến một ngón tay (bình nhứt chỉ).
Bên cạnh Bình Nhứt Chỉ, Tiếu ngạo giang hồ cũng có một độc vương. Đó là Lam Phượng
Hoàng, cô gái người Miêu Cương, giáo chủ Ngũ độc giáo Vân Nam. Tài năng của
Bình Nhứt Chỉ hay đến nỗi mới bắt mạch Lệnh Hồ Xung đã biết Lệnh Hồ Xung được uống
rượu và truyền máu của bọn Ngũ độc giáo! Trong Thiên Long bát bộ, người ta gặp
Thần y Tiết Mộ Hoa. Đối lập với Tiết Mộ Hoa chuyên cứu người là một tay độc
vương dễ sợ chuyên đầu độc người. Đó là Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu, giáo chủ
Tinh Tú phái. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, có hai danh y là Điệp cốc y tiên Hồ
Thanh Ngưu và vợ là Vương Nạn Cô. Hai vợ chồng kình chống nhau bằng cách Hồ
Thanh Ngưu chữa thương cho thân chủ ban ngày thì ban đêm, Vương Nạn Cô lén đến
đầu độc cho thân chủ bệnh trở lại. Tác phẩm võ hiệp Kim Dung đã đề cập đến những
phương pháp y học, biện pháp chữa bệnh lâm sáng mà ngày nay, nhân loại vẫn đang
thực hiện. Trong cách truyền máu, Kim Dung đã mô tả phương pháp dùng đỉa hút
máu để tiếp máu ấy qua cho người bệnh. Đó là đoạn Lam Phượng Hoàng cùng các nữ
đệ tử Ngũ độc giáo tiếp máu cho Lệnh Hồ Xung (Tiếu ngạo giang hồ). Chỉ có một
điều đáng tiếc là y lý của Lam Phượng Hoàng còn non nớt nên đã đem máu thuần âm
của phái nữ truyền vào cho một nguời bệnh dư khí âm hàn như Lệnh Hồ Xung. Truyện
võ hiệp Kim Dung còn đề cập đến việc dùng thuốc. Thuốc cổ truyền Trung Hoa gồm
cao (thuốc dán), đơn (hay thang, thuốc thang), huờn (hay hoàn, thuốc viên), tán
(thuốc bột). Những nhân vật của Kim Dung đã dùng thuốc cứu chữa cho bệnh nhân của
mình: Trương Vô Kỵ ra toa, cắt thuốc thang cho Thường Ngộ Xuân (Ỷ thiên Đồ long
ký); bọn bàng môn tả đạo ăn cắp thuốc cho Lệnh Hồ Xung lại bắt 7 vị thầy thuốc
đến coi bệnh cho chàng (Tiếu ngạo giang hồ). Truyện võ hiệp Kim Dung cũng nói
nhiều đến chuyện dùng nội công chữa thương cho những người bị chấn thương vì nội
công. Trong trường hợp này, nội công của người thầy thuốc phải cao hơn hoặc
tương đương với nội công của người bị thương thì động tác chữa thương mới thực
hiện được. Như Trương Vô Kỵ dùng Tiên thiên Cửu dương công chữa trị cho trương
Tam Phong, Hân Thiên Chính và bọn quần hào trên Quang Minh Đỉnh; Bình Nhứt Chỉ
vỗ Bách hội huệt truyền nội công chữa cho Đào Thực Tiên, Bất Giới hoà thượng
trút công lực chữa trị cho Lệnh Hồ Xung. Triết học Trung Hoa cổ phân biệt rất
rõ khái niệm Lưỡng nghi (hai mặt Âm – Dương). Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái
dương, Thái âm, Thiếu dương, Thiếu âm), Tứ tượng sinh Bát quái (Càn, Khảm, Chấn,
Tốn, Cấn, Ly, Khôn, Đoài). Võ công cũng như y học trong tiểu thuyết võ hiệp Kim
Dung đều triệt để dựa trên nền tảng triết học ấy. Nội công dương cương và tính
năng dương cương hoàn toàn mâu thuẫn với nội công âm nhu và tính năng âm nhu.
Cho nên, trong Tiếu ngạo giang hồ, Tổ Thiên Thu ăn cắp Tục mệnh bát hoàn của
Lão Đấu Tử dùng cho con gái là Bất Tử, bọn Lam Phượng Hoàng truyền máu của các
cô gái Miêu cương để cứu chữa cho Lệnh Hồ Xung là sai nguyên tắc y học (và cả
triết học nữa). Chính Bình Nhứt Chỉ khi cầm tay Lệnh Hồ Xung chẩn mạch đã khám
phá ra lập tức tình trạng pha trộn âm dương trong con người Lệnh Hồ Xung. Lão lại
khám phá ra thêm rằng thân chủ của mình bạc nhược tinh thần, bị tình yêu hành hạ,
bị rượu làm cho con người hô héo. Lão chửi toáng lên: “Mẹ cha nó! Thật là nát
bét đến năm bảy tầng. Người thật là con người chẳng ra gì”. Nếu Lệnh Hồ Xung
không phải là người yêu của Thánh cô Doanh Doanh, nếu không phải đích thân
Doanh Doanh mời lão đến chữa thương cho Lệnh Hồ Xung thì lão đã tát cho Lệnh Hồ
Xung mấy cái ra trò vì đã uống thuốc tào lao, nhận máu của bọn Lam Phượng
Hoàng, mất hết nội công mà còn nát rượu và bạc nhược tinh thần vì gái! Thế
nhưng, thỉnh thoảng âm dương cũng có thể hoà hợp nau trong một con người. Đó là
trường hợp của Thạch Phá Thiên (Hiệp khách hành), uống hai thứ rược âm dương của
Trương Tam và Lý Tứ. truyện của Kim Dung cũng mô tả tình trạng dùng lý trí chống
lại cơn khao khát tình dục. Người Trung Hoa gọi động tính giao giữa nam nữ là
âm dương hoà hợp. Chính vì vậy, để phá thanh danh của hoàng gia Đại Lý, Thanh
bào khách Đoàn Diên Khánh đã buộc thế tử Đoàn Dự và Mộc Uyển Thanh (nghi là em
cùng cha khác mẹ với Đoàn Dự), uống một loại thuốc kích dục cực mạnh là Âm
dương hòa hợp tán. Mộc Uyển thanh không đủ công lực, cơn khát khao tình dục nổi
lên nhưng Đoàn Dự vốn là người học đạo Nho, vẫn giữ được lý trí sáng suốt,
không thể loạn luân với cô em gái. Tác phẩm võ hiệp của Kim Dung đã đề cập đến
các động tác chấn thương chỉnh hình. Dư Đại Nham phái Võ Đang bị Kim Cương chỉ
đánh gãy hết các khớp xương phải nằm thoi thóp 20 năm (Ỷ thiên Đồ long ký).
Trương Vô Kỵ học được y thuật của Hồ Thanh Ngưu, xin phép Dư Đại Nham gõ vỡ hết
các khớp xương để dán thuốc cao chỉnh hình trở lại. Trong truyện này cũng nói đến
một ca chấn thương sọ não kỳ lạ. Tống Thanh Thư mưu phản môn phái, bị tứ sư thúc
là Dư Liên Châu dùng Thái cực quyền phái Võ Đang đánh vỡ xương sọ. Trương Vô Kỵ
nhận chữa bệnh cho bệnh nhân này. Anh diểm huyệt để gây mê, cạo hết tóc, ráp lại
xương sọ rồi băng bó. Sau này, Thanh Thư chết vì bị Trương Tam Phong trừng trị
nhưng sách võ hịêp vẫn còn để lại một ca chữa chấn thương sọ não khá thú vị. Thế
nhưng, dù y học có tài giỏi đến đâu, y thuật có thâm hậu đến đâu, người ta vẫn
đầu hàng những trường hợp bệnh cấp tính, đặc biệt là bệnh vì trúng chất Kỵch độc.
Trong trường hợp đó, Kim Dung sử dụng biện pháp cuối cùng: chặt bỏ. Lộc Đỉnh ký
có đoạn thuật chuyện bọn Lạt ma Tang Kết từ Tây Tạng xuống Trrung Quốc, truy đuổi
Cửu Nạn sư thái và Vi Tiểu Bảo để lấy cho được bộ Tứ thập nhị chương kinh. Vi
Tiểu Bảo chống không lại, đã nghĩ cách đầu độc Tang Kết bằng một chất Kỵch độc
trong Hoàng cung Thanh triều mà y vẫn thường mang theo bên người: Hoá thi phấn.
Y nhúng nước cho Tứ thập nhị chương kinh ướt đi rồi rắc hóa thi phấn vào đó.
Quyển kinh đã bị nhiễm độc: những ngón tay dùng để giở các tờ kinh bị ướt nhanh
chóng bị nhiễm độc, cụt đi và chảy thành nước vàng. Tang Kết nhanh trí chặt bỏ
cánh tay của mình mới toàn mạng sống. Trong Thiên Long bát bộ có đoạn Thần Nông
bang chúa Tư Không Huyền bị rắn độc cắn, phải chặt bỏ cánh tay. Muốn ngăn nọc độc
vào tim phổi Tráng sĩ già gan chặt cánh tay (Kim Dung) Truyện võ hiệp Kim Dung
đề cập đến khá nhiều động tác phong tỏa huyệt đạo. Muốn phong tỏa huyệt đạo,
người học võ phài hiểu toàn bộ hệ thống huyệt đạo con người, phải nhả vào huyệt
đạo bao nhiêu kình lực mới đủ sức phong tỏa. Phong tỏa huyệt đạo nhằm khắc chế
một địch thủ, nhằm chữa thương cho một người, giúp người đó tránh được cảm giác
đau đớn hoặc giảm cảm giác đau đớn. Phong tỏa huyệt đạo còn nhằm ngăn chặn quá
trình nhiễm độc, an tĩnh và trấn định thần kinh. Những nhân vật của Kim Dung đã
sử dụng thủ pháp châm cứu để phong tỏa huyệt đạo như vậy. Hồ Thanh Ngưu, Trương
Vô Kỵ đã dùng gai, dùng tăm tre thay cho kim sắt, châm cứu cho bệnh bệnh nhân.
Từ vị trí các huyệt đạo của y học, Kim Dung đã mô tả những đòn thế đánh vào các
huyệt đạo để giải khai tình trạng bị phong tỏa, để gây những chấn thương trầm
trọng cho địch thủ. Thí dụ các huyệt Đan điền, Thái Dương, Bách hội là những trọng
huyệt. Đánh vào đúng những huyệt này có thể làm đối thủ chết hoặc bị thương nặng.
Tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung cũng đề cập đến động tác đả thông huyệt đạo,
giúp người luyện võ thăng tiến công lực, đốt giai đoạn trong quá trình rèn luyện
để đạt nhanh tới mức thượng thừa. Ông thường nói đến những nhân vật đã được đả
thông hai trọng đểm Sinh Tử huyền quan, hoặc Kỳ kinh bát mạch nhưng trong trường
hợp của nhà sư trẻ Hư Trúc được Vô Nhai Tử đả thông kinh mạch và truyền cho nội
lực thượng thừa. Tác phẩm võ hiệp Kim Dung cũng phác thảo những ca phẫu thuật
hy hữu. Đào Thực Tiên bị kiếm đâm lòi ruột được Bình Nhứt Chỉ khâu vết thương.
trương Vô Kỵ trên Tuyết Sơn mổ vết thương cho con vượn già, tìm được bộ Cửu
dương chân kinh. Các nhân vật của Kim Dung thường thông thạo cách băng bó, sát
trùng, giữ vệ sinh cho những người bị ngoại thương. Vượt xa những tác phẩm
đương đại, Kim Dung cũng thường hay đề cập đến cách luyện độc và dùng độc bởi
vì thuốc độc cũng là thuốc. Có kẻ tự nguyện luyện độc như Hân Lý (Ỷ thiên Đồ
long ký) luyện môn Thiên châu tuyệt hộ thủ bằng cách cho loài nhện chúa (châu)
cực độc hút máu bàn tay của mình và truyền vào đôi tay mình chất Kỵch độc của
loài nhện. Với cách luyện này, nếu thành công, hơi thở của Hân Ly sẽ thơm như
mùi hoa lan (?) và khi cô chộp vào địch thủ nào thì dẫu địch thủ ấy có sống được
thì cũng không thể sinh con đẻ cái được nữa (tuyệt hộ). Du Thản Chi (Thiên Long
bát bộ) đã bị băng tàm trùng độc do nhà sư Tam Tỉnh mang từ Tây Vực về truyền hết
chất âm hàn vào người. May mà hắn không chết vì trước đó hắn đã học... trật bộ
Dịch Cân Kinh Thiếu Lâm khiến toàn bộ kinh mạch trong người bị đảo lộn. Với nội
công âm hàn, hắn chỉ khẽ vỗ vào địch thủ một chiêu cũng khiến cho địch thủ lên
cơn rét và biến thành nước đá (!). Có luyện độc tất có dùng độc. Một cách dùng
độc khá hy hữu nhưng cũng rất mới lạ của cung Linh Thứu là cấy Sinh tử phù vào
người đối thủ. Hư trúc, dưới chân núi chùa Thiếu Lâm, đã dùng Bắc minh chân khí
hoá những giọt rượu của đệ tử tạt lên không gian thành những miếng băng nhỏ, cấy
vào những trọng huyệt của Đinh Xuân Thu, khắc chế lão ma đầu này phải quy thuận.
Nói theo y học hiện đại, đó là phương pháp cấy một chất kháng nguyên vào người
bệnh nhân và khi kháng nguyên phát tác thì bệnh nhân chỉ còn biết đến năn nỉ thầy
thuốc chữa trị. Trong Lộc Đỉnh ký, những nhân vật dùng độc khá nhiều. Hải lão
công dùng Hủ cốt tán (thuốc làm nát xương dần dần) bỏ vào trà cho Vi Tiểu Bảo uống.
Giáo chủ Thần long giáo Hồng An Thông dùng Độc long dịch cân hoàn cho thuộc hạ
uống. Giáo chủ Ma giáo Đông Phương Bất bại (Tiếu ngạo giang hồ) lại cho bọn thuộc
ha uống Tam thi não thần đan. Tên thuốc thì rất hay nhưng là thuốc độc, uống
vào phải trung thành (hoặc giả bộ trung thành) với người cho uống. Nếu có hành
vi chống đối, tất không có thuốc giải, phải chịu nhận cái chết thảm thương. Kim
Dung cũng mô tả những thủ pháp đánh độc dược rất tinh tế, đẵc biệt ở dạng thuốc
bột. Thuốc bột được bôi lên quan tài (Liên thành quyết), được phủ trong khăn mặt,
được hoà vào rượu, trộn vào thức ăn, được rải bay trong gió. Công lực là tiềm lực
võ thuật của từng cá nhân, không thể đem cho người khác được. Nhưng tiểu thuyết
gia Kim Dung cực kỳ lãng mạn: ông cứ cho các nhân vật của mình đem công lực cho
kẻ khác. Chính vì vậy, Nhậm Ngã Hành, giáo chủ Ma giáo, đã hút công lực kẻ khác
bằng thủ pháp Hấp tinh đại pháp. Đào cốc lục tiên và Bất Giới hoà thượng đem
công lực truyền cho Lệnh Hồ Xung. Đoàn Dự hút công lực của các đệ tử Huỳnh Mi
Tăng, biến tất cả thành những người võ công tàn phế. Cáng lãng mạn hơn nữa, Kim
Dung cho phép thủ pháp xoá hẳn công lực của một người khác, tu theo một môn
phái khác để truyền công lực mới vào. Đó là Vô Nhai Tử xoá hết công lực Thiếu
Lâm của Hư Trúc và truyền công lực của phái Tiêu Dao vào, biến nhà sư trở thành
đại biểu của phái Tiêu Dao! Huyệt đạo trong cơ thể con người thường ở vào những
vị trí cố định, ai cũng như ai. nhưng với trí tưởng tượng phong phú của Kim
Dung, theo tình huống đưa đẩy câu chuyện, ông đã để cho những nhân vật cá biệt
của mình luyện tập sai phương pháp; huyệt đạo không còn ở đúng chỗ cũ nữa. Đó
là trường hợp của Du Thản Chi (Thiên Long bát bộ) luyện sai Dịch cân kinh Thiếu
Lâm, của Âu Dương Phong (Xạ điêu anh hùng truyện) luyện sai Cửu âm chân kinh đến
nỗi xuống đời phải đi bằng tay, chúc đầu xuống đất. Tiểu thuyết võ hiệp Kim
Dung cũng đề cập đến những vị thuốc mà thường là thuốc quý dùng trong y học. Đọc
Thiên Long bát bộ, ta thật sự xúc động khi Tiêu Phong đánh quá tay A Tử, hối hận
vì hành động thiếu anh hùng của mình, đã bồng cô ra cùng Đông Bắc Trung Quốc kiếm
nhân sâm, tay gấu chữa bệnh cho cô. Tác phẩm của ông cũng từng đề cập đến Linh
chi thảo (cỏ linh chi) hoặc Thiên niên Tuyết liên tử (hạt sen ngàn năm trên đất
tuyết) có giá trị hồi dương. Cũng trong Thiên Long bát bộ, Đoàn Dự nuôt lộn con
nhái đỏ Mãng cổ chu cáp mà trở thành người có nội công đệ nhất. Vị thuốc nằm
trong toa thuốc. Tuy nhiên, có những toa thuốc mang ý nghĩa ẩn dụ một cách tuyệt
vời mà các thầy lang bình thường chưa chắc khám phá được, như toa thuốc mà Hồ
Thanh Ngưu ra cho Trương Vô Kỵ: Phòng phong, Độc hoạt, Đương quy, Xuyên sơn
giáp, uống vào canh ba. Cậu bé Trương Vô Kỵ 15 tuổi đọc toa thuốc này, hoàn
toàn hoài nghi về cách ra toa bừa bãi với các vị thuốc phổ thông của Hồ Thanh
Ngưu. Nhưng trí thông minh đã giúp cậu hiểu ra nghĩa ẩn dụ nằm trong những vị
thuốc bình thường: coi chừng (Phòng phong), đi một mình (độc hoạt), quay về
(Đương quy), bằng cách đi ngang qua núi (Xuyên sơn giáp). Hồ Thanh Ngưu đang
lúc lâm nguy, muốn cứu Trương Vô Kỵ nên ra toa thuốc bảo chàng trốn đi vào lúc
canh ba ra khỏi Hồ điệp cốc ngay! Tôi xin nhắc sơ lược đến hai chữ “tình yêu” khá
lạ lùng của Kiến Ninh công chúa (Lộc Đỉnh ký) và cặp Đông Phương Bất Bại –
Dương Liên Đình (Tiếu ngạo giang hồ). Nếu nhìn dưới nhãn quan y học thì các
nhân vật vừa nói ít nhiều đã bị chứng bệnh tâm thần và Kim Dung đã mô tả cho
chúng ta (chứ không bình luận) về trạng thái bệnh lý của họ. Kiến Ninh công
chúa, cô bé mới 14 tuổi, là một nhân vật bị chứng khổ dâm (Masochisme). Chứng
khổ dâm được định nghĩa là “trạng thái mà trong đó chủ thể chỉ tìm thấy được
khoái lạc tình dục qua sự đau đớn về thân xác” (Perversion dans laquelle le
sujet recherche le plaisir sexuel dans la douleur physique – Petit Larousse).
Kiến Ninh công chúa chỉ thực sự tìm thấy khoái lạc khi thái giám giả hiệu Vi Tiểu
Bảo bóp cổ, đánh đập, lấy dao rạch, lấy dây quất vào người cô trước khi chăn gối.
Còn Đông Phương Bất Bại đã tự thiến để luyện Quỳ hoa bảo điển (một tên gọi khác
của Tịch tà kiếm phổ) nên thành ái nam ái nữ. Y chỉ tìm thấy được khoái lạc
tình dục khi có Dương Liên Đình, một nhân vật tốt tướng đẹp trai, ăn mặc xa hoa
như một nhà hao phú. Khi bị bốn cường địch là Nhận Ngã Hành, Hướng Vân Thiên,
Doanh Doanh và Lệnh Hồ Xung bao vây, y chỉ cần chống đỡ bằng một cây kim thêu
mà đã đâm Ngã Hành mù một mắt. Phải đến lúc Doanh Doanh hành hạ Dường Liên
Đình, Đông Phương Bất Bại nhìn thấy và đau đớn, mới chịu thua và chết dưới tay
sát thủ của Nhậm Ngã Hành. Võ học luôn kết hợp chặt chẽ với y học. Môn phái nào
trong võ hiệp Kim Dung cũng biết dùng thuốc, chữa thương, nuôi nấng và chăm sóc
người bị thương. Tất cả đều dựa trên y thuật cổ truyền của người Trung Hoa và
do vậy, những điều mà Kim Dung diễn đạt đều có cơ sở khoa học. Thỉnh thoảng,
trong vài bộ tiểu thuyết của ông cũng có những điều phi khoa học hoặc không được
khoa học hiện đại kiểm chứng như chuyện thay đổi công lực, đả thông hai huyệt
Nhâm Đốc. Người ta có thể hoài nghi các giả thuyết đó. Nhưng ai cấm được sự hư
cấu, vốn là tình thần và nguyên tắc của sáng tạo tiểu thuyết? Ai cấm được nhà
văn diễn đạt một cách lãng mạn, vượt ra ngoài quy luật thông thường của cuộc sống.
Một điều rõ ràng là Kim Dung chỉ viết tiểu thuyết chứ không hề viết sách nghiên
cứu về y học Trung Hoa. Nhưng dù là nhà tiểu thuyết, rõ ràng ông đã nghiên cứu
kỹ lĩnh vực y học của dân tộc ông để dung nạp một cách hài hoà với lĩnh vực võ
học tạo ra nhưng kiến thức y học phong phú cho tác phẩm và đem lại hứng thú cho
người đọc. Kiến thức y học cũng như võ học ấy được xây dựng trên nền tảng kiến
thức triết học Trung Hoa. Tất cả khởi đi với âm dương và cùng trở về trong cái
lẽ huyền diệu của âm dương.
Tình yêu
Tuy tên gọi là tiểu thuyết
võ hiệp nhưng bản chất những tác phẩm của Kim Dung là tình yêu đôi lứa nồng thắm.
Chính tình yêu đã làm nên tính cách nhân bản và khiến cho hàng tỉ người say mê
tác phẩm của Kim Dung. Một cách khái quát, Kim Dung đã xây dựng những cặp nhân
vật hoặc những cụm nhân vật rồi tạo điều kiện cho họ gặp gỡ hiểu biết và yêu
nhau. Ông đã rất tinh tế để cho các nhân vật chính phái yêu tà phái, bạch đạo
yêu hắc đạo để tạo nên những mâu thuẫn chiều dọc xuyên suốt chiều dài của tác
phẩm và những mâu thuẫn chiều sâu trong tâm hồn của từng nhân vật. Điều đặc biệt
là những nhân vật nữ của ông thường rất đẹp, rất thông minh, xuất thân từ Ma
giáo hoặc ít nhất cũng mang “một chút tà khí trong người”. Đó là những cặp và
những cụm nhân vật Lệnh Hồ Xung - Nhậm Doanh Doanh (Tiếu ngạo giang hồ), Trương
Thuý Sơn – Hân Tố Tố, Trương Vô Kỵ - Triệu Minh – Chu Chỉ Nhược – Hân Ly - Tiểu
Siêu (Ỷ thiên Đồ long ký); Kiều Phong – A Châu, Đoàn Dự - Vương Ngọc Yến - Mộc
Uyển Thanh – Chung Linh, Du Thản Chi – A Tử, Hư Trúc – Văn Nghi công chúa
(Thiên Long bát bộ), Thạch Phá Thiên – A Tú (Hiệp khách hành), Quách Tĩnh –
Hoàng Dung – Hoa Tranh công chúa (Xạ điêu anh hùng truyện), Dương Qua - Tiểu
Long Nữ (Thần điêu hiệp lữ)... Những mối tình được được Kim Dung dựng lên là những
mối tình thật trong sáng và do vậy, thật đẹp. Tác phẩm Kim Dung lấy bối cảnh lịch
sử từ đầu đời Thanh trở về trước (trước thế kỷ XVII), khi mà tư duy phong kiến
và nguyên tắc lễ giáo của đạo Nho đang giữ vai trò độc tôn chi phối toàn bộ những
sinh hoạt xã hội. Cho nên, những nhân vật của Kim Dung yêu trong sự cho phép của
những tư duy và nguyên tắc ấy. Thế nhưng, tính chất lãng mạn - một thuộc tính
không thể thiếu trong yêu đương – thì rất phong phú. Những nhân vật của Kim
Dung đã yêu theo phong cách của võ lâm. trước hết, họ đánh nhau, sau đó hiểu
nhau rồi mới yêu nhau. Hân Tố Tố, một nữ ma đầu, con gái Bạch mi ưng vương, đã
dùng Văn tu châm (kim râu muỗi) không chế Trương Thuý Sơn phái Võ Đang, rồi sau
đó mới yêu Trương. Triệu Minh, con gái Như Nam vương triều Nguyên lừa Trương Vô
Kỵ lọt xuống hầm sâu rồi sau đó mới yêu Vô Kỵ (Ỷ thiên Đồ long ký). Mộc Uyển
Thanh đã đánh cho Đoàn Dự thừa chết thiếu sống, sau đó mới nhận Đoàn Dự làm
lang quân (Thiên Long bát bộ). Ở một chừng mực nào đó, các nhân vật này vượt qua
hàng rào của nghi thức phong kiến và ràng buộc giáo điều của lê giáo: họ tự quyết
định tình yêu của mình và cảm thấy hạnh phúc khi được lựa chọn như vậy. Tình
yêu được mô tả trong tác phẩm võ hiệp Kim Dung mang tính phấn đấu rất cao. Các
nhân vật vượt lên hoàn cảnh, vượt qua những sự chống đối để bảo vệ tình yêu của
mình. Trương Thúy Sơn cưới Hân Tố Tố, Trương Vô Kỵ bỏ hết sự nghiệp đi theo Triệu
Minh, Nhậm Doanh Doanh lang thang qua ngàn trùng để bảo vệ Lệnh Hồ Xung, A Châu
vượt ngàn dặm ra Nhạn Môn Quan để chờ đợi Kiều Phong... là những chuyện tình đẹp.
Tình yêu được mô tả trong tác phẩm Kim Dung luôn luôn kinh qua một quá trình hy
sinh vô tận. Trương Thúy Sơn vì vợ mà tự tử khiến cho Tố Tố cũng tự vẫn để giữ
gìn danh tiết, xứng đáng với chồng. Triệu Minh từ bỏ cha và anh ruột để ra đi
cùng Trương Vô Kỵ. Tiểu Siêu về Ba Tư, lên ngôi Thánh nữ Minh giáo mà lòng đau
như cắt, cảm thấy cuộc đời hoàn toàn vô vị vì cô chỉ muốn suốt đời hầu hạ cho
Vô Kỵ thay áo, chảy đầu. Doanh Doanh cõng tình lang Lệnh Hồ Xung lên núi Thiếu
Thất, chịu để phái Thiếu Lâm cầm tù mình đổi lấy lời hứa của Phương Chứng đại
sư nhận chữa thương cho Lệnh Hồ Xung. Kim Dung đã thực sự biến tác phẩm võ hiệp
của mình trở thành những bản tình ca tươi đẹp. Những bản tình ca ấy hoá giải được
biên giới của chánh – tà, hắc - bạch, hận – thù. Chúng bành trướng cảm xúc cho
người đọc khi đọc tác phẩm. Kim Dung đã tạo ra được những nhân vật si tình kinh
điển, những “giáo chủ” của đạo tình, hoặc là yêu, hoặc là chết. Vương tử Đoàn Dự
suốt đời lẽo đẽo đi theo Vương Ngọc Yến chỉ để cho lúc nàng nguy nan là ghé vai
cõng nàng chạy trốn. Du Thản Chi chịu bịt chiếc lồng sắt vào đầu, làm một tên
Thiết Sửu giúp vui cho A Tử chỉ để được ngắm khuôn mặt thiên kiều bá mị nhưng
tràn đầy ác độc của cô. Mỹ đao vương Hồ Dật Chi say mê Trân Viên Viên, hầu thiếp
của Bình Tây vương Ngô Tam Quế đến nỗi chịu hóa thân thành một kẻ làm vườn, tưới
rau trong mấy chục năm để được lén nhìn Trần. Truyện võ hiệp của Kim Dung đã
xây dựng thành công những chàng si tình bậc nhất thiên hạ, xứng đáng đoạt huy
chương vàng trong lịch sử tiểu thuyết cổ kim. Người ta còn tìm thấy trong tác
phẩm tiểu thuyết của ông những tình yêu ngang trái, rất người, thoát ra khỏi
khuôn mẫu cho phép của lễ giáo phong kiến Trung Quốc. Đó là Tiểu Long Nữ sư phụ,
một cô gái trong sáng bị kẻ tà dâm cưỡng bức, yêu say mê đồ đệ Dương Qua. Đó là
Kỷ Hiểu Phù, vợ chưa cưới của Hân Lợi hanh phái Võ Đang, đã thất thân và đã yêu
một ma đâu của Minh giáo là Dương Tiêu. Sinh ra một đứa con gái, Hiểu Phù đã
can đảm đặt tên cho con là Dương Bất Hối (không hôi hận). Đó là Hồng phu nhân,
vợ của giáo chủ Thần long giáo và A Kha, một thiếu nữ mất hết trinh tiết, đã trở
thành vợ của Vi Tiểu Bảo. Tiểu Thuyết của Kim Dung cũng đặt ra những trường hợp
sa đoạ tình dục hết sức quái dị. Đó là Kiến Ninh công chúa, em gái vua Khang
Hy, đã sa ngã với Vi Tiểu Bảo, một gã thái giám giả mạo, từ năm 14 tuổi. Kiến
Ninh chỉ muốn được Vi Tiểu Bảo trói cột, đánh đập cho vỡ da toá máu mới được thấy
lạc thú của trao thân. Cá biệt, có trường hợp của Đông Phương Bất Bại, giáo chủ
Ma giáo, luyện Quỳ hoa bảo điển phải “dẫn đao tự cung”, trở thành kẻ ái nam ái
nữ, quan hệ “yêu đương” với gã bộ hạ là Dương Liên Đình. Khi xây dựng những
nhân vật, những loại “tình yêu” này, ông đã nghiên cứu rất kỹ những biểu hiện của
tính cuồng dâm và đồng tính luyến ái. Tác phẩm của Kim Dung có những đoạn nói đến
tình yêu thật đẹp. Những nhân vật của ông không bao giờ thốt ra miệng chữ yêu
nhưng tình yêu của họ nồng nàn trong ánh mắt, trong hành động và trong trái
tim. Đó là A Châu trở về Nhạn Môn Quan chờ Kiều Phong để suốt đời “theo đại gia
cùng đi săn chồn đuổi thỏ”. Đó là Tiểu Siêu chia tay với Trương Vô Kỵ trên biển
“về Ba Tư, đừng nói lên ngôi thánh nữ, dẫu có làm đến nữ hoàng đi nữa mà xa
công tử thì cuộc đời cũng rất vô vị”. Đó là Nhậm Doanh Doanh bắn tin cho giới
ma đầu trên giang hồ phải giết ngay Lệnh Hồ Xung vì “ta muốn ngươi ở mãi bên ta
để ta chở che, bảo vệ”. Đó là Triệu Mẫn với Trương Vô Kỵ: “Lông mày thiếp đã nhạt
màu rồi. Công tử kẻ lại giùm cho thiếp đi”. Những lời tỏ tình mang đầy tính ẩn
dụ và biểu tượng như thế khiến tác phẩm vừa sâu, vừa không dung tục. Một điểm
khác cũng đáng bàn đến là trong tác phẩm của Kim Dung vẫn có những tình yêu trá
nguỵ. Nhạc Linh San bỏ Lệnh Hồ Xung để làm vợ gã ái nam ái nữ Lâm Bình Chi bởi
mưu đồ chiếm pho Tịch tà kiếm phổ của Nhạc Bất Quần. Chu Chỉ Nhược đánh lừa hứa
hôn với Trương Vô Kỵ để đánh cắp bộ Cửu âm chân kinh theo di huấn của sư phụ là
Duyệt Tuyệt sư thái. Nhưng tuổi trẻ của Nhạc Linh San, Chu Chỉ Nhược không nghĩ
ra được sự trá nguỵ ấy. Phần trá nguỵ, âm mưu thuộc về sự sắp đặt của những người
lớn, người thầy, người cha. Đọc tác phẩm của Kim Dung, người ta khám phá ra cái
đẹp của tình yêu. So với những tác giả cùng thời, tình yêu trong tiều thuyết võ
hiệp của ông trong sáng, lành mạnh. Thông qua tình yêu, ông giáo dục cho con
người cái mỹ cảm về đạo đức. Nói rằng tác phẩm võ hiệp, thật ra chỉ là một cách
nói. Chính tình yêu đã làm nên cái hồn, sự sống cho tiểu thuyết võ hiệp. Mỗi
tác phẩm của ông ra đời trở thành một bức thông điệp ngọt ngào cho tình yêu lứa
đôi.
Tình dục
Trong ngôn ngữ Trung Hoa, chữ Dâm () được viết
với bộ Thuỷ, có nghĩa là ham mê sắc dục quá độ. Dâm được coi là một cái gì đó rất
tự nhiên đối với xã hội phong kiến Trung Hoa: vua được toàn quyền có nhiều phi
tần, quan lại và nhà giàu có quyền cưới nhiều thê thiếp. Người phụ nữ trở thành
món đồ chơi, phương tiện giải trí của người đàn ông. Tiểu thuyết võ hiệp của
Kim Dung phản ánh về xã hội phong kiến Trung Hoa nhưng cái nhìn của ông đối với
thói dâm đãng nói riêng và tình dục nói chung là một cái nhìn nghiêm túc và
nghiêm khắc. Tác phẩm Kim Dung xây dựng khá nhiều những nhân vật dâm đãng
chuyên lợi dụng tình dục. Và ông đã dành những hình phạt nặng nề theo luật
giang hồ để trừng trị những loại nhân vật đó. Trong Tiếu ngạo giang hồ, nhân vật
dâm đãng là Điền Bá Quang. Hắn vừa là tên cướp, vừa là dâm tặc, khinh công rất
giỏi và đao pháp rất nhanh. Hắn có ngoại hiệu đúng 14 chữ: Giang dương đại đạo,
thái hoa dâm tặc, vạn lý độc hành khoái đao Điền Bá Quang. Nhà sư Bất Giới đã
trừng trị hắn: xuyên tụ tiễn vào bộ phận sinh dục và buộc hắn cạo đầu làm sư với
pháp hiệu Bất Khả Bất Giới (không thể không cấm). Chính nhờ hình phạt đó mà Điền
Bá Quang bỏ được con đường tà dâm, trở thành người tử tế. Trong Xạ điêu anh
hùng truyện, nhân vật dâm đãng là Âu Dương công từ. Hắn là cháu của Tây độc Âu
Dương Phong, từ Tây Vực xuống Trung Nguyên, võ công cao cường, chuyên hãm hại
lương gia phụ nữ. Da mặt hắn lúc nào cũng trắng bệt! Nhưng Âu Dương công tử tà
môn vẫn chưa nguy hiểm bằng Doãn Chí Bình chính phái. Doãn Chí Bình là đệ tử
hàng thứ ba của phái Toàn Chân. Hắn đi ngang qua núi Chung Nam thì gặp ngay lúc
Tiểu Long Nữ phái Cổ Mộ đang thoát y để luyện võ công trong Ngọc Nữ tâm kinh.
Thế là hắn quên mất môn quy, điểm huyệt cô gái, lấy áo đạo bào phủ lên mặt cô
và đưa cô vào bụi rậm. Tiểu Long Nữ cứ ngỡ đó là Dương Qua, người học trò thân
yêu của mình. Doãn Chí Bình ăn mắm mà Dương Qua khát nước! Kim Dung nói về những
hoạt động tình dục, điều mà người ta cho là dung tục, với một bút pháp tinh tế
và trang nhã. Chính vì thế mà trong lần trở về thăm và nhận hàm Tiến sĩ danh dự
Đại học Bắc Kinh - Đại nhã chi đường của trung Quốc- vào tháng 1- 1995, người
ta đã mạnh dạn bàn đến cái nhã, cái tục và ca ngợi Kim Dung là một nhà văn
thanh nhã từ văn phong đến nội dung. Khi nói đến những hoạt động tình dục, Kim
Dung không bao giờ mô tả. Ông chỉ thuật lại bằng một vài câu ngắn gọn và dành
phần suy nghĩ, đánh giá tình hình cho độc giả. Trong Liên thành quyết, Kim Dung
xây dựng nhân vật Huyết đao lão tổ từ Tây Tạng xuống như một nhân vật dâm ác hạng
nhất. Trong những chương đầu, cái nhìn của Kim Dung về nhân vật này rất nghiêm
khắc, phản ánh quan điểm dân tộc hẹp hòi của ông đối với những con người ngoài
Há tộc. Huyết đao lão tổ nhận Địch Vân làm đệ tử. Mọi người gọi Địch Vân là tiển
dâm tặc. Nhưng hai thầy trò Địch Vân chẳng hề có một hành động dâm dật vơi ai,
ngược lại Địch Vân còn là một chính nhân quân tử. Nếu Huyết đạo lão tổ là tên
“dâm tặc” già nhất thì trong Hiệp khách hành, Thạch Trung Ngọc là tên dâm tặc
trẻ nhất. Khi được gửi lên phái Tuyết Sơn học, gã thiếu niên 15 tuổi đó đã có
hành vi cưỡng bức cô bé A Tú, con của sư phục mình khiến cô bé phải nhảy xuống
lũng sâu để tự bảo vệ tiết sạch giá trong. Thạch Trung Ngọc có đứa em song sinh
rất giống mình là Thạch Phá Thiên, thường chỉ được gọi với cái tên Cẩu Tạp Chủng
(chó lộn giống). Khi Cẩu Tạp Chủng xuất hiện, mọi người phái Tuyết Sơn đều tưởng
là Thạch Trung Ngọc nên muốn giết cậu. Chỉ có đôi mắt ngây thơ của A Tú mới
nhìn ra được “vị đại ca hiền lành này không phải là tên tiểu tặc đó”. Ấy vậy mà
Cầu Tạp Chủng cũng bị mọi người chửi mấy trăm lần là “tiểu dâm tặc”. Nhưng
trong 12 bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, nhân vật dâm đãng số một phải thuộc
về Vi Tiểu Bảo (Lộc Đỉnh ký). Xuất thân trong kỹ viện thành Dương Châu, ngay từ
nhỏ, Vi Tiểu Bảo đã quen với cảnh ong bướm lả lơi giữa đám khách làng chơi và
các kỹ nữ. Cơ duyên đã đưa hắn lên Bắc Kinh, làm thái giám giả mạo trong cung
nhà Thanh. Mới 13 tuổi đầu, hắn đã ôm Mộc Kiếm Bình, quận chúa Mộc vương phủ
Vân Nam và chớt nhả với Phương Di, lớn hơn hắn 2 tuổi; 15 tuổi, hắn quan hệ
thân xác với công chúa Kiến Ninh; 18 tuổi trôi giạt sang Nga, hắn quan hệ với
công chúa Tô Phi Á (Sophia), con gái Sa hoàng! Từ thái giám, hắn lên Đô thống
Hoàng kỳ, Khâm sai đại thần, Bá tước rồi Công tước. Trong một lần đi công cán về
thành Dương Châu, hắn quan hệ một hơi với 4 người phụ nữ: Tô Thuyên (vợ giáo chủ
Thần long giáo Hồng An Thông), A Kha (nghi là con gái của Ngô Tam Quế và Trần
Viên Viên), Song Nhi (nữ tì), Tăng Nhu (Thiên địa hội). Rồi hắn ăn ở luôn với cả
4 người trên, lấy luôn cả Kiến Ninh, Phương Di, Mộc Kiếm Bình. Suốt đời Vi Tiểu
Bảo chỉ biết có tình dục, không hề biết đến tình yêu chân thật là gì. Kim Dung
đã không cho hắn có được niềm hạnh phúc được yêu của Vi Tiểu Bảo. Hôm hắn trở lại
Dương Châu thăm mẹ dẫn theo một đoàn thê thiếp, Vi Xuân Phương phải thầm khen
con trai mình có mắt. Trong tác phẩm Kim Dung, không thiếu những lời thoá mạ:
dâm tặc, rùa đen, chó lộn giống... Ông đứng trên quan điểm của một nhà nhân bản
để nhận xét, đánh giá những hành vi tình dục của các nhân vật do chính mình tạo
ra. Ông phán xét họ một cách nghiêm khắc - tất nhiên là với cái nghiêm khắc của
một nhà văn chứ không phải một quan toà. Ông để cho những nhân vật dâm đãng tự
rước lấy sự trừng phạt công mình của cuộc sống (trừ Vi Tiểu Bảo!). Cá biệt, có
một trường hợp mở đầu bằng hành vi cưỡng bức nhưng kết thúa bằng tình cảm tốt đẹp.
Đó là Dương Tiêu (Tả sứ Minh giáo) đã bắt cóc và cưỡng bức Kỷ Hiểu Phù (đệ tử
phái Nga Mi). Hiểu Phù sinh ra đứa con gái, đặt tên là Dương Bất Hối để tỏ ý
không hề hối hận vì đã thất thân với Dương Tiêu. Diệt Tuyệt sư thái, sư phụ của
Kỷ Hiểu Phù, vì vậy đã giết Hiểu Phù. Dương Tiêu ở vậy nuôi con, không cưới vợ
nữa để giữ mãi hình bóng của người phụ nữ từng là nạn nhân của anh ta. Người ta
thường nói: “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” để chỉ những quan hệ tất yêu nam nữ
trong những hoàn cảnh thuận lợi. Câu nói đầy tính ẩn dụ đấy không thể có trong
tác phẩm Kim Dung. Nhiều lứa đôi trong tác phẩm của ông thương nhau, sống với
nhau một nơi nhưng trai vẫn giữ được phong độ người quân tử, gái vẫn giữ được
tiết sạch giá trong. Đó là Vô Kỵ - Triệu Minh - Chỉ Nhược - Tiểu Siêu, Trương
Thuý Sơn – Hân Tố Tố, Lệnh Hồ Xung – Doanh Doanh, Quách Tĩnh – Hoàng Dung, Đoàn
Dự - Mộc Uyển Thanh – Vương Ngọc Yến – Chung Linh, Hồ Phỉ - Viên Tử Y, Thạch
Phá Thiên – A Tú, Địch Vân - Thủy Phương, Kiều Phong – A Châu. Họ đều rất trẻ,
sống giang hồ phiêu bạt nhưng vẫn tôn trọng chữ Lễ, biết yêu say đắm, có thèm khát
nhưng không vượt quá giới hạn của tình yêu. Có những lứa đôi thành vợ thành chồng,
có lứa đôi ly tán nhưng tựu trung, họ đã sống thật đẹp và yêu thật đẹp. Tôi cho
rằng đây là một khía cạnh rất đạo đức trong tác phầm Kim Dung. Nó đem lại cho
người đọc - nhất là bạn đọc trẻ - những nhận thức đúng đắn về tình yêu và tình
dục, giúp con người vươn lên để sống đúng nghĩa với khái niệm con người. Chất
hài
Trước nay, văn học thế giới
đã để lại cho chúng ta nhiều tác phẩm của các bậc thầy hài hước. Đưa nụ cười
vào văn chương, tạo ra sự hứng thú cho người đọc đã có từ những vở Kỵch của
Molière (Pháp), Azit Neshin (Thổ Nhĩ Kỳ), Slavemir Mrojek (Ba Lan). Và trong thời
đại chúng ta, tiếng cười có nhiều trong các tờ báo chuyên hài hước, các tiểu phẩm
trào phúng, châm biếm. Văn học Trung Quốc cũng đã trước bạ tên tuổi của các bậc
thầy cười: Ngô Thừa Ân với siêu phẩm Tây Du Ký, Lỗ Tấn với tác phẩm A.Q Chính
Truyện. Trên nền tảng cái cười Trung Quốc, Kim Dung tiên sinh cũng đưa nụ cười
vào văn chương của ông, dù văn chương đó ở phạm trù văn chương kiếm hiệp. Những
tình huống trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung luôn luôn sôi động với tính chất
đấu tranh, bạo lực, mưu toan, thủ đoạn. Vậy thì việc đưa tiếng cười vào trong
những tình huống này quả là một điều khó thực hiện nhất là giữ làm sao cho chất
cười đó không phá vỡ cái tổng thể của khái niệm võ hiệp tiểu thuyết. Kim Dung
đã làm được việc đó với ngòi bút khéo léo của một bậc thầy và trong 12 bộ võ hiệp
tiểu thuyết của ông, chất hài hước đã được dàn trải khắp các chương tạo ra niềm
hứng thú cho độc giả. Trong tác phẩm của ông, có những nhân vật khá hài hước về
ngoại diện, tâm hồn thật trẻ thơ và hành sự rất tiếu. Với bộ Xạ điêu anh hùng
truyện, ta bắt gặp một nhân vật đáng yêu như vậy: Lão ngoan đồng Châu Bá Thông.
Châu Bá Thông là nhân vật số 2 của phái Toàn Chân, sư đệ của Vương Trùng Dương,
dưới tay có cả một đám sư điệt già nua cổ thụ nhưng tâm hồn ông vẫn là tâm hồn
của một đứa bé ngây thơ, trong sáng. Ngay ngoại hiệu Lão ngoan đồng (ông già mà
chơi như con nít) cũng đủ để mô tả đặc điểm tính cách nhân vật Châu Bá Thông.
Theo sư huynh Vương Trùng Dương sang hoàng cung nước Đại Lý, Châu Bá Thông đã
quan hệ tình dục với một cung phi của hoàng gia, đẻ ra một đứa con nhưng nuôi
không được. Châu Bá Thông là một cao thủ, suốt đời chẳng biết sợ hãi ai nhưng mỗi
khi nghe đến tên nàng cung phi đã lỡ thất thân với mình là ông ta chạy dài. Suốt
đời Châu Bá Thông chuyên làm những việc cổ quái. Ngay đến môn võ công ông tự
suy nghĩ ra cũng có cái tên kỳ dị không kém: Song thủ hỗ bác (hai tay vừa giúp
nhau vừa đánh nhau). Đó là kết quả của một cách phân ý thật lý tưởng: tay trái
vẽ hình vuông, tay mặt vẽ hình tròn cùng một lúc, sao cho vuông ra vuông, tròn
ra tròn. Chỉ có Châu Bá Thông là làm được việc ấy và luyện thành công kỹ thuật
Song thủ hỗ bác. Võ công ông ta đạt đến trình độ kinh người nhng chẳng hề giết
chóc ai, hãm hại ai. Mỗi khi ông ta xuất hiện là tình huống trở nên vui nhộn.
Trong Tiếu ngạo giang hồ, ta gặp rất nhiều nhân vật hài hước. Đó là Lệnh Hồ
Xung, đại đệ tử phái Hoa Sơn, một nhân vật được mô tả là "lãng tử vô hạnh,
thanh danh tàn tạ". Phái Hoa Sơn nổi tiếng về sự nghiêm khắc giữ gìn thanh
quy giới luật nhưng khi cao hứng lên, Lệnh Hồ Xung sẵn sàng bỏ tất cả ra sau
gáy. Anh đánh bạc với bọn du thủ, uống rượu xai quyền cùng anh em giang hồ hào
sĩ, đánh cho bọn đệ tử Thanh Thành phải "thí cổ hướng hậu bình sa lạc nhạn"
(chổng đít ra sau tan tác như nhạn rơi bãi cát). Bị mụ ni cô - vợ của Bất Giới
hoà thượng, má của ni cô Nghi Lâm - cạo đầu và suýt bị thiến vì từ chối tình
yêu của Nghi Lâm, Lệnh Hồ Xung đã trả thù" hết sức ngộ nghĩnh. Anh hướng dẫn
cho Bất Giới đại sư cách điểm huyệt mụ, đưa mụ vào khách sạn và... cởi quần áo
mụ ra làm sao mụ còn chạy thoát khỏi tay Bất Giới. Học được kinh nghiệm quái
chiêu đó, Bất Giới đã quỳ xuống lạy Lệnh Hồ Xung, xưng tụng là Lệnh Hồ sư phụ,
thậm chí là Lệnh Hồ gia gia! Bất Giới hoà thượng cũng là nhân vật hài hước số một.
Lỡ yêu một ni cô, ông ta cũng cạo đầu đi tu. Nhưng quy luật của Phật gia có ngũ
giới cấm, trong đó có cấm tà dâm, mà mục đích của Bất Giới là đi tu để ăn ở cho
được với người ni cô đó. Ông ta tự đặt cho mình ngoại hiệu là Bất Giới (chẳng cấm
cản gì ráo), đã lấy được ni cô và đẻ ra Nghi Lâm. Nghi Lâm cũng đi tu, làm ni
cô của phái Hằng Sơn. Cô thầm yêu trộm nhớ Lệnh Hồ Xung, ân nhân đã cứu mình ra
khỏi tay dâm tặc Điền Bá Quang. Thế là Bất Giới phải đi tìm Lệnh Hồ Xung, ép buộc
anh làm nhà sư để cưới Nghi Lâm vì trên đời này "chỉ có ông sư là cưới được
bà vãi". Đối với Điền Bá Quang, Bất Giới trừng trị thẳng tay: cạo đầu buộc
làm sư, đặt pháp hiệu là Bất Khả Bất Giới (không thể không cấm được), buộc Điền
Bá Quang tôn Nghi Lâm làm sư phụ rồi buộc Điền Bá Quang làm mai "sư phụ"
mình với Lệnh Hồ Xung. Tuy nhiên, nói đến tiếng cười trong Tiếu ngạo giang hồ,
người đọc vẫn nhớ đến Đào cốc lục tiên nhiều nhất. Đó là 6 anh em, tên là Đào
Hoa Tiên, Đào Chi Tiên, Đào Điệp Tiên, Đào Thực Tiên, Đào Cán Tiên, Đào Căn
Tiên. Họ gồm đủ hoa, nhánh, lá, cành, gốc, rễ nhưng bị cái tội hồ đồ, không
phân biệt được ai là lão tam; ai là lão tứ! Võ công cao cường, tâm ý tương
thông, họ không sợ bất kỳ địch thủ nào trên đời. Suốt ngày họ đánh nhau, văng tục,
cãi lộn.. Mà cái kiếu cãi lộn của anh em nhà họ Đào cũng rất hoạt kê, càng cãi
câu truyện càng rối rắm. Nhìn dưới khía cạnh triết lý, Đào Cốc lục tiên chính
là những nhà luận lý học hình thức (logique formelle) của phương Đông. Đào Cốc
lục tiên mồm năm miệng mười, suốt ngày chỉ nói, nói và nói; đến vua nhà Tống
cũng không cấm họ im miệng được. Nhưng có một người duy nhất có thể buộc họ câm
miệng. Đó là Sát nhân danh y Bình Nhứt Chỉ. Bình Nhứt Chỉ có lệ cứu được một
người là ra lệnh cho người đó hoặc anh em người đó đi giết một người khác.
Trong một lần Đào Thực Tiên bị trọng thương, bọn ngũ tiên bèn khiêng đến cho
Bình Nhứt Chỉ chữa nhưng miệng vẫn nói thiên hô bách sát. Bình Nhứt Chỉ quát một
tiếng im là năm lão im ngay bởi vì nếu không im, Bình Nhứt Chỉ sẽ buộc bọn tiên
giết tên Đào Thực Tiên! Khi Lệnh Hồ Xung được đưa lên gò Ngũ Bá Cương, Bình Nhứt
Chỉ thú nhận rằng không thể chữa thương cho chàng được. Bọn Đào Cốc lục tiên
bèn trả thù, đặt ra câu hỏi: "Cứu một người thì giết một người. Nay không
cứu được người thì giết ai?" Chính cái luận lý học hình thức của bọn lục
tiên đã khiến Bình Nhứt Chỉ tự suy nghĩ và cuối cùng, tự vận kinh mạch cho đứt,
chết đi để xứng với ngoại hiệu Sát nhân danh y! Lệnh Hồ Xung, Bất Giới hoà thượng,
Bất Khả Bất Giới Điền Bá Quang, Đào cốc lục tiên là cái trục hài hước của Tiếu
ngạo giang hồ. Chung quanh cái trục đó còn có nhiều nhân vật hài hước khác như
Hướng Vân Thiên, Quang minh tả sứ của Triêu Dương thần giáo; Tiêu Tương dạ vũ Mạc
Đại tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn; bọn quần ni phái Hằng Sơn; bọn giang hồ
thảo khấu 36 động 72 đảo... góp thêm tiếng cười cho tác phẩm. Vì thế, Tiếu ngạo
giang hồ tràn đầy tiếng cười lạc quan, ngay trong những tình huống bi thương nhất.
Chất hài hước trong kiếm hiệp Kim Dung thường xuất hiện trong những tình huống
nghịch lý, thoạt tiên thì có vẻ kỳ quái nhưng đọc kỹ thấy thú vị vô cùng. Ta có
thể tìm ra một hồi như vậy trong bộ Hiệp khách hành. Phái Tuyết Sơn có nội biến,
bọn Tiêu Tự Lệ, Thành Tự Học, Tề Tự Miễn, Lương Tự Tiến bắt giam chưởng môn rồi
quay ra đánh nhau để dành chức chưởng môn. Ai cũng tự khoe khoang võ công mình
cao cường và họ đánh nhau với những chiêu thức độc ác nhất, tinh vi nhất. Giữa
khung cảnh như vậy thì Trương Tam và Lý Tứ, hai sứ giả của đảo Mộc Long đến
phát thiếp mời chưởng môn phái Tuyết Sơn đi ăn Lạp bát cúc ngoài biển Đông. Mà
"ăn lạp bát cúc" có nghĩa là ra đi không có ngày về. Cả bọn Tề Tự Miễn,
Lương Tự Tiến, Tiêu Tự Lệ, Thành Tự Học sợ quá, chẳng ai muốn tranh cái chức
chưởng môn nữa. Trương Tam và Lý Tứ bó buộc bọn họ phải đấu võ cho phân thắng bại
để xác định chưởng môn. Thế là anh nào anh nấy chỉ đấu cầu thua, thậm chí còn
đưa tay chân của mình vào đao kiếm địch thủ để được bị thương và dĩ nhiên, càng
bị thương nặng càng tốt. Trận đấu có kiếm bay, có máu chảy nhưng chất hài hước
của bốn nhân vật cầu thua lại hoá giải được chất sắt máu kia và làm cho chương
tiểu thuyết cực kỳ sống động, thú vị. Trong truyện võ hiệp của Kim Dung, có những
nụ cười rất nóng và có những nụ cười rất lạnh. Cười nóng là cười ha hả, cười
đau cả ruột, mọi người cùng cười kể cả độc giả. Trong Thiên Long bát bộ, mỗi
khi Tinh Tú hải lão ma Đinh Xuân Thu và bọn đệ tử của lão xuất hiện thì tiếng
cười nóng lại rộ lên. Ấy bởi vì với phái Tinh Tú, thói nịnh là một thứ võ công
hàng đầu so với những thứ võ công khác trên đời. Đã có những tên đệ tử phái
Tinh Tú đem sư phụ Đinh Xuân Thu của mình so sánh với Đức Khổng Tử và kết luận
Đức Khổng Tử thua Đinh Xuân Thu vì Khổng Tử không có võ công. Giá mà Đức Khổng
Tử sống dậy, đọc được những dòng này, chắc hẳn ngài cũng phải bật cười khoan
khoái. Ngược lại với cười nóng là cười lạnh, buồn mà cười, thương mà cười. Đó
là mối tình của Du Thản Chi với A Tử. Đoàn A Tử
là cô bé ác độc, đệ tử của Đinh Xuân Thu, bắt được Du Thản Chi để hành hạ cho
thoả tính tàn bạo. Cô đã ra lệnh đánh Du Thản Chi thừa sống thiếu chết rồi nướng
cái lồng sắt đỏ chụp vào đầu y, biến y thành tên Thiết sửu giải trí cho cô. Nhưng
oái ăm thay, ngay từ cái nhìn đầu tiên, Du Thản Chi đã say mê tấm dung nhan mỹ
miều của A Tử. Hắn có thể hứng chịu cả trăm ngàn đau khổ để được nhìn thấy A Tử
nở một nụ cười. Đôi mắt hắn long lên căm hờn khi có ai hướng về phía A Tử một
cái nhìn thiện cảm. Hắn có một pho võ công rất kỳ bí là hàn khí của Kim tầm
trùng độc làm nội công và đồ hình của Dịch Cân Kinh làm chiêu thức. Hắn đánh ai
một chưởng thì người đó hoá thành băng tuyết ngay. A Tử đui hai mắt, không còn
nhìn thấy gì trên đời. Thế là Du Thản Chi đi nhờ người ta tháo cái lồng sắt ra
khỏi đầu mình và khuôn mặt của hắn trở thành khuôn mặt dị dạng của quỷ sứ. Hắn
kiếm một cái khăn trùm đầu, tìm về với A Tử và tự đổi giọng nói, xưng mình là
Trang Tụ Hiền; dẫn cô bé chu du giang hồ, khoe với cô rằng mình là kỳ nam tử, đẹp
như Phan An, Tống Ngọc! Rõ ràng là khi có mặt A Tử, hắn đã đánh cho nhiều người
thất điên bát đảo nên A Tử hết lòng tin cậy. Chính vì để bảo vệ bí mật cho những
lời khoe khoang khoác lác đó, hắn đã phải năn nỉ nhiều người khen hộ hắn anh tuấn,
đẹp trai để vừa lòng A Tử. Cái hài hước khi xây dựng cặp nhân vật A Tử - Du Thản
Chi của Kim Dung tràn đầy nước mắt, bảo cười cũng được mà bảo khóc cũng không
sai. Đó cũng là chất hài hước của Lỗ Tấn trong A.Q Chính Truyện khi A.Q được
đưa ra pháp trường! Được cười với những nhân vật của Kim Dung thật là một điều
sảng khoái. Cái sảng khoái đó nằm trong những diễn tiến ngộ nghĩnh của câu chuyện,
khiến người ta không tin cũng phải tin. Một thí dụ sinh động nhất là chuyện tuyển
phu của công chúa Văn Nghi nước Tây Hạ. Công chúa Văn Nghi đã từng bị Thiên Sơn
Đồng Mỗ bắt, cởi trần truồng và đem vào hầm nước đá tối thui cho nằm cạnh nhà
sư Hư Trúc. Mục đích của Đồng Mỗ là phá giới Hư Trúc và quả nhiên, nhà sư trẻ
đã không thoát qua khỏi vòng trần luỵ. Lòng anh vừa đau khổ nhưng cũng vừa cảm
thấy hạnh phúc. Và suốt đời anh vẫn nhớ người trong mộng nhưng không biết nàng
tên là gì, ở đâu. Đùng một cái, nước Tây Hạ ra bảng chiêu phu cho công chúa Văn
Nghi. Những thế lực chính trị cảm thấy đây là thời cơ để phục hưng nền quân sự
của quốc gia vì kẻ nào làm phò mã nước Tây Hạ là kẻ đó có thể nắm thực quyền về
quân đội. Đoàn Chính Thuần nước Đại Lý buộc con là thế tử Đoàn Dự phải đi. Cô
Tô Mộ Dung Phục cũng đi đến cầu hôn với hy vọng phục hưng binh lực nước Đại Yên.
Hoắc Đô Vương tử nước Thổ Lỗ Phồn cũng đến tranh thủ. Chỉ có chàng Hư Trúc là
đi chơi, hoàn toàn không nghĩ đến chuyện tuyển phu. Tất cả chương trình tuyển
phu chỉ gồm có 3 câu: "Trên đời, người thích ai nhất? Người ấy tên gì, ở
đâu?". Các Vương tử, thế tử đều đáp xong. Đến lượt, người ta đùa cợt, đẩy
Hư Trúc vào. Đáp câu thứ nhất, Hư Trúc bảo: "Trên đời ta chỉ thích nàng nhất".
Câu thứ hai: "Tối quá, ta không biết tên". Câu thứ 3: "Trong hầm
nước đá" Và chỉ 3 câu đó, Hư Trúc tìm ra người tình nhân - Mộng Cô - của
mình, trở thành phò mã nước Tây Hạ giữa sự ngạc nhiên của mọi người. Hoá ra,
trò tuyển phu đó không phải là một đòn phép chính trị nhằm đối địch với ai cả.
Đó chỉ là một cách để tìm ra người đàn ông mà công chúa đã từng yêu dấu và trao
thân gửi phận. Thế nhưng, không có tác phẩm nào tập trung cao độ tính hài hước
bằng bộ Lộc Đỉnh ký. Từ cách xây dựng nhân vật trung tâm đến tình huống diễn tiến
câu chuyện, đến ngôn ngữ nhân vật, Lộc Đỉnh ký là một bộ hài Kỵch lớn. Không
chương nào của tác phẩm thiếu tiếng cười. Chuyện bắt đầu khi Vi Tiểu Bảo, một
tiểu lưu manh trong động điếm Lệ Xuân viện thành Dương Châu được Mao Thập Bát,
một hào khách giang hồ đem lên Bắc Kinh. Bằng thủ đoạn ma mãnh, Vi Tiểu Bảo đã
giết được Tiểu Quế Tử thái giám, hoá thân làm Tiểu Quế Tử. Từ đó, hắn thân cận
được với vua Khang Hy, trở thành bạn nhỏ của nhà vua, giúp vua giết được loạn
thần Ngao Bái, gia nhập thiên địa hội và hoạt động gián điệp. Hắn trở thành
Chánh đô thống hoàng kỳ, phong tặng tước hiệu Ba Đồ Lỗ; Khâm sai đại thần đi
công cán Vân Nam; Tứ hôn sứ; Bá tước; Nguyên soái cầm quân chinh phạt quân La
Sát! Công lao hắn lớn hơn bất kỳ một vị cố mệnh đại thần nào của triều Khang
Hy. Để đạt được tột đỉnh vinh quang đó, hắn chỉ áp dụng hai thứ kinh nghiệm: một
là kinh nghiệm sống trong động điếm và hai là những câu chuyện truyền kỳ trong
bộ Anh Liệt Truyện mà hắn nghe được thủa còn ở Dương Châu. Thông qua nhân vật
Vi Tiểu Bảo, người ta nhận ra một định đề bất ngờ: "Trên đời nầy, kỹ viện
và hoàng cung là hai nơi trá nguỵ nhất". Đắc thủ kinh nghiệm từ kỹ viện đến
hoàng cung, Vi Tiểu Bảo trở thành nhân vật đệ nhất trá nguỵ. Nhân vật trá nguỵ ấy
đã trở thành Hối minh hoà thượng, sư đệ của Hối Thông, phương trượng chùa Thiếu
Lâm; rồi sau đó lại trở thành trụ trì chùa Thanh Lương trên Ngũ Đài Sơn! Nhân vật
ấy đủ sức "trị" tên đại Hán gian Ngô Tam Quế; trở thành cố vấn đặc biệt
cho Sa hoàng Nga La Tư; thay mặt Khang Hy Hoàng đế quan hệ giao hảo với Mông Cổ
và Tây Tạng. Thế nhưng, nhân vật quan trọng ấy không biết chữ. Trong 3 chữ họ
tên của mình, Vi Tiểu Bảo chỉ đọc được chữ Tiểu vì chữ này dễ nhận ra với 3
nét. Ấy thế mà bọn nhà văn có tên tuổi trong lịch sử văn học triều Thanh như Cố
Viêm Võ, Tra Y Hoàng phục lăn phục lóc, hết lời ca ngợi. Nhân vật ấy đưa vào
trong văn chương một mớ ngôn ngữ thoá mạ bình dân, tục tĩu như "con mẹ
nó", "tổ bà quân rùa đen", "phường chó đẻ"... Vi Tiểu
Bảo "sáng tạo" ra những thuật ngữ mà chưa một thời đại nào người ta
dám đem gán ghép cho những nhân vật cao quý trong xã hội phong kiến: công chúa
Kiến Ninh được coi là con đượi non, thái hậu được gọi là mụ điếm già. Mớ ngôn
ngữ ấy đã được "truyền bá". Trần Cận Nam, thầy của Vi Tiểu Bảo, cũng
biết gọi thái hậu là "mụ điếm già". Vua Khang Hy cũng học thứ ngôn ngữ
bình dân của Vi Tiểu Bảo mà mở miệng thoá mạ "con mẹ nó". Chẳng những
thế, nhà vua cũng sẵn sàng làm những việc làm hết sức "bình dân", chẳng
ra thể thống một Đại Thanh Hoàng đế chút nào. Tôi cho rằng đoạn trích sau đây
có thể nói lên chất hài hước cao đó của Lộc Đỉnh ký: "Sách thánh hiền đọc
nhiều quá, toàn những đoạn khô khan. Đột nhiên, nhà vua được nghe những câu
"Tổ bà nó", "Té đái vãi phân", tuy thô tục nhưng cũng thấy
vui vui liền bắt chước nhưng chỉ khi nói với Vi Tiểu Bảo mới đưa ra. Hôm nay,
nhà vua gặp phụ hoàng, vừa hoan hỉ vừa bi thương, nhưng thân cận cha được nửa
giờ đã bị đẩy ra ngoài cửa chẳng biết từ nay còn có dịp nào gặp lại, trong lòng
rất là khó chịu. May có Vi Tiểu Bảo nói năng thú vị làm vơi nỗi uất ức đi nhiều.
Khi bàn tới đại sự trừ phản dẹp loạn, ngài lại nổi hùng tâm. Nhà vua đứng dậy
đi ra ngoài sân mấy bớc, hai tay bê mấy hòn đá bày ra dưới đất, miệng nói: -
Hán quân có tứ vương, nào Đông Vương, nào Tây phiên, nào Bắc biên, phải phân
chia ra không thể để chúng liên hiệp với nhau được. Lại còn Định Nam Vương Khổng
Hữu Đức nhưng may thằng cha này chết rồi, chỉ để lại một đứa con gái thì cách đối
phó chẳng khó khăn gì. Nhà vua dứt lời, vung chân đá một hòn đá ra ngoài rồi
nói tiếp: - Cảnh Tinh Trung thần dũng hơn đời nhưng lại là kẻ vô mưu nên chẳng
có chi đáng ngại. Chỉ cần làm cho hắn không liên minh được với họ Trịnh ở Đài
Loan là xong. Nhà vua lại đá một hòn đá nữa đi rồi nói tiếp: - Thượng Khả Hỷ
thì phụ tử bất hoà. Giữa hai cha con hắn cũng thành thế nước lửa nhằm khuynh
loát nhau, chắc chẳng làm nên trò trống gì. Khối đá thứ ba bị hất tung đi. Chỉ
còn một khối đá lớn nhất. Nhà vua nhìn chằm chặp vào khối đá này, ngơ ngẩn xuất
thần. Vi Tiểu Bảo cất tiếng hỏi: - Tâu Hoàng thượng! Phải chăng đây là Ngô Tam
Quế ? Vua Khang Hy gật đầu. Vi Tiểu Bảo mắng liền: - Thằng giặc thối tha này.
Sao mi không chết đi khiến cho Đức Hoàng Đế phải vì mi mà tổn thương cân não.
Tâu Hoàng thượng! Xin Hoàng thượng đái vào người hắn. Vua Khang Hy cười ha hả,
nổi dạ trẻ thơ, vạch quần đái vào phiến đá. Ngài cười nói: - Ngươi cũng đái vào
đi. Vi Tiểu Bảo cười rộ. Gã vừa đái vừa nói: - Hồi sách này kêu bằng Vạn tuế
gia cao sơn lưu thuỷ. Tiểu Quế Tử ... Tiểu Quế Tử ... Gã chợt nhớ thầy đồ nói
chuyện Tam Quốc có một hồi kêu bằng "Quan Vân Trường thuỷ yếm thất
quân" liền nói tiếp: - "Tiểu Quế Tử thuỷ yếm thất quân" Vua
Khang Hy không nín được, lại cười ha hả. Ngài vừa thắt quần lại vừa nói: - Sau
nầy mà ta bắt được tên giặc thối tha kia thật sự thì sẽ đái hẳn vào người hắn.
Vi Tiểu Bảo thấy Tiểu Hoàng Đế ra chiều căm hận Ngô Tam Quế thì trong bụng mừng
thầm tự nhủ: - Ta cùng bọn Mộc Vương phủ đánh cuộc về vụ này. Thế là phe mình
ăn chắc đến quá nửa rồi." Và gần như không có nhân vật nào trong Lộc Đỉnh
ký không có tính hài hước. Công chúa Kiến Ninh cũng biết chửi tục "Con mẹ
nó, té đái vãi phân" và gây ra một hành động kinh thiên động địa mà không
phải người phụ nữ nào cũng dám làm: lấy súng bắn nát bộ phận sinh dục của chồng
chưa cưới. Hối Thông đại sư, trụ trì chùa Thiếu Lâm, ca ngợi sư đệ của mình là
Hối Minh (tức Vi Tiểu Bảo) định lực cao cường khi đối đầu với bọn Cát Nhĩ Đan
Vương tử mà chẳng biết Vi Tiểu Bảo sợ quá, thở cũng không nổi và đã “đi” ra đầy
cả quần. Trừng Quang đại sư cầm đầu Thập bát La hán chùa Thiếu Lâm ngây thơ đến
nỗi nghe Vi Tiểu Bảo đi chơi kỹ viện (động điếm) cũng cho rằng kỹ viện là một
"viện" tương đương với Đạt Ma viện của chùa Thiếu Lâm. Thậm chí khi
Trừng Quang đại sư nghiên cứu võ công cũng phải nhờ Vi Tiểu Bảo chỉ điểm, hướng
dẫn! Có người cho rằng Lộc Đỉnh ký là tác phẩm của thời đại chúng ta, Vi Tiểu Bảo
là con người sống trong thời đại chúng ta. Tôi nghĩ là nhận định đó hết sức
nghiêm túc và hợp lý. Với chất hài hước của Lộc Đỉnh ký, thế kỷ 20 hiện thân
rành rành trong tiểu thuyết võ hiệp, với những con người, những tình huống, những
suy nghĩ của nó. Không dễ đưa chất hài hước vào văn chương như đưa vào sân khấu
hay thơ ca. Tôi đã đọc Kim Dung nhiều lần trong đời. Với Du Thản Chi trong
Thiên Long bát bộ, tôi nhỏ nước mắt. Với Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh ký, tôi cười
ha hả. Nhiều đêm, chợt tỉnh giấc ngủ, nhớ đến Vi Tiểu Bảo, tôi bật cười một
mình. Con người ngộ nghĩnh, thú vị, sống rất chân thật đó đã trở thành một biểu
tợng hài hước của thế kỷ thứ 20 chứ không riêng gì trong tác phẩm võ hiệp của
Kim Dung. Trong hoàn cảnh đất nước chưa hoà bình, chiến tranh vẫn còn tiếp diễn
nhiều nơi, lòng người hoang mang ly tán như xã hội miền Nam trước năm 1975, tác
phẩm võ hiệp Kim Dung với những màn hài hước đặc sắc vụt trở nên phương tiện giải
trí đắt giá. Tâm trạng chung của bạn đọc lúc đó là tìm ra một cái gì vui trong
một đời sống có nhiều bế tắc và niềm bi thảm. Ta không thấy làm lạ khi người đọc
đón nhận từng chương, từng hồi của tác phẩm Kim Dung đăng trên báo dưới dạng
feuilleton. Tôi chưa nói đến giá trị văn học, giá trị tư tưởng, giáo dục. Chỉ một
chức năng giải trí, văn chương Kim Dung đã đáp ứng đầy đủ cho người đọc. Hài hước
trở thành một thang thuốc bổ, đem lại cho đời nụ cười ý vị.
Ghen
Ghen (jalousie) là một
tình cảm tự nhiên của con người, đặc biệt là ở phụ nữ. Tiểu thuyết võ hiệp Kim
Dung, tuy trọng tâm phản ánh về những sinh hoạt võ lâm, cũng đã có những nhân vật
ghen tuông, tình huống ghen tuông thú vị. Nhận định về tình yêu trong tiểu thuyết
võ hiệp của ông mà không nhận định về cái ghen quả thật là một thiếu sót. Một
cách khái quát, Kim Dung dùng khái niệm rất cụ thể để nói về cái ghen. Ghen được
gọi là “bình giấm chua” hoặc “ghè tương”. Còn cái binh giấm chua và ghe tương
đó đổ bể trong tình huống nào, đổ bể ở đâu thì lại là chuyện khác. Ở mức độ sơ
cấp, người phụ nữ bày tỏ lòng ghen tuông một cách nhẹ nhàng, đôi khi không khỏi
khiến độc giả buồn cười, thương hại. Đó là trường hợp Á bà bà (bà già câm) (Tiếu
ngạo giang hồ). Ở tuổi đôi mươi, bà đã xuất gia đi tu và là một nữ ni xinh đẹp.
Có một chàng đồ tể cảm mến sác đẹp đó, cứ theo tán tỉnh hoài. Và hắn cũng cạo đầu
đi tu, tự đặt pháp hiệu cho mình là Bất Giới hoà thượng. Hắn cho rằng “chỉ có
ông sư mới có thể yêu bà vãi” (?) Họ thành vợ chồng và sinh ra cô con gái xinh
đẹp là Nghi Lâm. Một lần, Bất Giới nhìn thấy Ninh Trung Tắc, vợ Nhạc Bất Quần.
Ông ta lỡ miệng khen Ninh Trung Tắc đẹp, thế là Á bà bà nổi cơn ghen vì “đã có
vợ rồi, sao lại còn khen kẻ khác đẹp?”. Bà ta bỏ luôn Bất Giới, vào phái Hằng
Sơn giả làm mụ già câm điếc, chuyên việc quét chùa, lau tượng trong 18 năm, báo
hại Bất Giới đi tìm muốn chết! Ở mức độ trung cấp, cái ghen bắt đầu có “bài bản”
hơn. Đó là trường hợp ghen của Mai Phương Cô (Hiệp khách hành). Mai Phương Cô
thầm yêu trộm nhớ Thạch Thanh nhưng Thạch Thanh chỉ yêu và cưới Mẫn Nhu. Họ
sinh được hai đứa con trai song sinh: Thạch Trung Ngọc và Thạch Phá Thiên. Thạch
Phá Thiên mới 6 tháng tuổi thì... mất tích. Ai bắt? Chính là Mai Phương Cô.
Nàng đem cậu bé về hoang sơn dã lĩnh ở Triết Giang nuôi nấng, đặt tên cho bé là
Cẩu Tạp Chủng (chó lộn giống) để mỗi khi lòng ghen tuông với hạnh phúc của Mẫn
Nhu nổi lên, nàng kêu mấy tiếng “cẩu tạp chủng” cho đỡ buồn! Cẩu Tạp Chủng lớn
lên, thành một chàng trai tuấn tú, hiền lành nhưng hoàn toàn dốt nát. Nhưng
chính nhờ đó mà chàng trở thành một con người đệ nhất võ công đắc thủ được
trong bài thơ Hiệp khách hành, khác xa người anh ruột dâm ác và tàn bạo Thạch
Trung Ngọc. Hiệp khách hàng - một bài thơ danh tiếng của Lý Bạch, đi vào tiểu
thuyết Kim Dung, trở thành một tác phẩm tiểu thuyết ca ngợi lòng dũng cảm, đức
hy sinh và tâm hồn trung hậu của chàng trai Cẩu Tạp Chủng Thạch Phá Thiên. Ở mức
độ cao cấp, cái ghen được Kim Dung nâng lên thành những âm mưu, thủ đoạn cao cường.
Đó là cái ghen của Chu Chỉ Nhược, chưởng môn phái Nga Mi (Ỷ thiên Đồ long ký). Ở
trên đảo hoang, để độc chiếm kiếm Ỷ thiên và đao Đồ long, cô đánh thuốc mê cho
mọi người, lấy kiếm rạch mặt và giết Hân Ly, trói Triệu Minh và bỏ lên một con
thuyền thả lênh đênh, mưu đồ để Triệu Minh chết đói vừa đổ vạ cho nàng. Trở về
trung Nguyên, Chu Chỉ Nhược lập tức tiến hành hôn với Trương Vô Kỵ nhưng lại bị
Triệu Minh phá ngang, làm Trương Vô Kỵ bỏ hôn lễ và chạy theo Triệu Minh để tìm
nghĩa phụ tạ Tốn. Chu Chỉ Nhược vừa thẹn, vừa sợ bại lộ âm mưu, đã sử dụng một
chiêu ác độc nhất trong Cửu âm bạch cốt trảo, định đánh vỡ sọ Triệu Minh để bịt
đầu mối. Tuy nhiên Triệu Minh chỉ bị thương, và nhờ vết thương đó, Trương Vô Kỵ
mới dần hiểu được rằng Chu Chỉ Nhược là người đánh cắp kiếm Ỷ thiên và đao Đồ
long, luyện thành Cửu âm bạch cốt trảo giấu trong thân kiếm, bắt cóc cha nuôi của
mình là Tạ Tốn và là người giết Hân Ly. Cái ghen tuông không chỉ có trong những
bậc nữ lưu bình thường. Cái ghen trong bậc nữ lưu quý tộc còn ghê gớm hơn. Đó
là trường hợp của Đao Bạch Phụng, người tộc Bãi Di, vợ Đoàn Chính Thuần. Thân
là Vương phi nước Đại Lý, giận chồng lăng nhăng, đã đem tấm thân ngàn vàng cho
gã ăn mày dơ dái ân ái... “Mối tình” chớp nhoáng đó đã sinh ra vương tử Đoàn Dự,
danh nghĩa là con Đoàn Chính Thuần nhưng huyết thống là con Đoàn Diên Khánh.
Vương phu nhân, gốc người tộc Đảng Hạng (Tiên Ty), còn ghen ghê gớm hơn. Giận
Đoàn Chính Thuần, hễ ai họ Đoàn nước Đại Lý lọt vào sơn trang của bà là bà ra lệnh
giết để làm phân bón hoa. Tuy nhiên, cái hay của Kim Dung là không biến những
tình huống ghen tuông trong tác phẩm của mình trở thành những vụ án hình sự có
nhà tan, người chết. Những nhân vật của ông chỉ ghen như một cách bày tỏ thái độ,
chẳng có ai chết cả. Hên ly vẫn không chết do nhát kiếm của Chu Chỉ Nhược, thậm
chí, nhờ đó mà độc tính của Thiên châu tuyệt hộ thủ theo máu thoát ra ngoài và
cô... sống lại. Đứng trên quan điểm hôn nhân của chế độ phong kiến, Kim Dung
cho phép những nhân vật nam của mình có nhiều vợ, nhiều tình nhân. Đoàn Chính
Thuần có một vợ và... 5 tình nhân (có kể lại!); Vi Tiểu Bảo có... 7 vợ và một
tình nhân. Tuy nhiên, Kim Dung cũng đã để cho những nhân vật nữ của mình đấu
tranh chống lại quan điểm đa thê sai trái đó. Một cách tích cực, ghen tuông được
coi là một cách thể hiện phản ứng chế độ đa thê. Những Á bà bà, Đao Bạch Phụng...
là những con người đã phản ứng như vậy. Quả thật đáng buồn nếu có những nhân vật
(và ngay cả những người thật) không biết yêu và cũng chẳng biết ghen. trong tiểu
thuyết võ hiệp Kim Dung, người ta yêu tha thiết nhưng ghen tuông cũng cháy chòi
lá! Rõ ràng, tuy lấy bối cảnh là xã hội phong kiến Trung Quốc nhưng tiểu thuyết
võ hiệp Kim Dung lại đi sát cuộc đời bởi vì tâm tình trong đó là tâm tình của
xã hội phương Đông thời hiện đại.
Chất thơ
Đưa thơ vào trong tiểu
thuyết, cho tiểu thuyết có chất lãng mạn nhằm tạo thi hứng cho cả người viết lẫn
người đọc là đặc điểm cố hữu của 300 tiểu thuyết chương hồi thời Minh - Thanh.
Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần có trên vài trăm bài thơ và khi thực hiện phim
Hồng Lâu Mộng, các nghệ sĩ Bắc Kinh đã biến những bài thơ này thành nhạc từ - một
dạng nhạc phủ - được hát lên, làm giàu thêm chất liệu nghệ thuật cho tác phẩm
điện ảnh. Nhà văn Kim Dung đã kế thừa phong cách đưa thơ vào tác phẩm tiểu thuyết
như các nhà văn tiền bối mặc dù tiểu thuyết chương hồi của ông là tân văn tiểu
thuyết. Ở chừng mực nào đó, Kim Dung là một nhà thơ thực sự; ông đã viết cả vài
trăm bài thơ, đặc biệt là thơ Thiền tông. Những bài thơ này chưa được in ra;
người đời chỉ biết ông là nhà văn chứ chưa hề hiểu được ông còn là một nhà thơ.
Chúng ta cũng lưu ý rằng ông nội Kim Dung đã từng làm tri huyện huyện Đơn Dương,
Triết Giang và là một nhà thơ khá nổi tiếng cuối đời Thanh với thi tập Hải Ninh
Sát Thị Sao Thi. Có lẽ âm vang của truyền thống tiểu thuyết Minh - Thanh, âm
vang của truyền thống gia đình đã khiến Kim Dung mạnh dạn đưa thơ vào tiểu thuyết
võ hiệp, làm cho những tác phẩm văn xuôi của ông mênh mang một màu thi ca lãng
mạn, trữ tình. Có những tác phẩm của Kim Dung lấy thơ làm nguồn cảm hứng chủ yếu.
Đó là trường hợp bộ Hiệp khách hành, gồm 14 quyển. Hiệp khách hành là tựa đề một
bài thơ dài của nhà thơ Lý Bạch, một trong Đường - Tống bát đại gia mà lịch sử
văn học Trung Quốc rất đỗi tự hào. Thơ Lý Bạch có nhiều thể tài: Diễm ca (ca ngợi
cái đẹp), Tuý ca (viết trong lúc say), Biệt ca (viết lúc chia tay nhau), Biên
tái ca (viết về cuộc đời chinh chiến), Tình ca (ca ngợi tình yêu), Hành ca (ca
ngợi chuyện giang hồ mạo hiểm),... Hiệp khách hành là một bài thơ ngũ ngôn, thuộc
thể Hành ca, ca ngợi Nguỵ Vô Kỵ, tức Tín Lăng Quân, công tử nước Nguỵ và 2 hiệp
khách - Hầu Doanh, người giữ cửa Di Môn cùng Chu Hợi, anh hàng thịt. Hai người
đã có công giúp Tín Lăng Quân đưa quân sang cứu nước Triệu, bảo vệ Hàm Đan, chống
lại quân Tần thời Chiến quốc. "Triệu khách mạn hồ anh Ngô câu sương tuyết
minh Ngân yên chiếu bạch mã Táp nạp như lưu tinh..." Đi vào trong tiểu
thuyết Kim Dung, cả bài thơ Hiệp khách hành vẫn được giữ nguyên nhưng nó không
còn là một bài thơ nữa. Nó chính là một pho võ công mà ai có tấm lòng chân chất
nhất, ít cơ tâm nhất mới nhận ra được. Con người đó là một chàng trai không hề
biết chữ: Thạch Phá Thiên tức Cẩu Tạp Chủng. Anh cóc cần bài thơ nói lên ý
nghĩa gì, câu thơ biểu đạt điều gì. Anh chỉ nhìn nét chữ. Ví dụ chữ Hành gồm 6
nét thì anh khám phá ra sáu thế võ tương ứng với 6 nét đó chứ không cần biết
Hành là đi hay chạy. Anh cứ lẳng lặng khám phá tự dạng như thế cho đến chữ cuối
cùng và đắc thủ một môn thần công, điều mà có những người bỏ ra mấy chục năm vẫn
không khám phá được. Kim Dung gọi đó là lối trước ý. Thiên Long bát bộ mênh
mang một không khí lãng mạn, trữ tình của thơ. Đó là những câu thơ của Kim Dung
làm ra để ca ngợi hoa trà, một quốc hoa của nước Đại Lý:
Thanh quần ngọc diện như
tương thức
Cửu nguyệt trà hoa mãn lộ
khai
(Quần xanh, vóc ngọc tuồng
quen mặt Tháng chín, hoa trà rợp lối đi) Hoặc: Xuân câu thuỷ động trà hoa bạch
Hạ cốc vân sinh lệ tử hồng (Dòng xuân nước gợn hoa trà trắng Non hạ mây trôi
trái vải hồng). Đó là những câu thơ do chính Kim Dung làm ra nhưng được gắn vào
cho những nhân vật của mình, để các nhân vật tỏ tình trước tình nhân. Thí dụ Trấn
Nam vương gia Đoàn Chính Thuần, một con người phong tình rất mực, thường
"nói" với các tình nhân Vương phu nhân và Tu la đao Tần Hồng Miên. Với
Vương phu nhân, một người rất yêu hoa, Đoàn Chính Thuần đọc:
Dưới khóm mẫu đơn đành bỏ
mạng
Chết làm quỷ sứ cũng oai
phong
Với Tần Hồng Miên, một
người chuyên phóng Tu la đao, Đoàn Chính Thuần chỉ "biên tập" hai chữ
mẫu đơn:
Dưới lưỡi Tu la đành bỏ mạng
Chết làm quỷ sứ cũng oai
phong
Thi ca, từ phú không thể tách rời với thi
pháp. Trong những ngày sống chung với Nguyễn Tinh Trúc, Đoàn Chính Thuần đã
chép tặng bà này bài Sầm viên xuân, một bài từ danh tiếng: Sóng thu dường điểm
mực
Tóc phượng rủ bên tai
Dung nhan tuấn nhã
Vẻ thiên nhiên càng ngắm
càng tươi
Cách hoa nhìn bóng dáng
Vằng vặc ánh sao thưa
Ngồi tựa lan can ngắm
Mặt hồ gươm phẳng lặng
như tờ...
Bao giờ quên được
Hình ảnh lúc chia phôi
Khăn là ướt đẫm
Ly biệt đôi đàng dòng lệ
rơi.
Đoàn Chính Thuần là một vương gia phong nhã,
có riêng một thư pháp. Chính nhờ đó, Tiêu Phong đã đối chiếu nét chữ trên bài từ
với nét chữ của một nhân vật ẩn danh được gọi là "Thủ lĩnh đại ca"
trong lá thư viết về truyện giết cha ông ngoài Nhạn Môn Quan và biết Đoàn Chính
Thuần không phải là người chủ mưu vụ giết cha mình. Thơ luôn gắn liền với tình
yêu, đặc biệt là những mối tình dang dở. Gần như Kim Dung tôn trọng triệt để mô
thức đó... Trong Tiếu ngạo giang hồ, Lệnh Hồ Xung và Nhạc Linh San thương yêu
nhau. Rồi một người thứ ba - Lâm Bình Chi - hiện ra và Nhạc Linh San say mê Lâm
Bình Chi, phụ rẫy mối tình của Lệnh Hồ Xung. Nàng lấy Lâm Bình Chi khi Lâm Bình
Chi đã tự thiến (dẫn đao tự cung) để luyện Tịch tà kiếm phổ. Biết chồng mình
không còn là đàn ông nữa, Nhạc Linh San đau đớn nhớ thương chàng Lệnh Hồ Xung.
Cô đã đề lên trên tấm vải một bài thơ của danh sĩ Lý Thương Ẩn, mượn thơ người
để biểu đạt tâm trạng của mình:
Nhớ xưa luyến ái Hàn công tử
Xương trắng thành tro hận
chửa tan.
Ngày Nhạc Linh San chết
đi, Lệnh Hồ Xung trở về núi Hoa Sơn. Anh vào căn phòng riêng của Nhạc Linh San
và đọc được hai câu thơ ấy, biết được tâm trạng Nhạc Linh San và cảm thấy
thương yêu cô gái bất hạnh hơn bao giờ hết. Cũng trong Tiếu ngạo giang hồ, ta đọc
được những câu thơ bình dân khá nổi tiếng của người Trung Hoa. Gần như bọn
giang hồ hào sĩ thường lấy những câu thơ nầy làm câu cửa miệng, đọc lên trong
những tình huống thích hợp. Thí dụ khi chia tay nhau họ đọc: Thanh sơn bích
thuỷ Hậu hội hữu kỳ (Non xanh trơ đó Nước biếc vẫn đây Còn ngày gặp gỡ) Hay
khi khuyên ai xuống tay giết một người, họ thường đọc hai câu thơ:
(Lượng nhỏ chẳng thành người quân tử Không độc
sao nên đấng trượng phu) Những câu thơ thông tục, đặt đúng vào vị trí trong văn
cảnh, đã làm tác phẩm tăng thêm chất văn học. Thơ luôn gắn liền với kinh điển của
các tôn giáo, bang hội. Trong kinh của Báo hoả giáo Ba Tư, có đến trên 100 bài
thơ của Nga Mạc, đã được nhà thơ Quách Mạt Nhược dịch ra bản Quan thoại. Kim
Dung đã khéo léo sử dụng một bài thơ ngắn nói về số phận con người, gắn bài thơ
đó vào thân phận Tiểu Siêu, cô gái lai Ba Tư - Trung Hoa trong Ỷ thiên Đồ long
ký. Tiểu Siêu thương yêu Trương Vô Kỵ nhưng không hề nói lên lòng thương yêu
đó. Cô chỉ vẫn thường hát cho anh nghe:
Lai như lưu thuỷ hề, thệ
như phong
Bất tri hà xứ lại hề, hà
sở chung
Chỉ có 17 chữ nhưng bài
thơ cực kỳ hàm súc. Tôi xin tạm dịch: Chợt đến như dòng nước chảy
Rồi tàn như gió thoảng
mau
Chẳng biết từ nơi nào đến
Và chẳng biết tàn nơi đâu.
Cho đến khi Tiểu Siêu hôn Trương Vô Kỵ, từ biệt
anh để trở về Ba Tư, Trương Vô Kỵ mới khám phá ra ý nghĩa của tình yêu nằm
trong lời kinh Bái hoả giáo. Cuộc đời con người ngắn ngủi thì tình yêu cũng thế;
cũng Lai như lưu thuỷ hề, thệ như phong và bất tri hà xứ lai hề, hà sở chung.
Tôi cho đoạn Tiểu Siêu chia tay Trương Vô Kỵ trên biển là đoạn hay nhất, giàu
chất thơ nhất trong cả 12 pho tiểu thuyết đồ sộ của Kim Dung. Thơ chính là Đạo.
Kim Dung muốn bạn đọc của mình nhận ra điều ấy. Ông đã để cho những nhân vật của
mình xuất khẩu thành thơ, ngôn từ đơn giản nhưng ý tứ - cái Đạo bên trong - lại
rất bao la, thâm diệu. Thí dụ như bài thơ của nhà sư Trí Quan đọc cho Kiều
Phong khi nghe Kiều Phong lên núi thiên thai, chùa Chỉ Quán, yết kiến ông và hỏi
thăm gốc gác của mình. Tự thâm tâm, Kiều Phong rất xấu hổ, rất đau đớn vì mình
là người Khiết Đan; mình không thuộc dân tộc Hán. Nhà sư Trí Quan đã giải quyết
mối ưu tư nội tại của Kiều Phong bằng một bài thơ mang chất thiền mênh mông:
Khiết Đan với Hán nhân
Bất luận giả hay chân
Ân oán cùng vinh nhục
Không hơn đám bụi trần
Kim Dung đã đẩy tiểu thuyết
của mình đi đến bờ cõi bao la của triết học. Và tuỳ trình độ nhận thức, cảm thụ;
các nhân vật của ông ngộ hay không ngộ vấn đề. Tất nhiên, bài thơ như thế này rất
gần gũi với con người, không đến nỗi bí hiểm như những công án của Thiền tông.
Trong 12 pho tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, thơ Trung Hoa và thơ của Kim
Dung xuất hiện đều đặn. Nó trung hoà với tính chất sắt máu của cuộc đấu tranh
chánh - tà, thể hiện cái hồn của văn học tiểu thuyết chương hồi truyền thống.
Nó kết hợp với thư pháp (phép viết chữ), hình thành nên những pho võ công cho
phán quan bút, kiếm pháp, chưởng pháp. Nó làm nên tố chất lãng mạn cho tình
yêu, chất triết lý cho tôn giáo, chất trí tuệ cho đời sống. Đưa thơ vào truyện
kiếm hiệp như ông quả là thủ pháp của một nhà văn cao cường. Có thể nói, Kim
Dung đã vượt xa những bậc tiền bối của mình trong hệ tiểu thuyết chương hồi
Minh Thanh. Điều này cũng rất dễ hiểu bởi Kim Dung là một nhà thơ có tài và tài
năng của ông thực sự phát triển rực rỡ khi người tình Hạ Mộng ra đi khỏi vòng
tay ông.
Ngôn ngữ bình dân
Trước hết, ngôn ngữ văn
chương là ngôn ngữ nghệ thuật. Tuy nhiên, không ai cấm nhà văn đưa vào hệ thống
ngôn ngữ bình dân, đặc biệt là ngôn ngữ thoá mạ, vào trong tác phảm của mình.
Có nhiều khi, một từ thoá mạ thô thiển, thậm chí tục tĩu, nằm đúng vào ngữ cảnh
của câu văn hoặc tình huống của chương hồi lại tạo ra được yếu tố nghệ thuật bất
ngờ, thú vị cho văn chương. Đọc văn chương Trung Hoa, chúng ta bắt gặp ngôn ngữ
thóa mạ gần như là yếu tố khá phổ biến, bàng bạc trong tác phẩm. Bộ tiểu thuyết
sử thi Tây Hán chí (Hán Sở tranh hùng) có nhiều đoạn mô tả phương pháp thoá mạ
mà các tường lĩnh của Hán vương Lưu Bang và Tây Sở bá vương Hạng Vũ đùng để chửi
bới lẫn nhau với mục đích chọc giận kẻ thù, buộc kẻ thù không chịu nhục được,
phải mở cửa thành ra đánh. Gặp kẻ thù ngoan cố, chịu nhục giỏi, các tướng lĩnh
còn ra lệnh cho bọn mạ thủ (chuyên chửi) cưởi truồng ra mà thoá mạ. trong AQ
chính truyện, Lỗ Tấn đã cho phép nhân vật AQ của mình thực hiện phép “thắng lợi
tinh thần”, thình thoảng cũng thoá mạ cụ Triệu, Vương râu xồm, Đôn oắt tì và
Tây giả cầy: “Mày là cái thứ đồ gì? Con ông về sau còn hơn gấp mười lần mày” hoặc
“Nó đánh mình như đánh bố nó”. Văn chương của Kim Dung là thế giới của bọn hào
sĩ giang hồ; trong đó một nửa là bàng môn tả đạo, bắt gà, trộm chó, cướp của,
giết người, lại bất học vô thuật nữa cho nên chuyện thoá mạ đối với họ như cơm
bữa. Bộ Hiệp khách hành là bộ tiểu thuyết có lối thóa mạ kỳ lạ nhất. Mỗi khi
nghĩ đến tình địch, Mai Phương Cô thoá mạ con của Thạch Thanh và Mẫn Nhu là Cẩu
Tạp Chủng, kêu tên Cẩu Tạp Chủng chửi mấy tiếng cho đỡ buồn. Đối với người đàn
bà ghen tuông ghê gớm này, một nửa Thạch Phá Thiên có chất người của Thạch
Thanh, một nửa còn lại có chất “chó má” của Mẫn Nhu! Cậu bé phải mang cái tên Cẩu
Tạp Chủng cho đến năm 20 tuổi mới biết được tên mình là Thạch Phá Thiên. Thiên
Long bát bộ cũng có một hệ thống ngôn ngữ thoá mạ phong phú. Một nhà sư trẻ Phật
lực cao cường, kinh điển tinh thông, lòng dạ đoan chính như Hư Trúc cũng bị
Thiên Sơn Đồng Mỗ cung Linh Thứu núi Phiêu Diễu thoá mạ là “xú hoà thượng, sư
chết chém, thầy chùa chết đâm”. Bọn “quần tiên” 36 động 72 đảo là một phường
bàng môn tả đạo ô hợp; đàn ông thì tự xưng là “lão gia, lão tử”, đàn bà thì tự
xưng là “lão nương”. Bọn đệ tử của Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu thì tán tụng
thầy: “Tinh Tú lão tiên thần thông quảng đại thiên hạ vông song. Lão gia đá
một phát như trời long đất lở, vẫy tay một cái nhật nguyệt lu mờ” và đối với
các phài khác, bọn họ coi chẳng ra gì. Thế như khi Đinh Xuân Thu bị Hư Trúc
đánh ngã, cả bọn lại nịnh Hư Trúc và quay ngược thoá mạ Đinh Xuân Thu: “Ánh
lửa đom đóm mà dám tranh sáng với mặt trời mặt trăng. Ngươi là kẻ tiểu nhân
gian tà, độc ác”. Kiểu thoá mạ như vậy gây cho người đọc những nụ cười thú
vị về thói nịnh, thói xu viêm phụ nhiệt. Mà không chỉ có bọn đàn ông mới thoá mạ.
Trong Thiên Long bát bộ, Kim Dung còn xây dựng một hình tượng phụ nữ khá độc
đáo: nàng hoa khôi Ôn Khang, vợ Mã Đại Nguyên. Người đàn bà đẹp này bình thường
khép nép, nghiêm cẩn, rõ ra khí tượng của một thiếu phụ khả kính. Nhưng trước
khi nàng ta chết, người đọc mới hiểu ra rằng nàng là kẻ dâm loạn với Đoàn Chính
Thuần, Bạch Thế Kính. Trước khi chết, Ôn Khang còn ráng thu hết tàn lực thoá mạ
Kiều Phong một hồi với mới ngon ngữ vừa tục tĩu vừa độc ác. Và càng thoá mạ,
đôi mắt nàng càng sáng lên, gương mặt lại có vẻ cao hứng, phấn khởi! Bọn quần
hào bốn châu Tề, Lỗ, Dự, Ngạc trong Tiếu ngạo giang hồ có trình độ thoá mạ cũng
thuộc hạng thượng thừa. Chúng kết hợp với Đào Cốc lục tiên cùng một giuộc, hễ mở
miệng ra là “con mẹ nó, 18 đời tổ tôn quân rùa đen, phường đê tiện”. Đặc biệt
ngôn ngữ thóa mạ còn được dùng như mộ thứ mật khẩu để nhận ra nhau. Lệnh Hồ
Xung, chưởng môn Hằng Sơn, bị bọn đệ tử Tung Sơn từng bị chàng đâm mù mắt vây
hãm trong hang động tối đen núi Hoa Sơn, tìm mọi cách để giết chàng. Khi phóng
kiếm ra trong bóng tối, họ thường chửi: “Cút con bà mày đi!”. Hoá ra, đó là mật
khẩu để nhận ra nhau. Lệnh Hồ Xung thoát chết nhờ biết học và dùng câu “Cút con
bà mày đi!”. Những kẻ khiếm thị kia cứ ngỡ chàng là đồng bọn! (Tiếu ngạo giang
hồ). Nhưng không ở tác phẩm nào, ngôn ngữ thóa mạ được hệ thống hoá một cách
tinh xảo và nâng cao thành ngôn ngữ văn học lạ lùng như trong Lộc Đỉnh ký. Vi
Tiểu Bảo Xuất thân từ Lệ Xuân viện thành Dương Châu, 13 tuổi đã lĩnh hội trọn vẹn
mớ ngôn ngữ tục tĩu của khách làng chơi và đám kỹ nữ. Khi được vào trong cung
nhà Thanh, hắn lại được tu nghiệp thêm với bọn thái giám và thị vệ, trở thành một
chuyên gia thoá mạ hạng nhất. Hắn gọi Tổng quản thái giám là “Hải lão con rùa”,
gọi thái hậu là “mụ điếm già”, gọi công chúa Kiến Ninh là “con đượi non”, gọi
Ngô Tam Quế là “đại Hán gian”, gọi Ngô Ứng Hùng là “tiểu Hán gian”. Tiến quân
ra biên giới Đông Bắc đánh nhau với nước Nga, hắn gọi quân Sa hoàng là “bọn quỷ
Hồng mao”. Bắt được một số hàng binh Nga, hắn buộc những người này phải ra trận
làm mạ thủ, chửi bới viên tư lệnh quân Nga là Á Nhĩ Thanh Tư Cơ, chọc giận cho
quân Nga khai thành tiếp chiến. Tuy nhiên, hắn cực kỳ thất vọng khi hàng binh
Nga chỉ biết chửi “người là đồ heo, đồ chó”. Hắn vỡ lẽ ra rằng về phương pháp
và nội dung thóa mạ, người Trung Quốc cao cường hơn người Nga; câu văn phong
phú hơn mà tiết tấu cũng nhịp nhàng hơn. Nghệ thuật chửi bới của Vi Tiểu Bảo xuất
thần nhập hóa đến nỗi hai ông thầy của hắn cũng theo học mớ ngôn ngữ tào lao
đó. Vua Khang Hy và Trần Cận Nam cũng theo cách chửi của Vi Tiểu Bảo, chửi tục.
Chửi cho vui! Văn chương là sự phản ánh cuộc sống xã hội nhất định trong một
giai đoạn nhhất định. tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung nói về bọn hào sĩ giang
hồ thời phong kiến. Mà cái mặt bằng văn hóa thời phong kiến của xãn hội Trung
Hoa quá thấp, là sản phẩm của một nền kinh tế nhỏ và lạc hậu. Chính trong một
xã hội như vậy, việc đưa ngôn ngữ thóa mạ vào miệng những nhân vật của mình là
một cái gì hết sức tự nhiên. Vấn đề còn lại là ngôn ngữ thóa mạ ấy hiện ra
trong ngữ cảnh nào, trong trường hợp nào. Kim Dung đã làm một chuyện hết sức
tài hoa: việt được những bộ tiểu thuyết trường thiên, giàu tính nghệ thuật bằng
sự pha trộn ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân, trong đó có ngôn ngữ thoá mạ.
Ông sáng tác tiểu thuyết tại Hongkong, nhưng văn chương Quan thoại trong tác phẩm
của ông cực kỳ trong sáng và nghệ thuật: rất gần gũi với Quan thoại Trung Quốc.
Tháng 1/1995, ông về Bắc Kinh diễn thuyết và nhận hàm giáo sư danh dự Đại học Bắc
Kinh; các học giả Trung Hoa đã ca ngợi cách thể hiện của Kim Dung, coi ông là
nhà văn lớn của nền văn chương Quan thoại hiện đại. Kim Dung đã biết dung nạp
cái nhã và cái tục, sử dụng cái tục để tạo ra cái nhã. Thủ pháp diễn đạt của
ông là thủ pháp của nhà văn thượng thừa. Có lẽ vì thế mà hôm nay, 12 bộ tiểu
thuyết của ông đã được các nhà xuất bản Trung Quốc in lại và được bày bán, trân
trọng đón nhận trên toàn cõi Trung Hoa. Kim Dung có thêm cả tỷ độc giả chính thức.
Số phận những bộ sách
Trước khi là một nhà văn
viết tiểu thuyết võ hiệp, Kim Dung đã là nhà văn hóa. Và là một nhà văn hóa cho
nên ông rất chú trọng đến các vấn đề văn hóa, đặc biệt là các vấn đề về thế giới
sách. Ông đã dành cho sách một vị trí khá quan trọng, không phải chỉ trong những
bài viết trên tờ Minh báo mà còn ngay trong tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp vốn đầy
tính đấu tranh của giới võ lâm. Ta có thể tìm trong thế giới võ hiệp của ông một
thế giới vế sách và số phận của những bộ sáfch đó cũng đầy sóng gió như số phận
những nhân vật chính trong tác phẩm của ông. Một cách khái quát, Kim Dung có cách
gọi tên sách rất phong phú. Sách được gọi là Thư; như bộ Võ Mục di thư của Nhạc
Phi (tức Nhạc Võ Mục) giấu trong bảo đao Đồ Long (Ỷ thiên Đồ long ký), bộ Minh
thư tập lược của Cố Viêm Võ và Tra Y Hoàng (Lộc Đỉnh ký). Sách được gọi là Phổ;
như Tịch tà kiếm phổ của nhà họ Lâm ở Phúc Châu (Tiếu ngạo giang hồ), Cầm phổ
và Tiêu phổ của khúc hợp tấu Tiếu ngạo giang hồ. Sách được gọi là Kinh; như Thần
chiếu kinh của Đinh Điển (Liên thành quyết), Lục mạch thần kiếm kinh của chùa
Thiên Long và Dịch cân kinh của chùa Thiếu Lâm (Thiên Long bát bộ), Tứ thập nhị
chương kinh của Bát kỳ triều Thanh (Lộc Đỉnh ký), Dược vương kinh (Phi hồ ngoại
truyện). Sách được gọi là Điển, như Quỳ hoa bảo điển (Tiếu ngạo giang hồ). Sách
được gọi là Lục, như bộ Tử hà bí lục của phái Hoa Sơn (Tiếu ngạo giang hồ).
Sách được gọi là Tâm pháp, như bộ Càn không đại nã di tâm pháp (Ỷ thiên Đồ Long
ký). Sách được gọi là Ký, như Minh giáo lưu truyền Trung thổ ký của Dương Tiêu
viết về quá trình hình thành Bái hỏa giáo (Minh giáo) ở đất Trung Hoa (Ỷ thiên
Đồ Long ký). Những bộ sách mà Kim Dung đề cập đến được ghi chép với nhiều dạng
văn tự khác nhau trên những phương tiện khác nhau. Vũ Mục di thư, Cửu âm chân
kinh chép bằng chữ Hán (khải thư) trên những tờ giấy (hay lụa ???) mỏng vàng
khè. Lục mạch thần kiếm kinh chép bằng chữ Hán, có đồ hình hướng dẫn chép trên
lụa quý. Tịch tà kiếm phổ lại chép trên áo cà sa. Dịch cân kinh chép bằng tiếng
Phạn (Sanskrit) trên giấy. Hấp tinh đại pháp của Nhậm Ngã Hành mà Lệnh Hồ Xung
học được được khắc trên tảng sắt nằm trong nhà ngục ở Thái Hồ. Võ công phái
Tiêu Dao (Thiên Long bát bộ) hay công phu Hiệp khách hành (Hiệp khách hành) được
khắc trên đá). Càn không đãi nã di tâm pháp được chép trên tấm da dê. Võ công
Minh giáo Ba Tư được khắc bằng tiếng Ba Tư (Presian) trên 6 tấm Thánh hỏa lệnh
dài ngắn khác nhau, xương không ra xương, ngà không ra ngà. Nói cách khác, những
bộ sách mà Kim Dung đề cập đến khá phong phú về văn tự, đa dạng về vật liệu làm
sách. Ngay cả cách chép sách cũng lạ: phải vận chỉ công để khắc chữ trên sắt (Hấp
tinh đại pháp trong Tiếu ngạo giang hồ); phải đem Thánh hỏa lệnh nhúng vào một
lớp sáp rồi viết chữ lên lớp sáp và dùng cường toan (acide) đồ theo những chữ
đã viết mới ra tự dạng trên Thánh hỏa lệnh. Sách đã lạ, cách đọc sách càng lạ
hơn. Lệnh Hồ Xung sẽ không đọc được Hấp tinh đại pháp nếu không cởi trần truồng
nằm trên tấm sắt cho những chữ khắc đó hằn lên da thịt. Trương Vô Kỵ sẽ không
hiểu được võ công Ba Tư nếu như Bảo Thụ vương của Ba Tư không bị đánh Thánh hỏa
lệnh trúng vào má cho chữ bị hằn lên để Tiểu Siêu đọc và dịch ra tiếng Hán. Vô
Kỵ cũng không biết tấm da dê là Càn khôn đại nã di tâm pháp nếu Tiểu Siêu không
trích máu ngón tay nhỏ vào cho chữ hiện ra. Du Thản Chi chỉ có thể lãnh hội được
Dịch cân kinh khi cúi đầu xuống đất, chổng chân lên trời. Tựu trung, những bộ
sách trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung mang theo nhiều điều bí ẩn khó tả, có
người cầm nó trong tay nhưng chẳng biết được giá trị liên thành - chiều sâu chứa
đựng trong bộ sách. Số phận của những bộ sách được Kim Dung hư cấu trong tác phẩm
tiểu thuyết võ hiệp của ông đã thực sự cuốn hút người đọc, đưa người đọc đi vào
một thế giới tiểu thuyết vừa siêu thực nhưng cũng rất hiện thực. Có những bộ
sách trở thành tực đề luôn cho tác phẩm. Đó là trường hợp của khúc hợp tấu cầm
– tiêu Tiếu ngạo giang hồ, khúc hợp soạn của hai con người thanh nhã: Lưu Chính
Phong, cao thủ Hành Sơn (bạch đạo) và Khúc Dương, trưởng lão Triêu Dương thần
giáo (hắc đạo). Xưa nay, người ta vẫn sống theo công thức "hắc bạch không
thể hòa, chính tà không thể gặp”. Cả Lưu Chính Phong và Khúc Dương đều muốn chứng
minh rằng khúc Tiếu ngạo giang hồ của họ có thể hóa giải những biên giới của sự
chia rẽ và hận thù. Kết quả là cả Phong lẫn Khúc đều bị hại bởi những con người
tự xưng là danh môn chính phái. Bộ sách đó được truyền lại cho Lệnh Hồ Xung
phái Hoa Sơn; mang nó trong người, chàng gặp phải không biết bao nhiêu điều đau
khổ. Nhưng cũng chính Tiếu ngạo giang hồ đã đưa chàng lãng tử vô hạnh này gặp
được một ngọc nữ: Nhậm Doanh Doanh, ái nữ của Giáo chủ Triêu Dương thần giáo Nhậm
Ngã Hành. Họ yêu thương nhau, đến với nhau, hoá giải được biên giới chính tà, hợp
tấu cầm tiêu Tiếu ngạo giang hồ đi đến chỗ tâm linh tương thức - điều mà hai vị
tiền bối Lưu – Khúc không thể làm được. Một bộ sách khác được nhắc đến trong Tiếu
ngạo giang hồ là Tịch tà kiếm phổ (sách về những đường kiếm chuyên trừ bọn tà đạo),
lưu truyền một lộ kiếm pháp vô địch, tương truyền của dòng họ Lâm. Tổ họ Lâm,
Lâm Viễn Đồ, xuất thân là tiêu sư, có được kiếm phổ phải “dẫn đao tự cung” (tự
thiến) luyện thành. Kiếm pháp Tịch tà quá đỗi độc ác, ông ta chép lại vào áo cà
sa, đi tu và dặn con cháu không được dở ra coi. Con ông là Lâm Chấn Nam võ công
tầm thường, bị phái Thanh Thành của Dư Thương Hải tấn công nhằm đoạt Tịch tà kiếm
phổ mà không đánh trả được. Cuối cùng, kiếm phổ bị chưởng môn phái Hoa Sơn Nhạc
Bất Quần đoạt được. Một mặt, Nhạc liền “dẫn đao tự cung” để luyện, mặt khác lão
vu cáo cho học trò là Lệnh Hồ Xung ăn cắp Tịch tà kiếm phổ. Khi Nhạc luyện
xong, vứt áo cà sa đi thì Lâm Bình Chi, con trai Lâm Chấn Nam, lấy được và cũng
ngay lập tức… “phăng teo” để luyện. Nhạc nghi ngờ, gả con gái là Nhạc Linh San
cho cho Lâm và thường xuyên theo dõi xem con gái mình có được “hạnh phúc” hay
không. Lâm Bình Chi đã “tự cung” thì làm sao có thể chăn gối được. Nhưng Nhạc
Linh San đã cứu mạng Lâm Bình Chi: cô trả lời rằng Lâm đối với cô rất tốt. Nhạc
Bất Quần tin lời đó mới tha mạng cho Lâm Bình Chi. Nhưng cuối cùng, Lệnh Hồ
Xung với Độc Cô cửu kiếm vẫn đánh bại Tịch tà kiếm pháp “vô địch”. Bộ Tịch tà kiếm
phổ đó đã khiến ba con người thân bại danh liệt: Nhạc Bất Quần, Lâm Bình Chi và
Tả Lãnh Thiền, chưởng môn phái Tung Sơn. Đúng ra, phải gọi nó là Tà môn kiếm phổ.
Những pho sách mà Kim Dung đề cập đến trong tác phẩm của ông có khi là sản phẩm
tưởng tượng, cũng có khi là sản phẩm thực tế được lồng vào cốt truyện. Vũ Mục
di thư (trong Ỷ thiên Đồ Long ký), Dịch cân kinh (trong Thiên Long bát bộ), Tứ
thập nhị chương kinh và Minh thứ tập lược (trong Lộc Đỉnh ký)… là những tác phẩm
có thực trong lịch sử văn hóa Trung Hoa. Dù là sản phẩm hư cấu hay sản phẩm thực
tế, Kim Dung đã khoác cho những bộ sách của mình một hành tung kỳ bí, một số phận
oái oăm, khiến người đọc càng cảm thấy thú vị. Thí dụ như trường hợp bộ Tứ thập
nhị chương kinh, một bộ kinh Phật thông thường mà mọi người Trung Hoa đều có thể
biết, trong Lộc Đỉnh ký. Bát kỳ Mãn Châu tấn công Trung Nguyên, tiêu diệt nhà
Minh. Hoàng đế Thanh triều Thuận Trị đã giao cho các thủ lĩnh Bát kỳ tám quyển
Tứ thập nhị chương kinh, mỗi quyển có bìa sách đúng như màu cờ của Bát kỳ: Bạch
kỳ bìa trắng, Hắc kỳ bìa đen, Hồng kỳ bìa đỏ, Thanh kỳ bìa xanh… Tám quyển kinh
đó có gì đặc biệt? Có! Thuận Trị đã cắt nhỏ một bản đồ khu vực Oa Tập Sơn (tiếng
Mãn; tiếng Hán là Lộc Đỉnh Sơn) rồi chia các miếng vải đã cắt vào trong bìa
sách, chia cho Bát kỳ. Thuận Trị dặn con cháu: “Nếu không giữ được thiên hạ (tức
đất Trung Nguyên) thì ta ở đâu hãy trở về nơi đó”. Có ít nhất năm thế lực tìm mọi
cách để cướp cho được bí mật trong tám quyển Tức thập nhị chương kinh. Đó là
hoàng đế Khang Hy, con Thuận Trị. Đó là Cửu Nạn sư thái, nguyên là công chúa Hồng
Anh, con vua Sùng Trinh triều Minh. Đó là bọn Thần long giáo, một giáo phái bí
mật thông đồng với người La Sát (tức Nga Ta Lư). Đó là Thiên Địa hội, một tổ chức
phản Thanh phục Minh do Trần Vĩnh Hoa (Trần Cận Nam) là Tổng đàn chủ. Và đó là
Ngô Tam Quế, phản thần triều Minh, được nhà Thanh phong tước Bình Tây vương, trấn
vùng Vân Nam. Mỗi thế lực đều tin rằng tấm bản đồ giấu trong tám bìa sách có bí
mật riêng. Khang Hy muốn có để đốt đi, bảo vệ long mạch của tổ tiên tại Hắc
Long Giang, Lộc Đỉnh Sơn miền Đông bắc Trung Quốc. Bọn Cửu Nạn sư thái và Thiên
Địa hội thì muốn phá long mạch của nhà Thanh để đuổi người Mãn ra khỏi Trung
Nguyên, trả thù cho vua Sùng Trinh và khôi phục nhà Minh. Thần long giáo thì lại
tin rằng bản đồ vẽ sơ đồ kho báu… Cuối cùng cả tám quyển Tứ thập nhị chương
kinh lọt hết vào tay Vi Tiểu Bảo. Hắn lấy hết các mảnh vải nhỏ sai nữ tì Song
Nhi kết lại thành một bản đồ hoàn chỉnh. Hắn giữ lại bản đồ cho mình còn các
pho Tứ thập nhị chương kinh thì được may bìa lại để biếu cho Khang Hy, Trần Cận
Nam (thầy của Vi Tiểu Bảo) và Cửu Nạn sư thái (cũng là thầy của Vi Tiểu Bảo!).
Một số nhân vật của Kim Dung là văn gia nên đi đâu họ cũng mang sách theo. Sách
trở thành vũ khí trong chiến đấu chống kẻ thù, tranh biện với kẻ khác. Nhân vật
Chu Đan Thần, một trong Tứ Đại Vệ Hộ nước Đại Lý, có nhiệm vụ bảo vệ Trấn Nam
vương Đoàn Chính Thuần, đi đâu cũng cầm theo các tập thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ.
Trước khi chiến đấu, Chu hay ngâm thơ! Trong Thiên Long bát bộ, Chu thường cùng
bàn luận thi ca với Đoàn Dự, con Đoàn Chính Thuần. Nhân vật Thư ngai Cẩu Độc (Đồ
gàn đọc sách lung tung) trong nhóm Hàm Cốc bát hữu ra trận thường… lục túi, đem
sách ra… đấu võ miệng. Trong trận đụng độ với nhà sư Huyền Thống chùa Thiếu
Lâm, Cẩu Độc đã đem đủ các sách Luận ngữ, Mạnh Tử ra chất vấn Huyền Thống. Huyền
Thống vẫn mặc kệ, đánh tràn. Sực nhớ nhà sư không đọc sách đạo Nho, Cẩu Độc đổi
sang trích dẫn kinh điền đạo Phật: “Bể khổ mênh mông, quay đầu là bờ”, khiến Huyền
Thống chợt ngừng trận đấu. Nhà sư chợt ngộ Thiền cơ trong câu nói đó và viên tịch
ngay tại chỗ với nụ cười thư thái giải thoát trên môi. Sách của Kim Dung đã đề
cập đến trong truyện võ hiệp đương nhiên là sách quý, giá trị không biết bao
nhiêu mà lường. Trong Ỷ thiên Đồ Long ký, nhà sư Giác Viễn trước khi chết, đọc
một vài đoạn thuộc lòng trong bộ Cửu dương chân kinh. Quách Tương học lóm vài
đoạn mà đã có thể dựng nên phái Nga Mi; Trương Quân Bảo cũng chỉ thuộc vài đoạn
mà dựng nên phái Võ Đang. Bọn Doãn Khắc Tây, Tiêu Tương Tử ăn cắp từ chùa Thiếu
Lâm bộ sách này, rạch bụng con vượn mà nhét vào. Trước khi chết, chúng di ngôn
lại cho Hà Túc Đạo núi Côn Lôn là “kinh để trong hầu”. Hà Túc Đạo nghe gà hóa
cuốc, nói lại với phái Thiếu Lâm là “kinh để trong dầu”! Chỉ sau này, khi
Trương Vô Kỵ giải phẫu cho con vượn già mới tìm lại được bộ sách trân quý của
chùa Thiếu Lâm. Sách quý nên việc bảo quản cũng rất công phu. Những nơi chứa
sách được gọi là tàng kinh lâu, tàng kinh các, có quy định rất nghiêm ngặt, cấm
người lạ lai vãng. Càng cấm nên sách càng gợi trí tò mò. Từ đó xuất hiện những
kẻ ăn cắp sách. Trong Thiên Long bát bộ, nhà sư Ba La Tinh từ Thiên Trúc đến
chùa Thiếu Lâm ăn cắp sách, bị phát hiện và bị giam lỏng tại chùa Thiếu Lâm.
Tiêu Viễn Sơn, dòng quốc thích Khất Đan, đột nhập vào Tàng kinh các Thiếu Lâm đọc
lén võ kinh và học võ công Trung Quốc để trả thù cho vợ. Mộ Dung Bác, tộc Tiên
Ty, hậu duệ hoàng tộc Đại Yên thời Thập lục quốc cũng từng đột nhập Thiếu Lâm học
lén 72 tuyệt kỹ Thiếu Lâm, trá tử, ẩn nhẫn nuôi mộng trung hưng nước Đại Yên.
Những nhân vật của Kim Dung thường có trí nhớ rất tuyệt vời. Vương Ngữ Yên thuộc
làu các sách võ trong thiên hạ, trở thành nhân vật ai cũng hâm mộ. Đoàn Dự chỉ
xem qua Lục mạch thần kiếm kinh một lần tài chùa Thiên Long mà tâm đã lãnh hội
trọn vẹn. Trong 12 bộ tiểu thuyết của Kim Dung, chỉ có một nhân vật ghét sách
thậm tệ, thấy sách và chữ nghĩa là mắt hoa đầu váng. Đó là Vi Tiểu Bảo, Lộng Đỉnh
công triều Khang Hy. Vốn hắn dốt đặc cán mai, chỉ thích chơi gái, đánh bạc, uống
rượu, nói tục. Ấy thế mà trời lại trao cho hắn tám quyển Tứ thập nhị chương
kinh! Sách chiếm một vai trò rất lớn trong các bộ tiểu thuyết võ hiệp. Kim Dung
đưa các bộ sách vào, tạo cho tác phẩm của mình những tình tiết hấp dẫn, nhữhng
mâu thuẫn lạ lùng. Ở chừng mực nào đó, sách làm nên chất văn hóa cho tác phẩm
tiểu thuyết võ hiệp vốn nặng về âm mưu, thủ đoạn, sự tranh đấu, sự giết chóc.
Chỉ ngay trong khía cạnh đưa sách vào tiểu thuyết võ hiệp, Kim Dung đã là một bậc
thầy trong văn chương tiểu thuyết hiện đại. “Thời trang”
Thời trang là khái niệm xuất hiện trong thời đại
của chúng ta. Trong xã hội phong kiến Trung Quốc ngày xưa không thể có khái niệm
thời trang, đơn giản là vì thời ấy chưa hề có người mẫu với những kiểu quần áo
mẫu được đưa lên sân khấu biểu diễn cho đông đảo quần chúng mô phỏng theo đó mà
may mặc. Tuy nhiên, “ăn theo thuở, ở theo thời”, từ ngàn xưa, nhân loại đã biết
cách ăn mặc để thích nghi với môi trường sống; việc ăn mặc trở thành một nhu cầu
phổ quát ở mọi nơi và vào mọi thời đối với mọi dân tộc. Tác phẩm tiểu thuyết
Kim Dung cũng không thoát ra khỏi quy luật phổ quát đó. Căn cứ vào cách ông
miêu ta cách ăn mặc của những nhân vật trong 12 bộ tiểu thuyết võ hiệp, ta có
thể nhận định về khái niệm “thời trang” như là một thực tế có thật trong các
tác phẩm đó. Có những hình thái thời trang tập thể được nhà văn Kim Dung miêu tả
sát với thực tế vì nó bắt nguồn từ những quy luật của các bang hội, tôn giáo của
võ lâm Trung Quốc. Đó là những hình thái thời trang mang tính bó buộc và tuyệt
đối. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Dung miêu tả giáo chúng Minh giáo
(Manichéisme) luôn luôn mặc bộ áo choàng dài màu trắng, ngực áo trái và tà áo
bên phải có thêu một ngọn lửa đỏ. Ngọn lửa đó chính là Thhánh hỏa, biểu tượng
có từ Bái hỏa giáo Ba Tư. Khi đem đạo truyền sang Trung Quốc, Hốt Đa Đán đã đổi
tên Bái hỏa giáo thành Minh giáo, gọi tên các chùa là Đại Vân Quang Minh tự.
Trong Hán tự, chữ Minh, gồm chữ Nhật kết hợp với chữ Nguyệt. Minh có nghĩa là
sáng như mặt trời, mặt trăng và sáng là yếu tính của ngọn lửa. Trong 12 bộ tiểu
thuyết của Kim Dung thì đã có 10 bộ ông nhắc đến các vị sư chùa Thiếu Lâm, thuộc
ngọn Tung Sơn, tỉnh Hồ Nam. “Thời trang” của các nhà sư rất dễ nhận ra: ngày lễ
các vị đại sư tiền bối mặc tăng y đại hồng, ngày thường mặc cà sa màu vàng; những
lớp đệ tử nhỏ hơn mặc tăng y màu xám hoặc nâu. Trong Tiếu ngạo giang hồ có những
đoạn Kim Dung đề cập đến phái Thanh Thành ở vùng Tứ Xuyên xuống Phúc Châu hoạt
động. Họ mặc một màu áo xanh, và đặc biệt nhấ là luôn luôn đội khăn trắng trên
đầu. Kim Dung thật tinh tế khi đưa ra chiếc khăn trắng ở đây! Đất Tứ Xuyên
nguyên thuộc về đất Ba Thục của Lưu Bị thời Tam Quốc. Khổng Minh là quân sư của
Lưu Bị, được nhân dân Ba Thục kính trọng như thần minh. Khi ông chết đi, cả một
dải Ba Thục đều để tang. Tục lệ ấy kéo dài qua 17 thế kỷ và cho đến nay, người
Tứ Xuyên ra đường vẫn còn quấn khăn trắng! Trong Thiên Long bát bộ, Kim Dung có
nhắc tới quần nữ cung Linh Thứu, núi Phiêu Miễu. Đây là vùng giáp giới sa mạc
Qua Bích (Gobi). Họ mặc áo trường bào màu xanh lục, cưỡi lạc đà. Lối trang phục
đó giúp họ dễ nhận ra nhau trên sa mạc chỉ có một màu cát vàng mênh mông. Trong
Lộc Đỉnh ký, Thần long giáo chia làm Ngũ kỳ (5 sắc cờ); mỗi kỳ có một màu áo
riêng: Thanh long mặc áo xanh, Hắc long áo đen, Xích long áo đỏ, Bạch long áo
trắng và Hoàng long áo vàng. Nếu thời trang tập thể mang tính bó buộc, quy luật
thì thời trang cá nhân lại hết sức linh hoạt, tự do, đặc biệt là ở những nhân vật
nữ. Nhân vật nữ trung hào kiệt của Kim Dung luôn luôn có nhu cầu làm đẹp và thậm
chí, nhu cầu đó rất cao. Có những nhân vật nữ chỉ thích một màu áo quần và màu
sắc ấy làm nên tính cách độc đáo của từng người, khiến ta không thể lầm người
này với người khác. Trong Thần điêu hiệp lữ, Tiểu Long Nữ chỉ mặc toàn một màu
trắng. Võ công cô học từ phái Cổ Mộ là Ngọc nữ kiếm pháp, thuần về âm nhu. Cô
lâm trận, đối địch với những kẻ thù hung bạo mà người ta cứ ngỡ cô đang múa bởi
màu áo trắng và những tư thức võ công nhuần nhuyễn, dịu dàng, mỹ lệ. Ngược lại,
Mộc Uyển Thanh (trong Thiên Long bát bộ) lại chỉ mặc tuyền một màu đen và bịt mặt
cũng bằng khăn màu đen. Người cô tiết ra một mùi hương tự nhiên man mác như
hương hoa mai côi (hoa hồng) nên giang hồ thường gọi cô là Hương dược xoa. Tuy
gọi “dược xoa” (xấu như quỷ sứ) nhưng thực sự, Mộc Uyển Thanh là một người đẹp
trong những người đẹp nhất trong Thiên Long bát bộ. Khá nhiều trường hợp, màu
áo quần của các nhân vật nữ làm thành tên gọi của nhân vật ấy. Trong Thiên Long
bát bộ, Đoàn A Châu chỉ mặc một màu đỏ, Đoàn A Tử chỉ mặc một màu tía, A Bích
thì màu xanh biếc, màu xanh của vùng sông nước Giang Nam. Trong Phi hồ ngoại
truyện, tiểu anh hùng Hồ Phỉ có một cô bạn 16 tuổi cực kỳ thông minh. Cô mặc áo
màu tía, tự xưng họ Viên và Hồ Phỉ cứ gọi cô là Viên Tử Y (cô Viên áo tía). A
Châu, A Tử, A Bích, Viên Tử Y từ màu sắc trang phục đã trở thành tên nhân vật.
Thời trang còn làm nên chức vụ, vai về của nhân vật. Trong Ỷ thiên Đồ long ký,
có nhân vật Đại Ỷ Ty, một cô gái lai Ba Tư xinh đẹp, gia nhập Minh giáo Trung
Quốc, lập được công lớn, đứng đầu tứ đại hộ pháp giáo vương của Minh giáo. Cô mặc
áo tía nên được tôn xưng là Tử sam long vương (vua rồng áo tía), đứng trên Bạch
mi ưng vương (vua ó mày bạc), Kim mao sư vương (vua sư tử lông vàng) và Thanh dực
phức vương (vua dơi cánh xanh). Chiếc áo tím của nàng Đại Ỷ Ty đã làm nên chức
vụ (thứ tự Tử, Bạch, Kim, Thanh). Các nhân vật nữ của Kim Dung rất chú trọng việc
chăm chút vẻ đẹp. Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ, cô gái Mông Cổ, Hán danh là Triệu Mẫn,
luôn luôn xuất hiện trước người tình Trương Vô Kỵ với áo khoác ngoài cổ da
điêu, phía trong là trường bào bằng gấm. Triệu Mẫn là một kiểu mẫu phụ nữ lý tưởng
với nhan sắc đẹp như hoa nở, trí thông minh mẫn tuệ cực kỳ và ứng xử mọi tình
huống một cách nhanh nhạy. Đọc Ỷ thiên Đồ long ký, không một độc giả nào có thể
chê trách được Triệu Mẫn. rong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung xây dựng một nhân vật
nữ cự kỳ “hiện đại” so với cả ngàn nhân vật nữ khác. Đó là Lam Phượng Hoàng,
người dân tộc Miêu Cương vùng Vân Nam, giáo chủ Ngũ độc giáo. Nghe tiếng chàng
Lệnh Hồ Xung là chàng trai phong lưu, cô đã vượt mấy ngàn dặm từ Vân Nam về
Hoàng Hà để tương kiến. Lam Phương Hoàng mặc chiếc áo lam in hoa trắng sặc sỡ,
mùi hương sực nức, dám ôm cổ Lệnh Hồ Xung hôn lên má trước mặt mọi người, dám
vén váy mình lên đặt con đỉa vào hút máu để truyền máu cho Lệnh Hồ Xung. Hành động
tự nhiên đó đã làm cho kiếm khách Giang Phi Hồng buồn tình mà tự vận. Những người
đẹp trong truyện võ hiệp Kim Dung không hhề muốn lên sân khấu, chưa hề biết đến
biểu diễn thời trang. Cá biệt, có một người muốn biểu diễn thời trang mà người
đi dự không thèm để mắt đến, giận đời nên đã gây thành một vụ huyết án động trời.
Đó là nàng Ôn Khang (Thiên Long bát bộ), vợ của Mã Đại Nguyên. Mã Đại Nguyên là
một anh hùng hảo hán, phó bang chủ Cái bang của Kiều Phong. Trong dịp Bách hoa
đại hội, Ôn Khang mặc bộ đồ lụa đẹp nhất, đứng bên cạnh chậu thược dược. Già trẻ
đi ngang đó đều nhìn nàng, tim đạp rộn ràng vì không ngờ có một phụ nữ đẹp như
thế. Duy chỉ có một người không nhìn đến nàng. Đó là Kiều Phong. Giận vì nhan sắc
của mình không được hâm mộ, Ôn Khang xúi chồng tố cáo Kiều Phong là người Khất
Đan. Mã Đại Nguyên không nghe lời, Ôn Khang âm mưu cùng Bạch Thế Kinh giết chồng
bằng một thế Toả hầu cầm nã thủ rồi vu cáo cho Kiều Phong đã giết chồng mình để
bịt miệng. Quả nhiên, Kiều Phong mất ngôi Bang chủ Cái bang Trung Quốc. Sự trả
thù của siêu người mẫu Ôn Khang quả thật siêu việt! May mắn thay, đó chỉ là một
trường hợp cá biệt. Nhan sắc của người đẹp trong truyện võ hiệp Kim Dung không
bị đem ra bán đứng, tên tuổi của họ không bị đem ra kinh doanh, nhân phẩm của họ
được tác giả bảo về cẩn mật. Trí thông minh, lòng tự trọng và nhan sắc trời ban
cho đã giúp họ gặp được những chàng trai như ý, những mối tình tươi đẹp, trong
sáng và chung thuỷ. Viện Tử Y với Hồ Phỉ, Hân Tố Tố với Trương Thúy Sơn, Trương
Vô Kỵ với Triệu Mẫn, Lệnh Hồ Xung với Doanh Doanh, Tiểu Long Nữ với Dương Qua,
Vương Ngữ Yên với Đoàn Dự… là những lứa đôi thật đẹp. Ở một nghĩa hết sức biểu
tượng, Những lứa đôi đó góp phần làm nên khái niệm anh hùng và giai nhân, giấc
mơ lý tưởng của văn học nghệ thuật ngày xưa và hôm nay.
Những nhân vật quái dị
Khái niệm nhân vật quái dị
không phải là khái niệm do chúng tôi tạo ra mà là một khái niệm nằm trong văn
chương tiểu thuyết của Kim Dung tiên sinh. Văn chương của ông thường có các cụm
từ "trông lão thật là quái dị" hoặc "khuôn mặt của gã thật là
quái dị". Tuy viết như thế nhưng khái niệm quái dị không ngừng lại ở chỗ
mô tả ngoại hình, động tác. Khái niệm quái dị đi vào chiều sâu nhân cách của
các nhân vật, chủ yếu đưa ra những cách sống, cách tư duy khác đời và lắm khi,
đi ngược lại cái lẽ thường của cuộc sống. Trong Tiếu ngạo giang hồ, ta bắt gặp
nhân vật quái dị tiêu biểu là Tiêu tương dạ vũ Mạc Đại tiên sinh. Thân danh là
chưởng môn của phái Hành Sơn, Mạc Đại luôn luôn ăn mặc rách rới như một gã Cái
bang, chơi một cây dao cầm (hồ cầm) cũ kỹ và miệng luôn hát bài Tiêu Tương dạ
vũ (mưa đêm trên bến Tiêu Tương). Thế nhưng, trong đáy cây dao cầm của tiên
sinh có dấu một cây kiếm lưỡi mỏng như lá lúa, rất lợi hại. Mạc Đại được xưng tụng
là "cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm âm" (trong đàn có dấu một cây
kiếm, và khi múa kiếm thì lại phát ra tiếng đàn). Khi tiên sinh rút kiếm ra khỏi
cây đàn, vận công vào thân cây kiếm khiến kiếm khí phóng ra veo véo nơi đầu
mũi. Với "Hành Sơn vân tụ thập tam thức", chưa có một đối thủ nào
thoát khỏi tay Mạc Đại tiên sinh. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Mạc Đại chỉ xuất hiện
ra ba đoạn, cộng lại không quá mười trang sách nhưng đã gây được ấn tượng mạnh
mẽ và chiếm được cảm tình nồng thắm nơi người đọc. Đoạn thứ nhất, tiên sinh bất
ngờ xuất hiện trong tửu quán dưới chân núi Hành Sơn, bất ngờ rút kiếm chém đứt
tiện 7 chiếc trà trên bàn mà những giang hồ hảo thủ ngồi quanh không thể hiểu
được tiên sinh đã rút kiếm ra và thu kiếm về lúc nào. Đoạn thứ hai, Mạc Đại hiện
ra đúng lúc, múa kiếm giết chết Đại tung dương thủ Phí Bân của phái Thái Sơn để
cứu sư đệ của mình là Lưu Chính Phong cùng Khúc Dương (trưởng lão Ma giáo),
Khúc Phi Yên (con gái của Khúc Dương), Lệnh Hồ Xung (đệ tử Hoa Sơn) và Nghi Lâm
(đệ tử Hằng Sơn). Giết xong Phí Bân, tiên sinh đút kiếm vào đàn, ung dung ra
đi, giọng đàn dao cầm lại ngân lên khúc tình tang Tiêu Tương dạ vũ. Đoạn thứ
ba, Mạc Đại hiện ra giữa đêm khuya bên bến sông Trường Giang, trách cứ Lệnh Hồ
Xung là gã vong tình, không lo đi lên chùa Thiếu Lâm cứu người yêu mình là Nhậm
Doanh Doanh mà cứ bo bo đi theo bầy nữ đệ tử của phái Hằng Sơn. Lời trách cứ của
tiên sinh làm Lệnh Hồ Xung toát mồ hôi. Mạc Đại khoát tay hối Lệnh Hồ Xung ra
đi và chính tiên sinh nhận nhiệm vụ bảo toàn cho bọn nữ ni Hằng Sơn về núi. Con
người quái dị ấy thoạt ẩn thoạt hiện, mang phong cách của một đạo gia Lão
Trang, ung dung tiêu sái giữa cuộc đời. Duy có tiếng đàn và điệu ca Tiêu Tương
dạ vũ của tiên sinh luôn luôn trĩu nặng nỗi u buồn, chưa thoát khỏi vòng hệ luỵ
của cuộc sống, như dòng nước có đi mà không bao giờ có lại. Mạc Đại là hình ảnh
tiêu biểu của một thứ trích tiên bị đoạ. Tuy nhiên, trong Tiếu ngạo giang hồ,
không phải chỉ có duy nhất nhân vật Mạc Đại là quái dị. Người ta còn tìm thấy một
gã Tổ Thiên Thu, con người đầy mình mưu kế, văn võ song toàn nhưng lại ăn mặc
như một anh đồ nghèo kiết xác, đã ăn cắp Tục mệnh bát hoàn của một người bạn
thân là Lão Đầu Tử nhằm pha rượu cứu mạng Lệnh Hồ Xung. Người ta còn tìm thấy một
gã Lão Đầu Tử lùn tịt như trái dưa, võ công cao cường, khi cười khi khóc, hợp
cùng Tổ Thiên Thu thành ra cặp nhân vật Hoàng Hà Lão Tổ. Chính Lão Đầu Tử rất
căm hận Lệnh Hồ Xung đã "nuốt" mất 8 viên thuốc bửu bối nhằm cứu mạng
con gái mình nhưng khi biết được Lệnh Hồ Xung là người tình của Thánh cô Nhậm
Doanh Doanh, lão đã tự vả má mình cho vọt máu vỡ da. Trong Tiếu ngạo giang hồ,
một nhân vật quái dị khác cũng gây ấn tượng không kém là Bình Nhứt Chỉ đại phu,
nổi danh Sát nhân danh y, chuyên chẩn bệnh bằng một ngón tay (nhứt chỉ) và hễ cứu
một người là giết một người. Không cứu được Lệnh Hồ xụng, lão đã tự vận kinh mạch
cho đứt tuyệt để bảo vệ ngoại hiệu Sát nhân danh y. Nghe đến bốn chữ Đông
Phương Bất Bại (không bao giờ thua), người đọc cứ ngỡ đây là một vị anh hùng hảo
hán. Không, gã giáo chủ này chỉ là một người lại cái, đã tự thiến bộ phận sinh
dục của mình để luyện Quỳ hoa bảo điển, đã quan hệ đồng tính luyến ái với một
thủ hạ lân cận là Dương Liên Đình. Tuy nhiên, võ công của Đông Phương Bất Bại cực
kỳ cao cường. Gã đã chống trả lại 4 kẻ đại địch là Nhậm Ngã Hành, Nhậm Doanh
Doanh, Lệnh Hồ Xung và Hướng Vấn Thiên chỉ với một mũi kim thêu! Nhậm Doanh
Doanh đã dùng đến một đòn phép tệ hại nhất: hành hạ "người tình"
Dương Liên Đình để phân tâm Đông Phương Bất Bại, giúp cha mình giết chết Đông
Phương Bất Bại. Nhưng nhân vật quái dị được người đọc yêu mến nhất trong Tiếu
ngạo giang hồ vẫn là Phong Thanh Dương, sư thúc của Nhạc Bất Quần, phái Hoa
Sơn. Phong Thanh Dương là đại biếu của phe Kiếm tông (lấy kiếm làm chủ) trong
khi Nhạc Bất Quần là đại biểu của phe Khí tông (lấy nội công làm chủ). Chính
Phong Thanh Dương đã mắng Nhạc Bất Quần là kẻ xuẩn tài (có tài mà ngu), biến những
kẻ tài năng như đệ tử Lệnh Hồ Xung thành ra ngựa gỗ, trâu đá. Phong Thanh Dương
truyền thụ cho Lệnh Hồ Xung 9 thế kiếm của Độc Cô Cầu Bại với một câu quyết duy
nhất "sử kiếm liên miên bất tuyệt như nước chảy mây trôi, nghĩ đến đâu là
kiếm tới đó để chiếm tiên cơ, đẩy kẻ địch vào thế phải thủ". Toàn bộ lý
thuyết của Phong Thanh Dương là "lấy vô chiêu thắng hữu chiêu và lấy công
làm thủ ". Lệnh Hồ Xung đã học được bài học quý giá đó từ thái sư thúc tổ,
trở thành kẻ đối nghịch với sư phụ Nhạc Bất Quần, hạ Nhạc Bất Quần và môn Tịch
tà kiếm phổ của họ Nhạc, trở thành kiếm sĩ đệ nhất giang hồ. Phong Thanh Dương mình
gầy như con hạc, sắc mặt điêu linh tiều tuỵ, chỉ xuất hiện một lần mà danh tiếng
của Phong đã làm quần hùng chấn động. Nhân vật quái dị đến đâu cũng là con người
nên vẫn mang theo những đặc điểm, yếu tính của con người. Thế nhưng, khác hơn
con người nói chung, nhân vật quái dị suy nghĩ, sống và hành động theo ý mình
và thông thường sự suy nghĩ, sống và hành động đó lại vượt ra những khuôn sáo
bó buộc của lương tâm, luật pháp, đạo đức. Nó gây một sự kinh ngạc và thậm chí,
là sự kinh sợ cho người đọc. Một hình tượng tiêu biểu cho motif này là nàng Ôn
thị, vợ của Phó bang chúa Cái bang Mã Đại Nguyên trong Thiên Long bát bộ. Tác
giả Kim Dung chỉ để cho Ôn thị xuất hiện hai lần trong Thiên Long bát bộ. Lần
thứ nhất với vẻ nhu mì và đau thương của một vị vong nhân (đàn bà mới goá chồng),
lần thứ hai với toàn bộ phong cách dâm đãng và man rợ của một người mắc chứng
cuồng dâm. Hai hình tượng đối lập trong một con người có nhan sắc tuyệt vời thật
khiến cho người ta kinh sợ đến dựng cả tóc gáy. Mọi chuyện bắt đầu từ Bách hoa
đại hội, Ôn thị theo chồng là Mã Đại Nguyên, Phó bang chúa Cái bang, đi dự hội
hoa xuân này. Nhan sắc tươi đẹp của người phụ nữ này đã làm cho hàng ngàn anh
hùng hảo hán kinh ngạc, thán phục. Nhưng có một người không để ý tới tấm nhan sắc
đó. Người đó là Bang chúa Cái bang Kiều Phong. Thật ra, Kiều Phong không hề coi
thường vẻ đẹp phụ nữ; ông chỉ nghĩ rằng Ôn thị là vợ của thuộc hạ mình, cần phải
giữ đúng lễ. Thế nhưng điều đó đã làm Ôn thị căm thù và lập tâm sẽ hại Kiều
Phong để ông thân bại danh liệt. Nàng ta dựng lên một nghi án, cáo giác rằng chồng
nàng biết Kiều Phong là giòng giống man rợ Khất Đan nên Kiều Phong đã giết chồng
nàng để bịt miệng. Trong rừng hạnh ngoài thành Vô Tích, Ôn thị đã xuất hiện
trong tư thế một người đàn bà đang chịu tang chồng, tiết lộ thân thế Khất Đan của
Kiều Phong đã làm quần hùng Cái bang kinh tâm. Họ trở mặt khinh miệt ông, coi
ông là kẻ thù. Kiều Phong phải đau đớn rời bỏ chức vụ, ra đi. Kiều Phong sẽ
không bao giờ hiểu được động cơ nào đã đưa Ôn thị đến việc vu cáo mình đã giết
Mã Đại Nguyên, người bạn mà ông rất yêu mến, nếu không có một đêm ông rượt theo
dấu vết Đoàn Chính Thuần và tận mắt chứng kiến tấn kịch man rợ tại nhà Ôn thị.
Hoá ra, Ôn thị là người tình cũ của Đoàn Chính Thuần; họ đã quan hệ thân xác với
nhau và trong cơn say đắm Đoàn Chính Thuần đã thề rằng nếu ông phụ Ôn thị, thân
thể sẽ bị lóc thành từng miếng thịt. Gặp lại Đoàn Chính Thuần, Ôn thị vui vẻ mở
tiệc rượu cùng Đoàn Chính Thuần ăn uống đùa giỡn rồi bỏ thuốc mê vào rượu đầu độc
Đoàn Chính Thuần. Ôn thị trói Đoàn Chính Thuần lại, nhắc lại lời thề xưa và há
miệng cắn từng miếng thịt của tình lang! Chính trong dịp này, Ôn thị đã tiết lộ
cho Đoàn Chính Thuần biết rằng mụ đã hãm hại Kiều Phong; rằng người giết Mã Đại
Nguyên - chồng mụ - không ai khác hơn là Bạch Thế Kính, chấp pháp trưởng lão
Cái bang và là một tình lang khác của mụ; và rằng Bạch Thế Kính đã nhại theo
chiêu thức Toả hầu cầm nã thủ của Kiều Phong để bóp nát yết hầu Mã Đại Nguyên,
dễ dàng thực hiện âm mưu vu cáo! Ôn thị là một nhân vật nữ vô cùng quái dị
trong suốt 12 bộ kiếm hiệp tiểu thuyết Kim Dung. Trong văn học thế giới, chưa
thấy có một nhân vật nữ nào đáng nể như nàng Ôn thị. Phải chăng, đó chỉ là sản
phẩm thuần tuý hư cấu của trí tưởng tượng, trên đời này không hề có một phụ nữ
như vậy? Nhưng Thiên Long bát bộ không chỉ có Ôn thị mà còn có Trấn Nam vương
phi Đao Bạch Phụng, vợ chánh thất của Đoàn Chính Thuần, cũng quái dị không kém.
Thân danh là Vương phi của nước Đại Lý, Đao Bạch Phụng đã khám phá ra chồng
mình ngoại tình với nhiều phụ nữ khác. Vậy là bà ta trả thù và cách trả thù
cũng khá độc đáo: cho một gã ăn xin rách rưới hôi hám ăn nằm với mình. Lần ăn nằm
đó đã sinh ra một anh thế tử bảnh trai, một nhà nho trẻ lãng mạn, si tình. Đó
là Đoàn Dự. Gã ăn mày dơ bẩn đó là ai? Chính là Đoàn Diên Khánh, nhân vật đại
biểu của hoàng gia nước Đại Lý, tranh chấp ngai vàng không được, đã để quyền lực
cầm đầu nước Đại Lý lọt vào tay Đoàn Chính Minh, anh ruột của Đoàn Chính Thuần.
Kim Dung để cho Đoàn Dự lưu lạc giang hồ, yêu một lúc ba cô gái Mộc Uyển Thanh,
Chung Linh, Vương Ngữ Yên; toàn là những người con tư sinh của Đoàn Chính Thuần.
Cho đến khi chàng trai tuyệt vọng vì khám phá ra rằng mình đang yêu những cô em
cùng cha khác mẹ thì Trấn Nam Vương phi mới kề tai con mà tiết lộ rằng chàng
không phải là con của Đoàn Chính Thuần mà là con của Đoàn Diên Khánh! Một bà
vương phi có ngoại hiệu là Ngọc diện Quan Âm mà lãng mạn và liều mạng đến thế
thì thôi! Nhân vật quái dị tuy sống rất khác đời nhưng lại sống rất người. Đối
với họ, cái vỏ luân lý, đạo đức của đạo Nho không cứng lắm, có thể phá vỡ để
thoát ra được để sống đúng như lòng mình muốn sống. Trong Xạ điêu anh hùng truyện,
bất kỳ người anh hùng hào kiệt nào cũng lên án mối tình Tiểu Long Nữ - Dương
Qua vì nàng Tiểu Long Nữ là sư phụ mà chàng Dương Qua là đồ đệ. Nho học và cả
võ học Trung Quốc chưa hề cho phép một đứa học trò trai được yêu và lấy cô giáo
của mình. Kim Dung lãng mạn và cách mạng hơn: ông cho phép họ thương yêu nhau
và vượt xa hơn một chút, ông cứ để cho Tiểu Long Nữ mất trinh vì một gã đệ tử hạng
bét của phái Toàn Chân. Mất trinh thì mất, Dương Qua chỉ biết yêu cô giáo của
mình là Tiểu Long Nữ và ngược lại, trong đôi mắt của Tiểu Long Nữ chỉ có chàng
Dương Qua mà thôi. Họ dắt tay nhau đi đâu khi thành Tương Dương bị quân Mông Cổ
bao vây? Chính tác giả cũng không biết điều đó. Tình yêu đã đưa họ đi thật xa,
xa loài người, xa cuộc đời. Tiểu Long Nữ bỏ đi và Dương Qua tìm kiếm. Và rồi cô
bé Quách Tương cũng bỏ đi tìm Dương Qua. Có thể kể ra hàng trăm nhân vật quái dị
trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung. Họ tạo ra đặc điểm riêng cho tiểu thuyết võ
hiệp Kim Dung, tạo nên "phong cách quái dị" độc đáo đến nỗi, khi cầm
lên một tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp in bằng tiếng Quan thoại cũng ký tên tác
giả Kim Dung mà chẳng có "phong cách quái dị" này, ta có thể nói ngay
đó là tác phẩm nguỵ tạo (nguỵ tác). Văn là người. Tư Mã Thiên đau niềm đau của
kẻ sĩ bị cung hình, ráng sống để viết nên bộ Sử ký đồ sộ, trở thành viên pháp
quan toàn quyền phê phán lịch sử một cách nghiêm khắc và nghiêm túc. Khuất Bình
đau niềm đau của kẻ cô trung bị phụ bạc mà viết lên Ly tao rồi tìm cái chết
trên dòng sông Mịch La, để lại cho đời những câu phú ngậm ngùi khôn tả. Lỗ Tấn
sinh ra và lớn lên trong giai đoạn lịch sử đau thương nhất của Trung Quốc,
không thể khóc nổi nữa đành phải đi tìm nụ cười ra nước mắt trong A.Q chính
truyện. Kim Dung xuất thân từ một gia đình có ông nội làm quan dưới triều vua
Quang Tự, đã lớn lên và từ bỏ Hoa lục ra đảo Đài Loan, đã chứng kiến được những
tác hại của tư duy giáo điều và chủ nghĩa công thức sơ lược nên ông đã làm người
lội ngược dòng nước. Phương pháp luận của triết học là đưa ra một chính đề, phản
biện lại thành một phản đề để đi đến một hợp đề khả dĩ chấp nhận. Qua những
nhân vật quái dị, Kim Dung đã đưa ra những phản đề và phần hợp đề được ông giao
lại cho người đọc, để người đọc tự nhận ra. Rõ ràng là anh hùng - tiểu nhân,
chính phái - tà phái, trinh tiết - bất trinh, Kiếm tông - Khí tông, vương đạo -
bá đạo, cao quý - đê tiện, ôn nhu - dâm đãng... là những mặt đối lập khốc liệt.
Nào ai đúng, nào ai sai? Người đọc hãy tự lý giải. Kim Dung chỉ dặn dò chúng
ta: thấy như vậy nhưng không hẳn là như vậy. Thế thôi.
Nghề kỹ nữ
Khái niệm "nghề", theo nhà kinh tế học
người Anh Thomas Robert Malthus, là một cái gì có lợi cho bản thân, vừa có ích
cho xã hội. Và nếu hiểu theo cái nghĩa nghiêm túc đó thì kỹ nữ không thể là một
nghề. Kỹ nữ, người con gái làm nghề bán phấn buôn hương, còn có nghĩa là ả đào,
con hát. Nếu người ta có thể chấp nhận ả đào, con hát là một nghề thì người ta
khó có thể chấp nhận được chữ nghề trong cái người ta gọi là bán phấn buôn
hương. Trong thơ của Đỗ Mục, kỹ nữ còn được gọi là "thương nữ":
Thương nữ bất tri vong quốc
hận
Cách giang do xướng Hậu đình hoa
(Con hát biết chi hờn mất
nước Cách sông còn hát Hậu đình hoa (Đỗ Mục - Bạc Tần
Hoài) Nói thì nói thế nhưng trong xã hội Trung Hoa ngày xưa, một xã hội vốn trọng nam khinh nữ, coi người phụ nữ là đồ chơi của
đàn ông, có thể dễ dàng mua, bán, bắt cóc, sang nhượng hoặc đem làm quà tặng giữa
những người đàn ông với nhau thì xuất hiện của nghề kỹ nữ
cũng là điều rất bình thường, thậm chí được coi
là hợp lý. Nghề kỹ nữ có từ thời nào? Người ta
khó mà xác định được thời điểm xuất hiện của nghề này, tuy nhiên cũng có thể khẳng
định được nghề này gắn liền với chén rượu câu khách, mời khách, đàn ca làm vui
và bán dâm cho khách. Theo tư liệu của ông Nguyễn Tôn Nhan đăng trên tạp chí Kiến
thức ngày nay, ông tổ của nghề kỹ nữ là Bạch mi thần. Thần mày trắng có thể là
Hồng Nhai tiên sinh, tên gọi Linh Luân, bầy tôi dưới thời vua Hoàng Đế, người
làm ra âm luật đã được ghi trong Lã Thị xuân thu của Lã Bất Vi thời Tần. Thần
mày trắng cũng có thể là Liễu Đạo Chích, thời Xuân Thu; Quản Trọng (Quản Di
Ngô), thời Xuân Thu, người có công lập ra 700 nhà chứa gái để đàn ông đến mua
vui, thu tiền lời để lo tiền quân quốc cho Tề Hoàn Công; cũng có thể là Lã Động
Tân trong nhóm Bát tiên, nhân vật chuyên dạy hát kiêm trị bệnh hoa liễu cho phụ
nữ làng chơi. Trong bất kỳ thời đại vua chúa nào ở Trung Hoa, nghề kỹ nữ cũng vẫn
được hoạt động, các "viện" chứa gái vẫn mọc lên ở khắp nơi. Tiểu thuyết
võ hiệp Kim Dung trở thành một bản điều tra xã hội khá ngoạn mục khi ông phản
ánh cho độc giả thấy thêm được một nghề: nghề kỹ nữ. Trong tác phẩm Tiếu ngạo
giang hồ, Kim Dung có nhắc tới viện Quần Ngọc dưới núi Hành Sơn. Đây là nơi mà
Lệnh Hồ Xung khuyên Điền Bá Quang nên tìm tới để giải trí, buông tha cho ni cô
Nghi Lâm bé bỏng tội nghiệp. Cũng chính nơi này, Lệnh Hồ Xung đã tìm tới để dưỡng
thương; Nghi Lâm được cô bé Khúc Phi Yên dẫn đến tìm anh để đưa anh đến vùng
hoang sơn dã lĩnh, tránh sự truy đuổi của những kẻ thù. Cũng chính nơi này, Dư
Thương Hải của phái Thanh Thành tưởng đã có cơ hội làm nhục hai phái Hoa Sơn và
Hằng Sơn nếu bắt được Lệnh Hồ Xung và Nghi Lâm ở chung một phòng, nhưng cuối
cùng lão đã phải chạm mặt Điền Bá Quang và đánh nhau, bị Điền Bá Quang xuyên tạc
là "đánh nhau để giành một cô gái làng chơi tên là Ngọc Bảo". Nhưng
nghề kỹ nữ được mô tả đậm nét nhất vẫn là trong bộ Lộc Đỉnh ký, Vi Tiểu Bảo xuất
thân từ kỹ viện Lệ Xuân ở thành Dương Châu. Mẹ của Vi Tiểu Bảo -Vi Xuân Phương
- bang giao rộng rãi với các anh em Hán, Mông, Tạng, Hồi Mãn; không khẳng định
được cha của Vi Tiểu Bảo là ai. Chính Vi Tiểu Bảo cũng trải qua tâm trạng buồn
bực, ghen tị khi má mình đã già (trên 30 tuổi), không có được khách sang, khách
sộp của các kỹ nữ trẻ tuổi khác. Kim Dung cũng cho biết các cấp bậc trong các kỹ
viện ở Dương Châu. Má má là chủ viện, người bỏ tiền ra mua gái về, có toàn quyền
sinh sát đối với các cô gái. Mụ dầu là những người đàn bà lớn tuổi, chuyên môi
giới giới thiệu, làm môi giới mại dâm. Kỹ nữ là người trực tiếp bán dâm trong
các kỹ viện, lại kiêm nhiệm vụ mời khách uống rượu và kêu đồ nhậu. Nội dung
công việc của họ là khuyến khích bọn khách chơi xài tiền nhiều càng tốt. Quy nô
là những chàng trai cô gái có nhiệm vụ phục vụ các công việc vặt trong kỹ viện:
nấu nướng thức ăn, pha rượu, dọn bàn ghế, mua đồ ăn cho kỹ nữ và... đánh đập những
cô gái nhà lành, dằn mặt họ nếu họ không chịu bán trinh, không chịu tiếp khách.
Chính Vi Tiểu Bảo đã từng mơ ước một ngày có số tiền lớn, tìm đến một viện nào
đó ăn xài phung phí cho sướng tay ba ngày ba đêm. Về sau, làm đại thần trong
triều Khang Hy rồi, Vi Tiểu Bảo mang số tiền lớn về cho mẹ để mẹ có thể mở một
Lệ Thu viện, Lệ Đông viện, Lệ Hạ viện ; cạnh tranh cho cái Lệ Xuân viện mà hắn
đã từng lớn lên và chịu nhục phải sụp tiệm, rồi đời. Ngay bà Vi Xuân Phương,
khi nhìn thấy đàn con dâu tươi đẹp của mình, trong đó có đủ tất công chúa, phu
nhân, tiểu thư quyền quý; đã khen con mình có con mắt tinh đời. Trong tư tưởng
khinh doanh kỹ viện của bà già chồng này thì cứ cái đàn gái đó mà lập thành một
viện thì ắt thành Dương Châu sẽ không có viện nào còn bóng đàn ông nữa. Trong Lộc
Đỉnh ký, Kim Dung xây dựng một tình huống xảy ra tại Lệ Xuân viện khá buồn cười.
Trịnh Khắc Sản dẫn A Kha (cô gái mà Vi Tiểu Bảo đang say đắm) hoá trang thành một
vị công tử, xuống Lệ Xuân viện ở Dương Châu để đón bắt Vi Tiểu Bảo. Bà Vi Xuân
Phương cứ tưởng đây là hai khách sộp, cố gắng rót rượu mời chào, ôm Trịnh Khắc
Sản và A Kha hôn hít hoài. Vi Tiểu Bảo thấy cảnh đó vừa bực tức vừa sợ Trịnh Khắc
Sản, tình địch của mình sẽ trở thành cha hờ của hắn đêm ấy; vừa buồn cười vì mẹ
ruột của mình cứ hôn hít bồ của mình, tưởng A Kha là đàn ông phong lưu. Thành
đô nhộn nhịp có kỹ viện không lạ. Lạ nhất là những nơi tôn nghiêm như chân núi
Thiếu Thất dưới chùa Thiếu Lâm, Hồ Nam cũng có kỹ viện. Chính Vi Tiểu Bảo trong
lớp áo của Hối Minh thiền sư, phó trụ trì chùa Thiếu Lâm, chịu không nổi cảnh
chay tịnh của nhà chùa, đã thay áo đội khăn lén khỏi chùa đến kỹ viện chơi. Lúc
hắn đang say sưa cho tiền bọn kỹ nữ, gác tay gác chân lộn xộn thì A Kha và A Kỳ
đến tìm hắn để tấn công. Hắn nhanh trí nói dối A Kỳ là vợ lớn, A Kha là vợ nhỏ,
nghe hắn đi chơi kỹ viện nổi ghen đến quậy. Để tránh sự truy bắt của A Kỳ, A
Kha, hắn dùng kế “kim thiền thoát xác”, mượn áo bọn kỹ nữ mặc vào, cho tiền đậm
bọn kỹ nữ nhờ chúng chửi bới A Kha, A Kỳ rồi chia hai tốp kéo ra cổng trước và
cổng sau. Thấy bọn kỹ nữ kéo ra, A Kỳ và A Kha không dám chém. Vi Tiểu Bảo nhờ
thế mà thoát nạn, chỉ thương bọn kỹ nữ vì ăn tiền chửi mắng hăng quá, bị A Kỳ
và A Kha đánh cho sứt đầu mẻ trán, kêu khóc om sòm. Sau này A Kỳ và A Kha đem
chuyện hắn đi chơi kỹ viện thưa với phương trượng chùa Thiếu Lâm là Hối Thông
thiền sư. Vi Tiểu Bảo tưởng đã chết đến nơi, ai ngờ có một nhân vật là Dương Dật
Chi đứng ra đỡ đòn cho hắn. Dương Dật Chi cho biết hắn là thái giám được hoàng
thượng tin tưởng. Mà thái giám thì còn đi kỹ viện sao được. Cho nên mọi vị sư
tăng trong chùa Thiếu Lâm đều kính ngưỡng hắn và cho rằng câu chuyện của A Kỳ
và A Kha là chuyện bịa đặt, vu cáo một nhà tu hành đạo đức sáng rỡ! Nhưng thật
ra, kỹ viện không chỉ là nơi mại dâm. Nếu trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, bọn
hào sĩ giang hồ bị bọn quan binh truy nã; người bị thương thì lánh vào kỹ viện
trị thương, thì trong thực tế, các danh sĩ thường tìm đến kỹ viện để nghe hát
làm thơ, rồi dạy các kỹ nữ hát những bài thơ của mình thành nhạc phổ. Kỹ viện
trở thành nơi nương náu của những tâm hồn cô độc, của những người bị vua chúa
lưu đày. Trong những trường hợp đó thì kỹ nữ trở thành người bạn tri âm. Chúng
ta đã từng biết Bạch Cư Dị bị giáng làm Tư mã Cửu Giang, đã từng làm bài Tỳ bà
hành ca ngợi tiếng đàn của một kỹ nữ dài 622 câu. Trong phần đề tựa, Bạch Cư Dị
đã viết: "Năm Nguyên Hoà thứ mười (816), ta bị giáng làm Tư mã huyện Cửu
Giang ... tiễn khách ở bến Bồn, giữa đêm nghe tiếng tỳ bà ở trên thuyền ... hỏi
ra thì đó là ca nữ ở Trường An". Tác giả ngồi nghe tâm sự của người ca nữ
đó. Bản thân người ca nữ đó là một nhân vật có học, có lòng tự trọng, không phải
khách nào mời cũng ra:
Di thuyền tương cận yêu tương kiến
Thiên tửu hồi đăng trùng
khai yến
Thiên hô vạn hoán thỉ xuất
lai
Do bão tỳ bà bán già diện
(Ghé thuyền đến cạnh chào
mời Khêu đèn thêm rượu lại bày tiệc hoa Nằn nì mời mãi mới ra Ôm đàn che nửa mặt
hoa thẫn thờ) (Trần Trọng Kim dịch) Lý Bạch cũng từng tìm thấy nguồn cảm hứng
trong những chén rượu mà các nàng Ngô cơ chào mời ông trong bài Kim Lăng tửu tứ
lưu biệt:
Phong xuy liễu hoa mãn điếm
hương
Ngô cơ áp tửu khuyến
khách thường
(Gió đưa hương liễu đầy
nhà Gái Ngô chuốc rượu thiết tha ép nài) Nhưng có lẽ Đỗ Mục với 10 năm lưu lạc ở
Giang Nam mới hiểu được tấm lòng của người hồng nhan tri kỷ xuất thân từ giới kỹ
nữ:
Lạc phách giang hồ tái tửu hành
Sở yêu tương tế chưởng
trung khinh
Thập niên nhất giác Dương
Châu mộng
Dinh đắc thanh lâu bạc hạnh
danh
(Lưu lạc giang hồ đã bấy
lâu Cùng người nhỏ bé ở bên nhau Mười năm sực tỉnh Dương Châu mộng Mang tiếng
trăng hoa nghĩ lại sầu) (Hàn Giang Nhạn dịch) Và đúng như truyền thống các bậc
nhà văn tiền bối, Kim Dung cũng không hề xây dựng nững nhân vật thuần tuý là những
cô gái làng chơi trong tiểu thuyết võ hiệp của mình. Tôi có dịp khắc hoạ nhân vật
Trần Viên Viên như một thiên hạ đệ nhất mỹ nhân, một danh kỹ, tuy xuất thân từ
chốn phong trần nhưng đẹp tuyệt vời và thông minh vô hạn, có một quan hệ lạ
lùng đến lịch sử Trung Hoa thời Minh mạt - Thanh sơ. Nhân vật có thật này trở
thành nguồn cảm hứng chủ đạo cho danh sĩ Ngô Mai Thôn đời Thanh viết thành Viên
Viên khúc. Và cũng ngay trong Lộc Đỉnh ký, Kim Dung cũng xây dựng nên những đoạn
kể chuyện các quan ở Dương Châu chiêu đãi khâm sai đại thần Vi Tiểu Bảo bằng
cách mời ba kỹ nữ tài năng. Người thứ nhất là Lương Ngọc Kiều, tuổi ngoài 30,
ăn mặc hoa lệ nhưng nhan sắc cũng tầm thường. Người thứ hai lối ba mươi bốn, ba
mươi lăm nhưng "cử chỉ thuần nhã, giọng ca thánh thót; gặp những câu khúc
chiết vi diệu tiếng hát càng thanh thoát lên bổng xuống trầm, biến hoá vô
cùng". Cô hát bài Vọng Hải Triều, thơ của Tần Quan đời Tống, ca ngợi đất
Dương Châu. Người thứ ba là một kỹ nữ tuổi ngoài bốn mươi, trán nhiều vết nhăn,
mắt nhỏ ti hí nhưng được đánh giá là đệ nhất danh kỹ Dương Châu. Cô ôm tỳ bà
hát một bài mới của Tra Thận Thành (viễn tổ của Kim Dung); các quan ở Dương
Châu ngồi nghe tâm hồn bay bổng. Chỉ có Vi Tiểu Bảo là chán nản bởi vì gã chỉ
thích gái trẻ, mà có hát thì phải hát những bài dâm đãng như Thập bát mô. Cho
nên khi gã đòi cô danh kỹ này hát Thập bát mô, cô đã liệng đàn, ôm mặt khóc bỏ
chạy khỏi bữa tiệc. Với tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung đã hé mở cho ta thấy sự tồn
tại của giới kỹ nữ và các kỹ viện trong những chế độ quân chủ Trung Hoa. Biết
sao được, pháp luật ấy công nhận kỹ nữ là một nghề thực thụ. Điều đáng quý ở
nơi ông là ông đã nhìn những kỹ nữ dưới con mắt của nhà văn nhân bản và nhân đạo:
không lên án cái nghề ti tiện của họ, mà thậm chí còn có khuynh hướng ca ngợi,
biểu dương các danh kỹ như các nhà văn tiền bối đã làm. Nhưng tôi cho rằng cái
cam đảm nhất ở ông là đã để cho một thàng nhóc con của một kỹ nữ, lớn lên trong
kỹ viện trở thành công tước của triều Thanh, đè đầu cưỡi cổ thiên hạ, kể cả những
bậc vương công đại thần, đó là Vi Tiểu Bảo. Kim Dung muốn chứng minh một định đề:
trước những ba động của lịch sử thì một gã lưu manh, một con gái điếm, cũng có
thể trở thành người "cao quý " nhất thiên hạ. Định đề đó quả thật buồn
và thật đắng cay!
Con trâu
Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung không phản ánh về
hoạt động nông nghiệp của nông dân Trung Quốc mà chỉ phản ánh thế giới võ hiệp
– một thế giới hoàn toàn hư cấu do trí tưởng tượng phong phú của tác giả. Tuy
nhiên, xuất thân từ một đất nước rộng lớn trong một giai đoạn mà nền nông nghiệp
còn sản xuất nhỏ và lạc hậu, Kim Dung đã đưa vào trong tiểu thuyết của mình
hình ảnh nông thôn Trung Quốc, những nông dân và sinh hoạt nông nghiệp Trung Quốc.
Ta thử bàn về con trâu trong tác phẩm của ông. Trong ngôn ngữ Trung Quốc, trâu
là ngưu hoặc hắc ngưu để phân biệt với con bò là hoàng ngưu. Ở chừng mực nào
đó, Kim Dung cũng đã thể hiện tình cảm của mình đối với con trâu, sức kéo tiêu
biểu trong nông nghiệp truyền thống Trung Quốc. Trong tác phẩm Thần điêu hiệp lữ,
trí tưởng tượng của tác giả đã phát huy đến cao độ khi ông để cho chàng trai
Dương Qua “mượn” tạm một con trâu của người nông dân, mặc bộ quần áo của trẻ
chăn trâu, đốt đuốc phía sau đít trâu để trâu phóng thục mạng vào vòng vây của
quân Mông Cổ xâm lược. Con trâu của Dương Qua xông trận còn hữu hiệu hơn cả con
ngựa chiến Mông Cổ. Phải chăng đó là hình ảnh tiêu biểu của cuộc khởi nghĩa
nông dân tại thành Tương Dương? Cuộc khởi nghĩa Tương Dương đã bị quân Nguyên tắm
máu, giang sơn Trung Hoa chìm trong ách Di Địch nhưng hình tượng Dương Qua cỡi
trâu xông trận vẫn còn mãi với Thần điêu hiệp lữ và được hiện thực hóa bằng điện
ảnh. Chàng trai Quách Tĩnh trong Xạ điêu anh hùng truyện được thầy mình là Hồng
Thất Công đặt tên cho là Thuỷ Ngưu (trâu nước), còn có biệt hiệu là Ngưu Canh
Điền (trâu cày ruộng). Ấy bởi vì tướng mạo Quách Tĩnh mộc mạc quê mùa, nước da
ngăm ngăm đen, ít miệng lưỡi, chậm hiểu, tướng phục phịch như con trâu. Con
trâu có mặt khắp mọi nơi trong tiểu thuyết Kim Dung. Trâu chết đi để lại cho
người thịt và da. Bọn quần tiên 36 động 72 đảo trong Thiên Long bát bộ chuyên
ăn thịt trâu khi tấn công lên cung Linh Thứu, núi Phiêu Diễu. Và bọn họ ăn như
ngựa, uống như trâu (mã thực, ngưu ẩm). Bọn quần hào Trung Nguyên, từ đám bàng
môn tả đạo ủng hộ Lệnh Hồ Xung tấn công lên chùa Thiếu Lâm núi Thiếu Thất trong
Tiếu ngạo giang hồ đến bọn lên ủng hộ Thiếu Lâm anh hùng đại hội trong Thiên
Long bát bộ đều đánh trống bằng da trâu. Có lẽ da trâu dày hơn da bò mới chịu
được công lực của các vị đại gia ấy chăng? Cái tiết tấu ồn ào, phức tạp của họ
làm cho ma quỷ, thánh thần cùng kinh hãi. Da trâu được dùng làm vũ khí và đôi
khi là công cụ để thi hành hình luật. Đó là roi da trâu, tức ngưu bì tiên, đánh
đến đâu nghe đến đó! Sừng trâu được cưa làm chung đựng rượu. Trong Tiếu ngạo
giang hồ, Tổ Thiên Thu đã thuyết Lệnh Hồ Xung rằng rượu trắng ngoài quan ngoại
đựng trong sừng trâu. Sở dĩ dùng sừng trâu làm chung uống rượu vì chất sừng
tanh tanh, có như thế mới chế ngự được mùi vị cay nồng của rượu trắng. Tên tuổi
của con trâu cũng được nhà tiểu thuyết mượn tạm để chế ra môn phái, ám khí và
võ công. Các vị đạo sĩ tu theo pheo phái Võ Đang như Xung Hư trong Tiếu ngạo
giang hồ, Trương Tam Phong trong Ỷ thiên Đồ long ký được gọi là các lão “lỗ mũi
trâu”. Mô phỏng theo hình dáng sợi lông trâu, bọn bàng môn tả đạo chế ra thứ ám
khí gọi là Ngưu mao châm. Trong Thiên Long bát bộ, Tang Thổ Công, động chủ động
Bích Lân, đã bắn thứ này vào bọn Mộ Dung Phục khiến phe Cô Tô Mộ Dung ngứa ngáy
vô kể. Tuy nhiên điểm sáng nhất của Kim Dung lại nằm trong môn Cách sơn đả ngưu
thần công. Như tên gọi, loại công phu này có điểm cách biệt là đánh được con
trâu mà giữa con trâu và người đánh có một vật cản là hòn núi. Tất nhiên cả hai
khái niệm trâu và núi đều mang tính ẩn dụ cao độ. Trong Thiên Long bát bộ, Kim
Dung đã để cho quốc sư nước Thổ Phồn là Cưu Ma Trí biểu diễn công phu này. Cưu
Ma Trí vận chưởng của phái Thiếu Lâm, đứng từ xa vung tay đánh cách không vào
chiếc lư hương bằng đồng. Phía bên này lư hương vẫn bình thường nhưng ở phía
bên kia, phần đồng bị cắt ra một miếng đúng như bàn tay của Cưu Ma Trí. Trong Lộc
Đỉnh ký, Kim Dung cũng để cho Vi Tiểu Bảo biểu diễn Cách sơn đả ngưu thần công.
Hắn vận “công lực” và đấm vào các vị Lạt ma Tây Tạng những thế võ nhẹ hều.
Nhưng các nhà sư Tây Tạng lại lăn ra chết. Tại sao vậy? Trong tay áo thùng
thình, hắn đang cầm một lưỡi truỷ thủ bén ngọt. Hắn vung tay lên không phải để
đánh quyền mà là dùng truỷ thủ đâm lén. Da thịt nào chịu nổi loại thần công gớm
ghiếc như vậy? Người đời thường bảo ngu như trâu, dở như trâu. Nhưng trong tác
phẩm võ hiệp Kim Dung, con trâu đã chẳng ngu mà lại chẳng dở chút nào. Cuốn Ỷ
thiên Đồ long ký xây dựng một nhân vật thầy thuốc mà y thuật cao đến độ thần
thông, mang tên trâu xanh: Hồ Thanh Ngưu. Ngoại hiệu của Hồ Thanh Ngưu là Điệp
Cốc y tiên và chỗ ở của ông là Hồ Điệp Cốc. Cả ngoại hiệu và chỗ ở của Hồ Thanh
Ngưu cho thấy được chất lãng mạn mênh mông của nhân vật này. Có một con trâu
khác trở thành đối tượng được các cô thiếu nữ nhan sắc kiện tướng công huân say
mê như điếu đổ. Đó là chàng Trương Vô Kỵ, khi trốn vào hang núi mới có 15 tuổi.
Trong 5 năm học võ, chàng trở thành bậc thượng thừa. Trượt tuyết rớt xuống chân
núi gãy cả hai chân, chàng tự xưng là Tăng A Ngưu (Tăng Văn Trâu). Lên đến
Quang Minh đỉnh giải vây cho quần hùng Minh giáo, chàng vẫn là Tăng A Ngưu.
Tăng A Ngưu có đến bốn cô bạn sắc nước hương trời, một “tài sản” mà không một
hoàng đế Trung Hoa nào có được: Triệu Mẫn, quận chúa hoa hậu Mông Cổ; Tiểu
Siêu, hoa khôi thánh nữ sứ Minh giáo Ba Tư; Chu Chỉ Nhược, chưởng môn phái Nga
Mi; Hân Ly, tức Châu Nhi, em cô cậu. Cuối cùng Tăng Văn Trâu chọn Triệu Mẫn vui
chơi bốn biển năm hồ mặc dù anh có đủ tài năng và tư cách lên nắm ghế lãnh đạo
cao nhất trong lực lượng khởi nghĩa kháng Nguyên ở Hoài Tứ. Thuộc hạ của anh là
Chu Nguyên Chương đã nắm quyền khởi nghĩa thành công, xưng đế hiệu là Minh Thái
Tổ, mở ra nhà Minh (1368 - 1643), truyền được 13 đời. Tăng A Ngưu Trung Quốc đi
theo đóa hoa lài Mông Cổ nhưng trong trường hợp này chẳng ai dám chế giễu nhà
văn Kim Dung đem bông hoa lài cắm bãi cứt trâu!
Người Tây dương
Người Trung Quốc vẫn gọi người châu Âu là Tây
dương quỷ (bọn quỷ ở bờ biển phía Tây) hoặc Hồng mao quỷ (bọn quỷ lông tay đỏ).
Khi dùng cách gọi như thế, người Trung Quốc đã tự cho họ cái quyền được mạt sát
người châu Âu, coi dân châu Âu không phải là người. Trong Lộc Đỉnh ký, Kim Dung
đã có những đoạn, những chương thuật lại các quan hệ với người Tây dương. Đầu
tiên là người Nga. Cuộc chiến tranh Trung - Nga dưới triều Khang Hy đã diễn ra
tại thành Ni Bố Sở (Nertohinsk) năm 1669. Vi Tiểu Bảo làm nguyên soái, tư lệnh
các lộ quân Thanh triều, đi đánh quân Nga. Tư lệnh Nga là Á Nhĩ Thanh Tư Cơ
(Alsinsky) bị bắt. Hầu tước Nga là Phí Diêu Đa La (Feodore) phải xin cầu hoà.
Trong giai đoạn này, Vi Tiểu Bảo thu nhận hai tay đội trưởng Nga để làm người
đưa tin về cho công chúa Tô Phi Á (Sophia). Một người tên là Hoa Bá Tư Cơ
(Vabasky) và một người tên là Tề Lạc Nặc Phu (Delanov). Hai người này đã giúp
chuyển thư từ, quà cáp của Vi Tiểu Bảo về cho Tô Phi Á và đồng thời cũng đem
tin tức, quà cáp của Tô Phi Á lại cho Vi Tiểu Bảo. Do trình độ chữ Hán mập mờ,
chữ Nga lại ấm ớ, Vi Tiểu Bảo đọc tên hai người này là Vương Bát Tử Kê (gà chết
khốn nạn) và Trư La Noạ Phu (con heo hèn hạ). Lộc Đỉnh ký cũng nhắc đến đại sứ
Nga Tư Ba Tháp Lôi (Spartinary) và đoàn quân Nga bị bắt về Bắc Kinh, được vua
Khang Hy trọng dụng, kêu bằng Nga La Tư tá lĩnh. Ngay trong triều đình Khang
Hy, nhà vua cũng đã trọng dụng hai nhân tài Tây Dương. Người thứ nhất là Thang
Nhược Vọng (Adam Schall), quốc tịch Đức, giám đốc đài Thiên văn Bắc Kinh. Cuộc
đời của Thang Nhược Vọng rất may mắn khi gặp được vua Khang Hy. Thời Thuân Trị,
Thang Nhược Vọng đã được tin tưởng, cho làm công việc tính thiên văn, lịch
pháp. Năm Khang Hy thứ ba (1665), Toà Khâm thiên giám tính lộn ngày nhật thực;
Thang Nhược Vọng khám phá ra sơ suất ấy, trình Khang Hy. Dương Quang Tiến, viên
quan tính lộn nhật thực, đâm ra thù Thang Nhược Vọng, muốn trả oán. Tiên bèn lấy
cuốn Đại Thanh thời hiến lịch do Thang Nhược Vọng viết ra dưới thời Thuận Trị,
tiên đoán nhà Thanh chỉ ở ngôi 200 năm, làm một bản tâu lên Khang Hy rằng nhà Đại
Thanh có thượng đế phù hộ, sẽ trường tồn vạn năm. Chuyện Thang Nhược Vọng cho rằng
Đại Thanh chỉ bền vững 200 năm là nguyền rủa Đại Thanh. Lúc đó, Khang Hy mới 11
tuổi, quyền hành đang ở trong tay cố mệnh đại thần Ngao Bái. Ngao Bái nghe tâu,
bèn bắt Thang Nhược Vọng, định xử lăng trì. Nhưng Khang Hy phát giác được chỗ để
cứu THang Nhược Vọng. Nhà vua nhỏ tuổi bàn: cuốn Đại Thanh thời hiến lịch làm
ra năm Thuận Trị thứ 10 (1653) chẳng ai nói gì; thậm chí vua còn ban cho Thang
Nhược Vọng tước vị Thông Huyền giáo sư. Nay đem Thang Nhược Vọng ra giết đi thì
chẳng khác nào mạt sát tiên hoàng Thuận Trị là u mê, tối tăm. Nhà vua bàn nên
giam Thang Nhược Vọng lại. Khi Ngao Bái bị giết, nhà vua cho thả Thang Nhược Vọng
ra, làm giám đốc Thiên văn đài như cũ, phong tước Thông Minh giáo sư (vì tên của
Khang Hy là Huyền Hoa, phải kỵ huý nên bỏ tước Thông Huyền giáo sư). Người thứ
hai là Nam Hoài Nhân (Ferdinard Verbiest) gốc Bỉ Lợi Thì (Belgique). Người này
rất trung thành với Khang Hy chuẩn bị đánh Ngô Tam Quế, nhà vua đã nhờ đến cả
Nam Hoài Nhân và Thang Nhược Vọng giấm đốc toàn bộ công trình đúc đại bác cho
mình, Cả hai đều là giáo sĩ dòng Tên (Jésuite) làm cho quan dưới triều Khang Hy
và đã có nhiều đóng góp lớn lao giúp Khang Hy bình định Trung Quốc. Chính Vi Tiểu
Bảo cũng mến mộ hai người Tây dương này. Y gọi họ là "ngoại quốc lão
huynh". Vi Tiểu Bảo rất kinh phục kỹ thuật đúc trọng pháo của hai
"ngoại quốc lão huynh". Sau đó, đi đánh người Nga La Tư ở Ni Bố Sở,
Vi Tiểu Bảo cũng mời các "ngọai quốc lão huynh" cùng đi trong quân để
làm người phiên dịch trong đàm phán phân chia ranh giới và viết hoà ước bằng tiếng
Latin cho mình. Lộc Đỉnh ký cũng có những đoạn thuật lại cuộc chiến đấu của
quân dân đảo Đài Loan chống lại người Hà Lan. Kim Dung gọi viên tư lệnh Hà Lan
là Quỷ Nhất (?). Tra cứu trong chính sử Trung Quốc, chúng tôi chưa tìm được
đích xác tên gốc của viên tư lệnh này. Tất nhiên, đối với những kẻ đến xâm lược
đất nước mình. Kim Dung dùng từ "Quỷ" cũng chẳng có gì là quá đáng.
Chính trong tác phẩm của mình, Kim Dung cũng thừa nhận rằng sức mạnh hoả khí của
người Tây dương là ghê gớm, không có một thứ "thân công" nào của giới
võ lâm Trung Quốc có thể địch nổi. Ngô Tam Quế tặng cho Vi Tiểu Bảo một cặp
súng lục của Nga, hắn bắn thử một phát, sạt nửa hòn giả sơn, khiến cho gã sợ
hãi muốn... ra quần. Cũng vậy, ra diễn võ trường Bắc Kinh xem thử súng đại bác
của Man Hoài Nhân và Thang Nhược Vọng chế ra, gã kinh hoàng nghe trọng pháo nổ
hai lần. Cho nên, nói chuyện võ công là nói chơi, chuyện chiến đấu bằng súng đạn
trên chiến trường mới là chuyện thật. Những chiến thắng của quân dân Đài Loan
trước quân Hà Lan, của quân Thanh trước quân Nga chẳng qua cũng chỉ là kinh
nghiệm dùng cái thô sơ để chống chọi với cái tiên tiến. Người Trung Quốc đã biết
đưa quân dùng ván ghép lại để che đạn, cho quân đi sau dùng đoản đao xung phong
chặt chân người Tây dương. Lịch sử Trung Quốc gọi đó là Đằng bài quân. Điều may
mắn cho họ là ở thế kỉ 17, súng đạn chưa có được sức mạnh sát thương ghê gớm
như ngày nay. Cho nên họ đã chiến thắng được Tây dương quỷ.
Kỹ thuật
Khái niệm khoa học - kỹ
thuật là khái niệm khá mới mẻ, khái quát những phát minh sáng chế sử dụng phục
vụ cho con người. Từ ngàn xưa, dân tộc Trung Hoa cũng có những phát kiến khoa học
– kỹ thuật riêng của họ. Và thật thú vị khi ta gặp lại một số kỹ thuật sơ đẳng
đó trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung. Kim Dung cho ta biết người Trung Hoa
đã biết sử dụng chất cường toan (acid) vào nhiều lĩnh vực khác nhau. Đầu tiên,
chất acid dùng để viết chữ. Bộ Ỷ thiên Đồ long ký có nhắc đến sáu thanh Thánh hỏa
lệnh của Bái hỏa giáo Ba Tư do 3 sứ giả của tôn giáo này đem vào Trung Quốc,
dùng như một loại vũ khí, trên đó có khắc pho võ công quái dị của người Ba Tư.
Trương Vô Kỵ, giáo chủ Bái hỏa giáo Trung Quốc (Kim Dung dùng từ Minh giáo –
Manichéisme ) sử dụng võ công tuyệt thế đoạt lấy được các thẻ Thánh hỏa lệnh.
Điều đặc biệt là các Thánh hỏa lệnh không phải bằng xương, bằng ngà, bằng thép
mà bằng một lọai hợp kim rất lạ. Để viết được tâm pháp võ công trên Thánh hỏa lệnh,
người Ba Tư phải nhúng thánh hỏa lệnh vào sáp, lấy cọ cứng viết chữ trên mặt
sáp rồi dùng chất cường toan đồ theo nét chữ nhiều lần mới in sâu được chữ vào
Thánh hỏa lệnh Bọn hào sĩ giang hồ của Kim Dung đã biết dùng cường toan làm vũ
khí chiến đấu. Trong Ngũ kỳ của Minh giáo Trung Quốc, có đội Hồng thủy kỳ
chuyên dùng ống phun cường toan vào kẻ địch. Trên sân chùa Thiếu Lâm, họ đã biểu
diển màn đánh cường toan vào bầy chó sói cho quần hùng mục kích. Bộ Tiếu ngạo
giang hồ cũng nói đến kỹ thuật đánh cường toan này. Bọn giáo chúng Nhật Nguyệt
giáo ngụy trang lên Hằng Sơn chúc mừng lễ nhậm chức chưởng môn của Lệnh Hồ Xung
đã đem theo ống phun nước cường toan, vây hãm Lệnh Hồ Xung, Phương Chứng – trụ
trì chùa Thiếu Lâm và Xung Hư – chưởng môn phái Võ Đang… Kim Dung còn đề cập đến
kỹ thuật dùng thuốc nổ. Đầu tiên thuốc nổ được dùng như một lọai pháo thăng
thiên, nổ trên không trung cho ra những hình ảnh đặc biệt. Đây là cách triệu tập
đồng môn, đệ tử của từng môn phái. Từ thuốc nổ làm pháo, Kim Dung bàn đến kỹ
thuật chôn thuốc nổ để đánh mìn. Phái Tiêu Dao trong bộ Thiên Long bát bộ có kỹ
thuật đánh mìn cực giỏi. Bọn Hàm Cốc bát hữu của phái Tiêu Dao dùng thuốc nổ
làm mìn chống lại Đinh Xuân Thu. Trong Tiếu ngạo giang hồ, phái Võ Đang chôn
thuốc nổ ở núi Hằng Sơn định tiêu diệt Nhật Nguyệt giáo. Trong Ỷ thiên Đồ long
ký, Viên Chân (tức Thành Khôn) chôn thuốc nổ hòng tiêu diệt Minh Giáo. Họ đều
biết cách chuyền dây dẫn, kích hỏa, tạo phản ứng nổ… Lịch sử cho ta biết người
Trung Hoa là dân tộc đầu tiên tìm ra thuốc nổ phục vụ nghề làm pháo. Điều thú vị
là trong tiểu thuyết Kim Dung không có vụ nổ nào thành công bởi vì cuối cùng chẳng
có ai kích hỏa. Tất cả đều kết thúc tốt đẹp, nhân vật giang hồ không ai chết tập
thể vì thuốc nổ, dù đã được chôn theo đúng dự kiến. Bộ Thiên Long bát bộ cho
chúng ta biết kỹ thuật sử dụng chất lân (phosphore) làm vũ khí. Phái Tinh Tú của
Đinh Xuân Thu lấy chất lân chế ra những viên đạn dùng để bắn vào thân thể người
khác. Ngọn lửa xanh biếc của chất lân bám vào quần áo da thịt người bị bắn, bốc
cháy khiến cho nạn nhân đau đớn kêu gào rất thảm thiết trước khi chết. Phái
Tinh Tú sử dụng loại đạn này để trừng phạt các giáo đồ có âm mưu phản thầy, dối
bạn đồng môn. Sự thật của sức mạnh trong việc đánh nhau chủ yếu vẫn là vũ khí.
Vũ khí càng mới mẻ, việc đánh nhau càng dễ đưa đến thành công. Trong Lộc Đỉnh
ký nói đến kỹ thuật đúc súng đại bác: vua Khang Hy lặng lẽ giao cho 2 giáo sĩ
người Tây Dương là Nam Hoài Nhân và Thang Nhược Vọng luyện kim đúc súng đại
bác. Nhà vua chuẩn bị việc đánh nhau với Bình Tây vương Ngô Tam Quế ở Vân Nam
và với quân Nga ở biên giới Đông Bắc. Súng đại bác thời đó chưa có bộ phận kích
hỏa, phải đốt mồi lửa sau đuôi trái đạn để tạo phản ứng nổ đẩy trái đạn bay đi.
Đây là 1 dạng sử dụng thuốc bồi trong pháo binh hiện đại. Để buổi thao diễn
kích thích tinh thần sĩ tốt, Nam Hoài Nhân và Thang Nhược Vọng cho xây sẵn những
gò nổng làm mục tiêu, bên trong gò nổng chứa đầy diêm sinh, lưu huỳnh. Quả đạn
rơi trúng mục tiêu nổ bùng khiến các chất trên bốc cháy rực trời. Bọn sĩ tốt phấn
khởi, hoan hô vạn tuế muốn bể cả võ trường. Kỹ thuật luyện kim được Kim Dung nhắc
đến nhiều nhất trong các bộ tiểu thuyết võ hiệp của ông. Bọn hào sĩ giang hồ
đánh nhau thường sử dụng đến 2 thứ vũ khí cổ điển là đao và kiếm. Kim Dung đề cập
đến loại bảo đao, bảo kiếm như Đồ long đao và Ỷ thiên kiếm (Ỷ thiên Đồ long ký)
chém sắt như chém bùn. Ông cũng đề cập đến các loại trủy thủ (dao găm) chế bằng
hợp kim đặc biệt như lưỡi trủy thủ của Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh ký. Loại trủy
thủ này bén ngọt đến nổi Vi Tiểu Bảo đâm xuyên qua vách ván giết chết mấy Lạt
ma Tây Tạng cứu thầy mình là Cửu Nạn sư thái mà người ở hiện truờng chẳng biết
tại sao các Lạt ma chết đi. Trong Hiệp khách hành, ông đề cập đến một thứ lệnh
bài làm bằng huyền thiết (thép đen) của Tạ Yên Khách. Tạ Yên Khách lấy kiếm
chém vào Huyền thiết lệnh, kiếm gãy mà lệnh bài vẫn không suy suyển chút nào.
Nhắc đến thuật luyện kim, Kim Dung không quên khoác vào cho thuật này chất huyền
bí. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, ông kể lại chuyện quần hùng Minh giáo nối lại cây
đao Đồ long đã gãy. Trên ngọn lửa đỏ phừng phừng, tất cả các loại kềm gắp bảo
đao nóng quá, chảy ra thành chất lỏng mà bảo đao vẫn chưa nối lại được. Trương
Vô Kỵ phải cho bọn giáo chúng mượn bốn thanh Thánh hỏa lệnh kẹp bảo đao. Ngọn lửa
cháy cao, một thuộc hạ của Vô Kỵ phải múa kiếm đâm bạn mình cho máu phun vào chỗ
đương ráp nối, bảo đao mới lành lặn lại được. Câu chuyện nhắc ta nhớ lại huyền
thoại luyện 2 thanh kiếm Can tương và Mạc gia (Mạc tà) thời Chiến quốc. Ỷ thiên
Đồ long ký cũng đề cập đến việc sử dụng dầu đá (thạch du – dầu thô lấy từ mỏ
ra, chưa được chế biến) của người Trung Quốc cuối đời Nguyên. Trong đội ngũ
kháng chiến của Minh giáo có đội Liệt hỏa kỳ chuyên lấy dầu thô phun qua ống thụt
để đánh hỏa công. Nói đến việc lấy dầu thô là nói đến kỹ thuật khai thác quặng
mỏ. Minh giáo bắt nguồn từ Ba Tư nên rất rành kỹ thuật khai thác loại dầu này.
Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng kỹ thuật lạ nhất được Kim Dung đề cập đến là kỹ thuật
chưng cất rượu. Kỹ thuật này được đề cập trong Tiếu ngạo giang hồ. Đan Thanh
tiên sinh ở Giang Nam đem 3 chiêu kiếm truyền cho kiếm khách Mạc Hoa Nhĩ nguời
Thổ Lỗ Phồn (Thổ Phồn – Tourfan) để đổi được 4 thùng rượu Bồ đào đã cất được
120 năm. Vận chuyển loại danh tửu này từ Thổ Lỗ Phồn về đến Giang Nam phải mất
bốn tháng, đường đi lại khó khăn nên đến Giang Nam chất rượu lại chua, không được
thuần mỹ. Đan Thanh vào hoàng cung, bắt cóc một chuyên gia của ngự trù phòng
chuyên chưng cất rượu cho vua uống đem về Giang Nam buộc gã phải chưng lại mấy
thùng Bồ đào tửu cho mình. Rượu được chưng lại đúng 13 tháng thì Đan Thanh gặp
được “ông trùm” uống rượu Lệnh Hồ Xung. Lệnh Hồ Xung mới uống một hớp Bồ đào tửu
đã lấy làm lạ, nhận xét trong cái mới có cái cũ, trong cái cũ có cái mới, dường
như đã 120 năm mà cũng dường như mới 12 tháng. Đan Thanh hân hoan cho biết thứ
Bồ đào tửu này đã được Mạc Hoa Nhĩ 3 lần cất, 3 lần chưng, về đến Giang Nam lại
chưng cất thêm một lần nữa. Cho nên vị rượu vừa 120 tuổi mà cũng vừa 13 tháng
là như vậy. Kỹ thuật sau cùng đáng quan tâm là kỹ thuật dệt kim. Kim Dung giới
thiệu một loại bảo y hộ thân rất hiệu nghiệm, được dệt bằng sợi kim ty (tơ kim
khí) phối hợp với tơ tằm ngàn năm trên đỉnh Tuyết Sơn. Loại áo này là nội y, mặc
lót bên trong, đao kiếm đâm không lủng, quyền chưởng đánh không bị chấn động.
Trong Lộc Đỉnh ký, Khang Hy mặc 1 chiếc, Vi Tiểu Bảo mặc 1 chiếc. Quả nhiên không
ai chơi nổi cả vua tôi nhà này. Nhân loại càng tiến bộ, kỹ thuật càng phát triển.
Tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đơn thuần là tiểu thuyết, hoàn toàn không có ý
định giới thiệu sự tiến bộ trong khoa họckỹ thuật của người Trung Quốc. Ông cứ
viết vậy, chúng ta đọc và tưởng tượng. Còn tưởng tượng đến đâu là quyền chúng
ta.
Thức ăn Trung Hoa
Miếng ăn bao giờ cũng quý
giáo đối với con người. Đặc biết đối với dân tộc Trung Hoa ngày trước, một dân
tộc sống nhờ vào sản xuất nông hiệp lạc hậu, lải phải luôn đối đầu với những
thiên tai khủng khiếp hhàng năm thì miếng ăn quả thật rất cần thiết và rất rất
quý. Từ điển tiếng Hoa gọi chung các loại thức ăn là ngọc thực (món ăn vàng ngọc).
Làm ra miếng ăn để có ăn đã quý. Thức ăn được chế biến tinh xảo; nhìn sướng mắt,
ngửi thơm mũi, chạm vào thấy nóng, ăn vào miệng thấy ngon lại còn quý hơn. Mà
trên thế giới, dân tộc Trung Hoa là dân tộc nồi tiếng biết chế biến nhiều món
ăn ngon nhất và thậm chí, cầu kỳ nhất. Chính vì vậy, thức ăn trong tiểu thuyết
võ hiệp của Kim Dung – có lẽ là một người Trung Hoa sành ăn - cực kỳ phong phú.
Trình độ hiểu biết về các món ăn khắp các miền, hiểu biết cách chế biến thức ăn
từ thô sơ đến tinh xảo của tác giả không khỏi khiến chúng ta ngạc nhiên thú vị.
Triều Tống, từ bờ Bắc sông Hoàng Hà ra đến biên giới Ngoại Mông được gọi là miến
Bắc. Khí hậu quanh năm tương đối lạnh, Kim Dung cho biết họ thường ăn các loại
bánh bao không nhân với các loại thịt cừu, thịt trâu, thịt bò kho. Đọc Thiên
Long bát bộ, ta biết các bộ tộc Khất Đan và Nữ Chân nuôi nhiều loại gia súc này
dưới dạng chăn thả; thịt để làm thức ăn, da để làm áo quần, lều trại, túi đựng
rượu. Thiên nhiên hào phóng và hoang sơ cũng đem lại cho người phương Bắc nhiều
thức ăn, mang tính bổ dưỡng cao. Thiên Long bát bộ có đoạn kể chuyện Tiêu Phong
bồng A Tử ra Nhạn Môn quan chữa thương, chuyên đánh giết gấu để lấy bàn tay gấu
(hùng chưởng) và mật gấu cho A Tử uống. Nơi đây gần núi Trường Bạch, Tiêu Phong
cũng dễ kiếm ra củ nhân sâm có giá trị cải tử hoàn sinh cho A Tử dùng. Ông nuôi
cô em vợ bằng những thức ăn là dược vật trân quý dẫu có ngàn vàng cũng khó tìm
mua. Từ bờ Nam sông Hoàng Hà đổ về hết phương Nam Trung Quốc, cách chế biến đồ
ăn có vẻ ngon lành hơn, tinh vi hơn. Tất nhiên, nơi ăn ngon nhất thiên hạ Trung
Quốc vẫn là Bắc Kinh, đặc biệt là trong hoàng cung nội viện. Lộc Đỉnh ký cho biết
dưới triều Khang Hy, để phục vụ chuyện ăn uống cho hoàng gia, có cả một ngự trù
phòng, đứng đầu là một tay thượng thiện thái giám, phía dưới có hàng trăm thái
giám chuyên mua sắm, chế biến thức ăn. Thức ăn chơi gồm bánh mứt - Kim Dung gọi
là đồ điểm tâm, khác hẳn khái niệm điểm tâm của chúng ta là ăn sáng – đã gồm cả
trăm thứ. Chế biến xong, bọn thái giám đặt lên đầy cả bàn để dâng vua Khang Hy.
Nhưng Khang Hy chán lối ngồi ăn trên bàn; nhà vua muốn… ăn vụng. Và nhờ đi ăn vụng
bánh nướng, bánh da lợn, nhà vua đã gặp anh bạn trẻ Vi Tiểu Bảo (cũng là trùm
ăn vụng!). Cho hay, ăn vụng luôn luôn hấp dẫn đối với con người, cái gì ngay ngắn
quá, chính quy quá cũng trở nên phiền toái. Vâng, đồ ăn trong hoàng cung là
ngon nhất và đa dạng nhất bởi hoàng cung quy tụ đủ các anh tài nấu ăn trên toàn
cõi Trung Hoa. Sau khi biết Mộc Kiếm Bình là cô gái người Vân Nam, Vi Tiểu Bảo
đã ra lệnh cho ngự trù phòng nấu món Tuyên oai hoả thoái - một món canh giò heo
thơn ngon nhiều nước mỡ - để đãi cô gái nhỏ này khiến cô vô cùng ngạc nhiên.
Trên nguyên tắc, thứ gì ngon thì đổ vào hoàng cung nhưng trên thực tế, định đề ấy
hơi bị sai. Kim Dung chua chát nhận ra rằng bao giờ cũng có nạn tham nhũng, nhà
thầu nào đưa đồ ăn ươn thối cho ngự trù phòng mà có món tiền lót tay kha khá
thì thức ấy vẫn đáng dâng lên cho vua và thái hậu dùng; nhà thầu nào quên tiền
lót tay thì dẫu cá tươi, thịt sống cũng trở thành đồ ươn thối... Chính nhờ nạn
tham nhũng đó mà bọn Tiền Lão Bản trong Thiên Địa hội đưa hai con heo Hoa điêu
phục linh trư và Đậu hoàng nhân sâm trư mổ sẵn vào hoàng cung, trong bụng heo
nhét được cả... một cô gái (Mộc Kiếm Bình) đưa vào để Vi Tiểu Bảo trao đổi “tù
binh” sau này. Lại cũng từ chuyện hoàng cung là nơi có thức ăn ngon nhất Trung
Hoa làm nảy sinh những tay… ăn trộm đồ ăn. Một tay ăn trộm thuộc loại thượng thừa
là Cửu chỉ thần cái Hồng Thất Công (Xạ điêu anh hùng truyện) chuyên vào ngự trù
phòng, đánh cắp thức ăn đã chế biến sẵn. Lão này ăn cũng dữ mà uống cũng vô địch,
suốt đời lấy ăn làm lẽ sống. Một tay trùm ăn mày như vậy cũng đáng để chúng ta
học tập làm… ăn mày! Bọn hào sĩ giang hồ của Kim Dung là phường ăn mạnh, uống đậm.
Họ hội họp ở đâu là nơi đó có mùi rượu thịt xông lên nhức mũi. Khi đám bàng môn
tả đạo về đầu nhập phái Hằng Sơn, tình nguyện làm đệ tử Lệnh Hồ Xung để cho Lệnh
Hồ Xung khỏi mang tiếng cầm đầu một đám nữ ni; Lệnh Hồ Xung đã cấm họ không được
đặt chân lên ngọn Kiến Tính (núi chính của Hằng Sơn). Họ giữ lời hứa không lên
nhưng vẫn xào heo, nấu bò bày tiệc nhậu; trong chốn cửa Phật thanh tịnh, bỗng
vang mùi hành tiêu, mỡ thịt. Cho hay, cái ăn nuôi sống con người; miếng ăn ngon
cũng góp phần làm cho phẩm giá con người rực rỡ. Tội gì không ăn! Có lẽ đất
Trung Quốc có nhiều quán cơm (phạn điếm) và tiệm rượu (tửu lâu) nhất thiên hạ.
Chẳng vậy mà cô bé A Tử trên đường trốn thầy mình, sẵn sàng kêu rượu và các món
nhậu để… thuốc đồng môn. Cô này ăn xài rất phí: gọi đĩa thịt bò ra, ngang nhiên
cầm miếng thịt… lau giày, con cá chép còn sống mới chiên xong lại gọi là cá
ươn. Đoạn buồn cười nhất của Thiên Long bát bộ là đoạn nhà sư Hư Trúc gặp A Tử
trong quán cơm. Nhà sư ăn chay từ nhỏ, chỉ dám gọi độc món mì chay. A Từ đánh lừa
cho nhà sư nhìn đi nơi khác rồi lén đổ vào vài muỗng nước mỡ. Hôm ấy Hư Trúc ăn
tô mì chay cảm thấy hết sức thơm ngon, khoông ngờ món này khác món chay ở chùa
Thiếu Lâm một trời một vực. Thức ăn chay của Trung Hoa cũng rất phong phú. Đọc
Thiên Long bát bộ, ta biết chùa Thiếu Lâm có khu vườn rộng hàng trăm mẫu trồng
rau dưa; các nhà sư bị kỷ luật phải gánh nước, gánh phân tưới bón hàng ngày. Quần
hùng lên chùa Thiếu Lâm là được thiết đãi cơm chay. Quần hùng Ma Ni giáo (Ma
giáo, tiếng chỉ chung Manichéisme – Bái hỏa giáo Trung Hoa) cũng ăn chay. Hễ thấy
đám nào mặc áo trắng, vào tiệm cơm không gọi thịt cá mà chỉ ggọi rau dưa, đậu
hũ thì đó là bọn giáo chúng Manichéisme. Có những tập thể không ăn chay nhưng
khi đi ra ngoài hành sự, họ thường mang thức ăn không đi theo để dễ chế biến.
Hai loại thức ăn dễ mang theo nhất là bánh bao chay và mì. Trong Hiệp khách
hành, bọn Kim Đao trại tấn công Ngô Đạo Nhất ở thành Biện Lương xong, rút ra
ngoài đồng hoang nấu mì lên húp soàn soạt. Loại thức ăn này toàn tinh bột,
không có thịt, cũng là món chay. Trên đây, tôi chỉ mới bàn với các bạn những
món ăn chính quy, bài bản, có kẻ nấu bán, có người mua ăn. Đọc Kim Dung ta còn
thấy thú vị với những món ăn và cách chế biến thức ăn cực kỳ hoang dã. Trong Thần
điêu hiệp lữ, Kim Dung kể chuyện Dương Qua và Hồng Thất Công bắt được một loại
rít lớn trên núi tuyết, nước lên, lột bỏ lớp vỏ kitin đi, còn lại một loại thịt
thơm ngon như thịt tôm. Món nước trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung rất phong
phú. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Doanh Doanh đã bắt ếch nướng lên nuôi chàng Lệnh
Hồ Xung. Kim Dung mô tả món ếch nướng rất thơm ngon, kể cả những miếng Doanh
Doanh lỡ để quên đến nỗi cháy khét! Con người càng đóí lại càng cần ăn. Nhu cầu
ham sống quả thật khốc liệt đến nỗi thấy miếng ăn là người ta lao tới, đôi khi
không cần đến sự chế biến và đôi khi người ta ăn cả thịt người! Trong Tiếu ngạo
giang hồ, có đoạn thuật chuyện Hướng Vân Thiên đã dùng chỉ công đâm vào tĩnh mạch
trên cổ ngựa và kê miệng vào uống máu sống. Uống no xong, lão bảo Lệnh Hồ Xung
kê miệng vào uống tiếp. Kim Dung cho biết máu ngựa rất tanh nhưng trong hoàn cảnh
của hai người, máu ngựa vẫn là một loại thực phẩm cứu đói kịp thời. Khi đã xuống
tới thung lũng sâu, Hướng Vân Thiên lại đói bụng, thầm tiếc không tìm ra xác chết
nào của bọn thù địch rớt xuống để lão dùng cho đỡ đói! Như chúng ta đã nói,
Trung Quốc xưa là một đất nước có nền nông nghiệp lạc hậu, thường gặp thiên
tai, địch hoạ. Cái đói thường xuyên đe doạ người Trung Quốc suốt cả chiều dài lịch
sử. Cho nên thật dễ hiểu khi dân tộc này chọn nền kinh tế trọng nông. Một khi
cái đói đến thì con người mất hết tính người, sẵn sàng ăn thịt đồng loại. Trong
Ỷ thiên Đồ long ký kể chuyện Trương Vô Kỵ 15 tuổi dẫn em bé Dương Bất Hối 6, 7
tuổi tìm lên Thiên Sơn. Đi ngang qua tỉnh Sơn Tây, Vô Kỵ và Bất Hối bị một nhóm
thổ phỉ bắt, định làm thịt nấu ăn. Vô Kỵ nhanh trí hái một mớ nấm độc bỏ vào nồi
nước sôi, đầu độc những kẻ muốn hại mình và Bất Hối. Sau đó, cậu bé mới được
Chu Nguyên Chương, cũng là thổ phỉ, đi tu ở chùa Hoàng Giác, cho ăn thịt bò
kho. Điều thú vị trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung là nhiều khi một món ăn
tào lao lại trở thành một món thuốc làm tăng trưởng công lực cấp kỳ. Thiên Long
bát bộ kể chuyện Đoàn Dự ngẫu nhiên nuốt trúng con Mãng cổ chu cáp (con ếch có
tiếng kêu như con bò), là một loại độc vật hạng nhất, tưởng rằng chắc chắn sẽ
chết. Oái oăm thay, đó lại là một món thần vật đại bổ, ăn vào phát huy khả năng
thần kỳ đến nỗi chàng ta không còn bị nhiễm bất cứ loại độc dược nào. Đoàn Dự
trở thành một kẻ “bách độc bất xâm” (trăm thứ độc không thể thâm nhập được),
Kim Dung gọi đó là Mãng cổ chu cáp thần công! Có những thức ăn đối với người
này là độc hại, đối với người kia là đại bổ. Ta có thể tìm thấy một thí dụ như
vậy trong Tiếu ngạo giang hồ. Trên sông Trường Giang, Lam Phượng Hoàng – giáo
chủ Ngũ Độc giáo Vân Nam – tìm đến thăm và chữa bệnh cho Lệnh Hồ Xung. Cô cho
chàng trai uống Ngũ Độc tửu. Thế nào là Ngũ Độc tửu? Đó là loại rượu ngâm 5 loại
trùng độc hạng nhất của Ngũ Độc giáo: một con rắn, một con rít, một con bò cạp,
một con cóc và một con nhện cực độc. Uống xong hũ rượu, Lệnh Hồ Xung còn phải
nuốt 5 con trùng độc kia vào bụng. Ngũ Độc giáo gọi đó là Ngũ tiên. Món “Ngũ
tiên” kia đối với người Trung Nguyên là độc vật nhưng đối với Lam Phượng Hoàng
người Vân Nam là thứ đại bổ, không dễ tìm ra được. Ăn uống là một dạng nạp năng
lượng; có năng lượng mới có sự sống đúng nghĩa. Mà suy cho cùng, quyền gần gũi
nhất đối với con người là được ăn, được ăn no đủ, được ăn ngon. Tác phẩm võ hiệp
của Kim Dung phản ảnh về cái ăn, thức uống, về cách ăn Trung Hoa khá phong phú.
Phải nói đọc tác phẩm của ông, ta có thể hình dung ra một phong cách văn hóa ẩm
thực Trung Quốc lẫn khuất sau những bữa ăn, đồ ăn, nơi ăn, trạng thái ăn.
Trương Vô Kỵ và Triệu Mẫn đánh nhau tơi bời rồi sau đó, lặng lẽ tìm về một quán
cóc nhỏ, ngồi bên nhau ăn những thức ăn nhẹ và đối ẩm mấy chung. Hay như chiếc
bánh chưng Hồ Châu (Giang Nam) được xếp loại Hồ Châu tam bảo (sau bút lông và gấm
đoạn) dù nó chỉ được gói bằng là chuối, nếp, nhân đậu xanh, nấm, thịt… Trong những
bữa ăn của tiểu thuyết võ hiệp, lấp lánh thứ ánh sáng hạnh phúc ngọt ngào của
tình yêu đôi lứa. Doanh Doanh nướng ếch nuôi Lệnh Hồ Xung; Hoàng Dung săn bắn
nuôi Quách Tĩnh; Triệu Mẫn gọi thức ăn chờ Vô Kỵ đến cộng ẩm… Tất cả là vì tình
yêu đôi lứa. Chính vì có tình yêu làm tố chất nên không cần đến bàn ghế, chén
đĩa mà bữa ăn vẫn vang lên tiếng cười hạnh phúc.
Tinh thần Phật giáo
Đọc quyển lịch sử Phật giáo Trung Quốc của Thượng
toạ Thích Thanh Kiểm (NXB Vạn Hạnh 1963), tôi thấy ngài đưa ra 2 thuyết rất
đáng tin cậy để cắt nghĩa sự du nhập của Phật giáo vào Trung Quốc. Thượng toạ
cho biết thời Hán Ai đế (-6TrCN), một sứ giả nước Đại Nhục Chi (Indo-Scythe)
đưa kinh điển của Phù đồ giáo (Bouddho, tức Phật giáo) truyền miệng cho Trần Cảnh
Hiến, một viên quan của Hán Ai đế. Sau đó, vua Hán Minh đế (67) phái 18 người
sang Tây Vực để thỉnh tượng và kinh điển Phật giáo về. Giữa đường, gặp hai cao
tăng nước Thiên Trúc là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đang đưa kinh tượng xuống
Trung thổ, họ mừng rỡ rước hai cao tăng về Trung Quốc. Hán Minh đế cho dựng Bạch
Mã tự để xiển dương Phật giáo, làm nơi dịch kinh cho các cao tăng. Bộ kinh Phật
đầu tiên được dịch ra Hán văn là Tứ thập nhị chương kinh. Đến cuối đời Hậu Hán,
Phật giáo gần như đã lan truyền khắp xã hội Trung Quốc. Có lẽ trong những nhà
văn Trung Quốc, Kim Dung là nhà văn thể hiện một cách đều khắp và sâu sắc nhất
tinh thần Phật giáo qua các tác phẩm tiểu thuyết của mình. Trong 12 bộ tiểu
thuyết, Kim Dung luôn nhắc đến sự tích Đạt Ma sư tổ từ Thiên Trúc sang Đông thổ,
lên ngọn Thiếu Thất tỉnh Hồ Nam, diện bích (nhìn vách) chính năm, sáng lập ra
phái Thiếu Lâm. Phái Thiếu Lâm được ông gọi là Thái Sơn Bắc Đẩu trong võ lâm
Trung Quốc. Hình tượng các nhà sư Thiếu Lâm với tấm tăng bào rộng thùng thình,
xuất hiện đúng tình huống tiểu thuyết, Phật lực cao cường. võ công siêu việt, sẵn
sàng xả thân tế khổn phò nguy, hàng yêu diệt ma đã quá quen thuộc với bạn đọc
tiểu thuyết võ hiệp. Một số nhân vật tiểu thuyết là tăng sĩ đã trở thành hình
tượng văn học, được tác giả khắc họa một cách tinh tế: Huyền Từ - phương trượng
chùa Thiếu Lâm, Trí Quan - trụ trì chùa Chỉ Quán núi Thiên Thai, Hư Trúc - tiểu
tăng chùa Thiếu Lâm (Thiên Long bát bộ); Vô Sắc – cao tăng Thiếu Lâm (Ỷ thiên Đồ
long ký); Phương Chứng – cao tăng Thiếu Lâm (Tiếu ngạo giang hồ)… Phật giáo du
nhập vào Trung Quốc đủ cả mười tông phái; tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung
dành niềm ưu ái lớn cho Thiến tông. Tuy nhiên, Thiền tông trong tiểu thuyết Kim
Dung không dừng lại ở chỗ những công án, không nặng nề về chủ trương “dĩ tâm
truyền tâm, dĩ ý truyền ý”. Thiền tông trong tiểu thuyết Kim Dung là một thú
Thiền tông nhập thể và nhập thế: tu học để tinh tường Phật pháp, thấu hiểu cái
lẽ huyền vi của cuộc sống; rèn luyện võ công để hành hiệp cứu đời. Phật pháp
càng cao, võ công càng siêu viiệt; võ công càng cao, Phật pháp càng tinh tấn.
Những nhà sư trong tác phẩm của ông là những nhân vật lý tưởng. Họ là những hiệp
khách đích thực trong cuộc chiến đấu chống cái ác và khi cuộc chiến đấu chấm dứt,
họ là những triết gia với các triết lý rất gần gũi với cuộc sống. Ta hãy nghe một
bài kệ của nhà sư Trí Quan ứng tác trước khi qua đời, đọc cho Kiều Phong nghe
khi Kiều Phong vất vả đi tìm nguồn gốc của mình là người Há hay người Khất Đan
(Thiên Long bát bộ): Khất Đan với Hán nhân Bất luận giả hay chân Ân oán cùng
vinh nhục Không hơn đám bụi trần. Phật giáo trong tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp
Kim Dung là một tôn giáo yêu nước, luôn luôn trung thành với sự nghiệp bảo vệ đất
nước và giải phóng dân tộc. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Xạ điêu anh hùng truyện,
Thần điêu hiệp lữ, các tăng lữ đã xông trận cùng quần hùng Trung nguyên đánh đuổi
quân Mông Cổ. Những cuộc hội họp của hào sĩ giang hồ Trung Quốc bàn kế chống giặc
giữ nước, dựng cờ khởi nghĩa thường diễn ra trong khuôn viên chùa Thiếu Lâm. Đoạn
tiểu thuyết mà tôi cho là giàu tính anh hùng ca nhất là đoạn toàn thể nhà sư
chùa Thiếu Lâm sát cánh cùng quần hùng Minh giáo, phá vòng vây quân Mông Cổ định
san bằng chùa Thiếu Lâm (Ỷ thiên Đồ long ký). Mỗi khi đất nước đối đầu với nguy
cơ bị ngoại xâm thì Phật giáo là một chỗ dựa vững chắc nhất cho chính quyền quân
chủ và nhà sư là những chiến sĩ đi đầu trong việc phá vỡ âm mưu ngoại xâm đó.
Trong Thiên Long bát bộ, Khô Vinh đại sư phải hủy bộ Lục mạch thần kiếm kinh là
để người Thổ Phồn không thể chiếm được võ công trấn quốc của nước Đại Lý; quần
hùng cùng phái Thiếu Lâm xông pha vào phủ Nam viện của Khất Đan ở Yên Kinh cứu
Kiều Phong, đưa quần hùng ra Nhạn Môn quan tập kích người Khất Đan để phá vỡ mầm
mống xâm lược Trung Quốc có thể xảy ra. Trong Lộc Đỉnh ký, vua Khang Hy đã dựa
vào lực lượng tăng lữ chùa Thiếu Lâm để bảo vệ phụ hoàng Thuận Trị, phá vỡ âm
mưu chính trị của liên quân Mông Cổ - Tây Tạng. Có lẽ Kim Dung là một Phật tử
thuần thành, am hiểu Phật giáo một cách sâu sắc. Tiểu thuyết là sản phẩm của sự
hư cấu, Kim Dung đã hư cấu cho phái Thiếu Lâm có đến 72 môn công phu huyền diệu
gọi là Thất thập nhị huyền công. Mỗi môn công phu đều sử dụng kình lực dương
cương, có sức mạnh tan bia vỡ đá. Các môn công phu đều có tên gọi xuất phát từ
kinh đểin Phật giáo: Niêm hoa chỉ, Bát Nhã chưởng, Vi Đà chưởng, Vô tướng kiếp
chỉ, Đa la diệp chỉ, Đạt Ma kiếm pháp, Sư tử hống, Đồ đề chưởng, Phục ma trượng
pháp… Trong cuộc đấu tranh, chính pháp huyền môn luôn luôn thắng tà môn ma đạo.
Cái thắng ấy nằm trong ước lệ chính đạo thắng bàng môn. Có khi Kim Dung sử dụng
kinh điển Phật giáo là cái hồn cho toàn bộ tác phẩm. Thiên Long bát bộ là một
thí dụ cho nhận định này. Thiên Long là tên một ngôi chùa ở Vân Nam, nước Đại
Lý (thời Bắc Tống). Thế nhưng trong Pháp hoa kinh, Thiên Long bát bộ “bao gồm
tám loại quỷ thần hay quái vật”. Thiên Long bát bộ gồm: Thiên thần, Long thần,
Dạ xoa, Kiền Đạt Bà, A Tu La, Già Lâu La, Khán La Na và Ma Hô La Gia. Trong
Thiên Long bát bộ, Kim Dung xây dựng tám nhân vật lớn, tám sự tích; mỗi nhân vật
và sự tích ấy tương ứng với một “bộ” của bát bộ. Trong Tiếu ngạo giang hồ, tác
giả trích luôn Bảo tích kinh và Diệu pháp liên hoa kinh để xây dựng mối tình
Nghi Lâm - Lệnh Hồ Xung. Lời kinh cầu cho Lệnh Hồ Xung tai qua nạn khỏi được
Nghi Lâm niệm với cả niềm tin, một lòng thành tuyệt vời khiến Lệnh Hồ Xung
trong cơn đau đớn vẫn nhận ra nơi người bạn nhỏ hào quang của sự thánh thiện.
Đưa tinh thần Phật giáo vào trong tác phẩm văn học là điều không mới lạ trong lịch
sử văn học Trung Quốc. Cái mới lạ là Kim Dung đưa tình thần ấy vào tác phẩm tiểu
thuyết võ hiệp và ông chuyên canh một cách sâu sắc. Chất Từ, Bi, Hỉ, Xả, nhân bản,
nhân văn trong tinh thần Phật giáo biến những tác phẩm nặng tính tranh đấu, sát
phạt trở thành những bài tình ca ca ngợi phẩm giá con người, ca ngợi cuộc sống
hòa bình trung chính. Libido Tôi không có tham vọng đem khái niệm Libido của
triết học Tây phương để mổ xẻ các vấn đề thuộc phạm trù tâm lý, tình cảm trong
tác phẩm văn học Đông phương. Tuy nhiên con người khắp nơi trên thế giới đều có
những mẫu số chung trong hoạt động tâm lý, tình cảm, bởi họ đều là con người.
Và tôi đã thận trọng giới hạn vấn đề mình sắp bàn đến trong hai chữ “thử nhìn”.
Tâm phân học (Psychanalyse) là một trường phái triết học Tây phương mà ông tổ sản
sinh ra nó là Sigmund Freud. Tâm phân học đạt được một số thành tựu nhất định
trong việc góp phần cắt nghĩa các hoạt động của năng lực tình dục; cắt nghĩa
Ngã (Moi), Đại Ngã (Grand Moi) và Siêu Ngã (Sur-Moi); thế giới của ý thức, vô
thức và tiềm thức… Tôi nhìn thấy trong các tác phẩm võ hiệp Kim Dung một số vấn
đề khá gần gũi với cách cắt nghĩa của tâm phân học. Khi sáng tạo và giải thích
tâm phân học, Sigmund Freud cùng các đồ đệ của ông như Alfred Adler, Karl
Gustav Jung có tham vọng phân tích trạng thái tâm lý con người như là 1 thực thể,
được chia cắt ra thành nhiều phần khác nhau. Thế giới tâm lý không còn là thế
giới trừu tượng nữa; nó có hình thù hẳn hoi: có đáy, có đỉnh, có miền, có khu vực…
Libido
là 1 thuật ngữ khá đặc biệt
của tâm phân học, được hiểu như là năng lực tình dục (énergie de la pulsion
sexuelle). Libido được coi như nền tảng của hoạt động tâm lý, giữ vai trò hình
nhi hạ trong khi tình yêu giữ vai trò hình nhi thượng. Nếu hoạt động tâm lý được
coi như 1 tam giác cân thì Libido là cái đáy mà tình yêu là cái đỉnh. Libido là
năng lực bẩm sinh trong từng con người, năng lực ấy được thể hiện một cách khác
nhau trong từng thời kỳ trưởng thành của cá nhân. Thí dụ: ở trẻ sơ sinh là thời
kỳ bú mút, ở tuổi dậy thì là thời kỳ thủ dâm, và sau đó là thời kỳ tình dục…
Khi Libido được thỏa mãn, cá nhân mới giữ được trạng thái thăng bằng. Nếu
Libido bị ngăn trở, cá nhân bị ẩn ức. Ẩn ức là trạng thái các khuynh hướng bị
ngăn trở, không thực hiện được, trở thành một thứ xung động nội tâm, được gọi
là refoulement. Hãy hình dung ẩn ức như một quả bong bóng bơm căng, không có chỗ
để thoát hơi ra, tức là không có chỗ để thỏa mãn được theo sự đòi hỏi của tự
nhiên của năng lực tình dục. Trong trường hợp này, cá nhân tự đi tìm một trong
hai cách thế để phát tiết. Một - Libido bị sa đọa, cá nhân trở thành đồng tính
luyến ái, ghê sợ tình dục, điên loạn, tâm thần phân liệt, trầm cảm… Hai -
Libido được thăng hoa trở thành những tình cảm, khát vọng cao thượng: say mê
tôn giáo, khoa học, đam mê sáng tạo văn học, nghệ thuật, âm nhạc… Hiểu theo
quan điểm của tâm phân học thì những người trong các nhà thương tâm thần là những
người bị sa đọa Libido; thành quả âm nhạc rực rỡ của Beethoven, Mozart,
Tchaikovsky là sự thăng hoa của Libido. Tác phẩm võ hiệp của Kim Dung đã chứng
minh được một số trường hợp năng lực Libido sa đọa. Tiếu ngạo giang hồ xây dựng
nhân vật Đông Phương Bất Bại của Triêu Dương thần giáo ham luyện Quỳ hoa bảo điển,
đã tự “phăng teo” cái “xíu xiu” nam giới của mình, trở thành kẻ đồng tính luyến
ái. Ấy, bởi vì câu mở đầu của Quỳ hoa bảo điển ghi: “Võ lâm xưng hùng, dẫn đao
tự cung”‘ (Muốn xưng hùng võ lâm, phải dùng dao tự thiến). “Tự cung” tức là triệt
tiêu hẳn năng lực tình dục. Hắn đâm ra mê lú, “yêu” tên đệ tử to con tốt tướng
Dương Liên Đình, đánh nhau với người khác bằng một mũi kim thêu và với tư chức
mỹ lệ của một phụ nữ! Tiếu ngạo giang hồ cũng xây dựng 2 trường hợp “tự cung”
khác- Nhạc Bất Quần và Lâm Bình Chi. Cả hai đều mất giới tính và sau đó, mất cả
nhân tính. Nhạc Bất Quần bức tử vợ là Ninh Trung Tắc; Lâm Bình Chi giết vợ là
Nhạc Linh San. Đau đớn thay, khi Nhạc Linh San chết đi, cô hãy còn là trinh nữ.
Hiệp khách hành xây dựng một trường hợp Libido sa đọa khác. Đó là nàng Mai
Phương Cô yêu Thạch Thanh mà không được chung sống cùng chàng. Mai Phương Cô đã
bắt cóc đứa con nhỏ của vợ chồng Thạch Thanh – Mẫn Nhu đưa về hoang sơn nuôi, gọi
tên thằng bé là Cẩu Tạp Chủng (chó lộn giống). Nói theo Alfred Adler, Mai
Phương Cô đã làm 1 động tác bù trừ: trả thù tình nhân, tình địch không được,
Mai Phương Cô thóa mạ con của tình nhân, tình địch cho bõ ghét. Người phụ nữ ấy
sống trong trạng thái trầm cảm, tự rạch bộ mặt mỹ miều của mình cho xấu xí và
suốt đời không xuất hiện trước một ai. Khi Thạch Thanh lên núi tìm ra tông tích
con trai, Mai Phương Cô tự vẫn. Trong Thiên Long bát bộ, Mộ Dung Phục là hậu duệ
của dòng giống Tiên Ty nước Đại Yên, suốt đời đam mê khát vọng phục quốc. Từ chối
mối tình đằm thắm của nàng thiếu nữ xinh đẹp Vương Ngữ Yên, Mộ Dung Phục sang
Tây Hạ hy vọng được tuyển làm chồng của công chúa Ngân Xuyên, trở thành phò mã
Tây Hạ, đem quân Tây Hạ về đánh Trung Quốc để phục hưng Đại Yên. Nỗi đam mê ấy
biến Mộ Dung Phục trở thành kẻ bạc nghĩa, vô tình, giết luôn đám thủ hạ thân
tín của mình, sẵn sàng làm con nuôi Đoàn Diên Khánh, nghĩa là từ chối họ Mộ
Dung. Cuối cùng Mộ Dung Phục đã phát điên, ngồi trên gò mả, đội mũ lá làm vua,
gọi các trẻ em chăn bò đến làm quan và đem kẹo phân phát cho chúng. Ở trạng
thái thứ 2, năng lực Libido được thăng hoa trở thành những khát vọng, tình cảm
cao thượng. Kim Dung cũng đã khắc họa cho người đọc một số hình ảnh cụ thể. Đó
là Nhất Đăng đại sư, vốn là vua nước Đại Lý, được thuật trong Xạ điêu anh hùng
truyện. Nhà vua đặc biệt sủng ái nàng thứ phi Anh Cô. Thế nhưng, Châu Bá Thông
của phái Toàn Chân đến chơi Đại Lý, quan hệ tình dục với nàng Anh Cô khiến nàng
sinh ra một đứa con không được thừa nhận. Hiểu ra điều ấy, nhà vua đau đớn bỏ
hoàng gia đi tu, trở thành một nhà sư Phật lực cao cường, từ bi đạo hạnh. Và
trong Thần điêu hiệp lữ thuật lại, đôi bạn Vương Trùng Dương và Lâm Triều Anh
yêu thương nhau. Đáng lẽ, họ đã sống đời sống lứa đôi, nhưng tình yêu lại trắc
trở. Vương Trùng Dương suốt đời sống trong Trùng Dương cung; Lâm Triều Anh suốt
đời sống trong ngôi cổ mộ dưới núi Chung Nam, tự xem mình là một người Sống-đã-chết
(Hoạt tử nhân). Chung Nam sơn hạ Hữu hoạt tử nhân (Dưới Chân núi Chung Nam Có
người sống đã chết). Họ thăng hoa mối tình tuyệt vọng kia thành niềm say mê
sáng tạo và nghiên cứu võ học. Vương Trùng Dương lập nên Toàn Chân phái; Lâm
Triều Anh lập ra Cổ Mộ phái, trong đó có môn võ danh tiếng Ngọc Nữ kiếm pháp
(kiếm pháp của gái đồng trinh). Khát vọng thăng hoa của Cổ Mộ phái truyền qua
những đời sau trở thành một thứ quy luật: chỉ thu nhận gái đồng trinh và chỉ có
gái đồng trinh mới làm được chưởng môn Cổ Mộ phái. Làm thế nào xác định được 1
cô gái đồng trinh? Một cách lãng mạn, Kim Dung đã đặt vào trong cánh tay của
các nữ nhân vật của mình một dấu đỏ được cấy bằng chu sa, gọi là Thủ cung sa.
Khi cô gái mất trinh, dấu Thủ cung sa ấy sẽ biến mất và những đồng môn sẽ xác định
được dấu hiệu phạm tội. Những nhân vật kế tục Lâm Triều Anh như Lý Mạc Sầu, Hồng
Lăng Ba đều giữ được dấu Thủ cung sa ấy. Họ tự ép mình phải xa lánh tình dục
như sư tổ nên tính tình biến đổi, trở thành những kẻ khắc bạc, độc ác. Riêng Tiểu
Long Nữ, cô gái trong sáng, dịu dàng nhất của phái Cổ Mộ lại yêu thương người học
trò Dương Qua (còn đọc là Quá – lỗi lầm). Thế nhưng, cô không giữ được sự trinh
trắng vì bị một đệ tử phái Toàn Chân hiếp dâm. Vết Thủ cung sa mất đi, Dương
Qua đau đớn bỏ ra đi, Tiểu Long Nữ cũng một đời đi tìm Dương Qua… Đạo gia Trung
Quốc quan niệm có ba yếu tố cấu tạo thành hồn sống của một đời người: Tinh,
Khí, Thần. Khí (hơi thở) có biểu hiện trong lời nói (trung khí). Thần (sắc diện)
có thể biểu hiện nơi khuôn mặt, ánh mắt, các động tác của chân tay. Còn Tinh
(trong khái niệm tinh dịch, tinh khí) là cái gì quý giá nhất, tiềm ẩn bên trong
con người. Đạo gia đưa ra chủ trương “bế tinh” (không cho xuất tinh) để con người
có thể sống thọ. Mà “bế tinh” có nghĩa là kìm hãm sự hoạt động thực tế của năng
lực Libido. Người đà ông nào giữ được năng lực tình dục, không giao cấu với phụ
nữ được gọi là Thuần dương… Ỷ thiên Đồ long ký, Trương Tam Phong, tổ sư sang lập
phái Võ Đang, sống trên trăm tuổi, vẫn chưa gần nữ sắc, có môn Thuần dương vô cực
công rất vi diệu. Cũng trong Ỷ thiên Đồ long ký, chàng Vô Kỵ tuổi ngoài 20, có
4 cô bạn gái xinh đẹp nhưng vẫn không gần gũi nữ sắc, vẫn giữ được chất thuần
dương. Chất thuần dương ấy là 1 trong nhiều điều kiện đưa Vô Kỵ trở thành người
anh hùng vô địch của võ lâm Trung Quốc. Nói cách khác theo Kim Dung, phải kìm
hãm năng lực Libido để hướng nó tới mục tiêu đạt tuyệt đỉnh tối cao trong võ học.
Lộc Đỉnh ký xây dựng nhân vật giáo chủ Hồng An Thông. Hồng giáo chủ của Thần
Long giáo này có tham vọng “thiên thu trường trị, nhất thống giang hồ”, có 1 cô
vợ trẻ măng là Tô Thuyên nhưng không bao giờ chung chăn gối. Lý do: nếu mất
tinh khí thì võ công cái thế của Hồng giáo chủ sẽ trôi theo mây nước. Vì vậy Vi
Tiểu Bảo đã “cuỗm” Tô Thuyên của Hồng giáo chủ làm người vợ lớn tuổi nhất của hắn.
Cuối cùng những tham vọng của Hồng giáo chủ cũng tan thành mây khói, lão bị thuộc
hạ giết chết. Cá biệt có những nhân vật giải phóng hết năng lực tình dục của họ,
trở thành những tên giặc dâm chuyên cưỡng gian phụ nữ. Kim dung gọi họ là “Thái
hoa dâm tặc”. Thí dụ như Điền Bá Quang trong Tiếu ngạo giang hồ, Âu Dương công
tử trong Xạ điêu anh hùng truyện. Những người này hoạt động tình dục đến nỗi
khô kiệt cả tinh khí. Kim Dung bàn đến một thủ pháp gọi là Thái âm bổ dương (lấy
cái tinh túy nhất của phụ nữ để bồi bổ cho người đàn ông). Trong các loại tình
dục kinh của Trung quốc cũng có nhắc đến thuật này, tỷ như Tố nữ kinh hay Phòng
trung thuật. Cái tinh túy nhất của phụ nữ là gì nếu không là tinh? Còn biện
pháp “Thái âm” ấy thế nào thì quả là 1 điều nhiêu khê rắc rối. Nói cách khác,
Kim Dung vẫn đồng ý với Đạo gia rằng có thể phục hồi năng lực Libido trong trường
hợp năng lực ấy bị sử dụng đến mức gần như cạn kiệt. Việc phục hồi ấy như thế
nào không được tác giả bàn tới. Dẫu sao, truyện võ hiệp không phải là sách thuốc
mà Kim Dung cũng không phải là nhà nghiên cứu về nghệ thuật phòng the…
Nghệ thuật tiểu thuyết của
Kim Dung
Mỗi một nhà văn viết tiểu
thuyết đều có một nghệ thuật riêng. Nghệ thuật tiểu thuyết của Kim Dung là nghệ
thuật tiểu thuyết võ hiệp, viết về bọn hào sĩ giang hồ chuyên sống trên đường
đao, mũi kiếm. Nghệ thuật ấy vừa kế thừa thủ pháp truyền thống của các nhà văn
tiền bối, vừa cách tân theo phong cách hiện đại. Bàn về tiểu thuyết võ hiệp của
ông là bàn về sự kế thừa và sự cách tân. Trước hết, tiểu thuyết võ hiệp của Kim
Dung là tiểu thuyết chương hồi, kế thừa thủ pháp căn bản, truyền thống của tiểu
thuyết Minh - Thanh. Ta lấy ví dụ bộ Tiếu ngạo giang hồ dày 1.692 trang (chân
thư do Minh Hà xã, Hongkong xuất bản lần thứ 18 với chữ dấu mộc thự tên tác giả)
gồm 40 chương. Trước mỗi chương hồi có một bức vẽ minh hoạ, lấy ý chính của
chương hồi làm chú thích. Trong văn xuôi của tiểu thuyết, tác giả Kim Dung thường
đưa vào những đoạn trích dẫn thi ca, từ phú và đôi khi là các văn kiện lịch sử
mà ông sưu tầm được. Thơ ca trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung có thể là
thơ ca do chính ông sáng tác. Bản thân Kim Dung là một nhà thơ và cái ý vị Đường
thi trong thơ mới của ông đậm đà, lãng mạn một cách bát ngát. Thí dụ bàn về hoa
trà trong Thiên Long bát bộ, tác giả viết: Thanh quần ngọc diện như tương thức
Cửu nguyệt hoa trà mãn lộ khai (Quần xanh mặt ngọc từng quen biết Tháng chín,
hoa trà rợp lối đi) Hoặc: Thanh câu thủy động trà hoa bạch Hạ cốc vân sinh lệ tử
hồng (Dòng xanh nước gợn hoa trà trắng Non hạ mây vươn trái vải hồng). Đó cũng
có thể là thơ của những nhà thơ tiền bối được Kim Dung trĩch dẫn để làm rõ ý
trong những văn cảnh, những tình huống cụ thể. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Tổ
Thiên Thi giảng giải cho Lệnh Hồ Xung nghe loại rượu nào phải uống với loại chén
nào. Nói tới rượu Bồ đào phải uống với chén Dạ quang, Tổ Thiên Thu đọc hai câu
trong bài Lương Châu từ của Vương Hàn: Bồ đào mỹ tửu Dạ quang bôi Dục ẩm tỳ bà
mã thượng thôi (Bồ đào rót chén Dạ quang Muốn say, trên ngựa tiếng đàn giục đi)
Trong cung cách này, toàn bộ nội dung bộ Hiệp khách hành đều trích dẫn từ 54
câu thơ bài Hiệp khách hành của Lý Bạch; toàn bộ nội dung của bộ Tố tâm kiếm
(Liên thành quyết) đều trích dẫn thơ của hàng trăm nhà thơ trong Đường thi tuyển
tập. Đưa thi ca, từ phú vào văn xuôi là chuyện không lạ. Đọc Tam quốc diễn
nghĩa, Tây du ký, Hồng lâu mộng, Thủy hử, ta bắt gặp hàng trăm bài thơ. Nhưng
thơ trong những tác phẩm ấy đơn thuần chỉ là thơ chứng minh, thơ ca nghĩ ngợi,
thơ bày tỏ niềm thán phục của người đời sau. Thơ trong tiểu thuyết võ hiệp Kim
Dung vượt xa hơn, mang một ý nghĩa, một mục tiêu khác. Trong Tiếu ngạo giang hồ,
Kim Dung nhắc đến một chiêu kiếm của phái Hoa Sơn tên là Vô biên lạc mộc. Bốn từ
này lấy từ ý bài thơ Đăng cao của Đỗ Phủ:
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu
há
Bất tận trường giang cổn
cổn lai
Nhà nghiên cứu Trần Trọng
Kim dịch:
Nước sông cuồn cuộn mông
mênh chảy dào
Ngoài trích dẫn thơ, tác
giả còn trích dẫn các văn kiện lịch sử, tư liệu lịch sử có thật trong sử Trung
Quốc. Trong Thiên Long bát bộ, khi ca ngợi bà thái hậu sáng suốt của triều Tống
(bà nội Tống Triết tôn), tác giả đưa luôn nhận xét trong bản tấu chương của nội
viện nước Khất Đan khen ngợi tài đức của bà này và lời bàn rằng bà đang buông
rèm nhiếp chính, chớ động binh gây hấn với triều Tống. Đoạn tư liệu này chép
trong Tống sử. Viết Lộc Đỉnh ký, khi bàn về quan hệ Trung - Nga, tác giả đưa
luôn một đoạn trong bức thư của Sa hoàng gởi cho vua Khang Hy. Những hàng binh
Nga trong cuộc chiến trang biên giới được đưa về Bắc Kinh. Vua Khang Hy trọng dụng
họ, phiên chế thành một lực lượng quân sự đặc biệt trong Thanh binh, gọi là Nga
La Tư tá lĩnh. Khi viết về đoạn này, Kim Dung theo sát tư liệu trong Thanh sử cảo
của Lang Viên. Nhà nghiên cứu Nghiêm Gia Viêm của Đại học Bắc Kinh ca ngợi văn
phong của Kim Dung, cho rằng Kim Dung đã nâng văn chương thông tục lên thành thứ
văn chương thanh nhã. Tại sao vậy? Kim Dung viết về bọn hào sĩ giang hồ, về những
người bình thường Trung Quốc cho nên văn chương luôn luôn có tiếng chửi. Những
tiếng "tổ mẹ nó, quân rùa đen đê tiện, phường cho đẻ, con bà
ngươi..." luôn luôn hiện diện trong các bộ tiểu thuyết võ hiệp nhưng không
làm cho văn chương dơ đi vì nó được đặt vào rất đúng văn cảnh. Văn chương của
ông cũng phong phú các thành ngữ, tục ngữ Trung Quốc: "Lá rụng về cội",
"Hạ đao đồ tể xuống là thành Phật", "Biển khổ không bờ, quay đầu
thấy bến", "Non xanh còn đó, nước biếc vẫn đây, hẹn ngày gặp gỡ"...
Những thành ngữ, tục ngữ thông dụng ấy được đặt vào đúng văn cảnh, vào từng
tình huống một, tạo ra một giá trị nghệ thuật vừa rộng lại vừa sâu. Người học
ít đọc Kim Dung cũng thấy thích mà người học cao đọc Kim Dung cũng thấy thích.
Tác phẩm của ông vừa mang tính quần chúng rộng rãi vừa mang tính bác học cao
nhã. Nhưng thủ pháp cao cường nhất của Kim Dung vẫn là kĩ thuật xây dựng cốt
truyện. Những bộ tiểu thuyết của ông thường liên quan tới các vấn đề lịch sử,
các quốc gia (cũ) trong cộng đồng Trung Quốc, nghĩa là rất rộng lớn nên việc xử
lý, kết cấu các tình huống tiểu thuyết phải làm sao cho hợp lý để cuốn hút người
đọc ngay từ ban đầu. Ông đã tạo trong tác phẩm những mâu thuẫn chiều dọc giữa
nhân vật này và nhân vật khác, giữa tình huống này và tình huống khác. Ông đã tạo
trong tác phẩm những mâu thuẫn chiều ngang, hiểu như là sự diễn biến tâm lý phức
tạp trong nội tâm từng nhân vật. Ông đã xây dựng những tình huống lạ lùng, tưởng
đâu không thể có trong đời, mà rất thật. Tôi xin giới thiệu mấy tình huống để bạn
đọc tham cứu. Một đoạn trong Thiên Long bát bộ gồm các tình huống thế này: Kiều
Phong cùng A Châu đến thăm Ôn Khang, được Ôn Khang tiết lộ rằng nhân vật thủ
lĩnh đại ca đã đưa người ra Nhạn Môn Quan giết cha mẹ Kiều Phong là Đoàn Chính
Thuần. Cả hai quay về vùng Thái Hồ, Giang Nam tìm Đoàn Chính Thuần rửa hận. Khi
đến nơi, Kiều Phong chứng kiến cảnh Đoàn Chính Thuần lâm nguy; ông ra tay cứu
giúp và ước hẹn cùng Đoàn Chính Thuần canh ba đêm ấy ra chỗ cầu đá để bàn chuyện
Nhạn Môn Quan. Đêm ấy, Kiều Phong ngồi cạnh A Châu, hẹn ngày mai trả xong mối
thù sẽ cùng nhau về bên kia biên giới, qua thảo nguyên săn chồn đuổi thỏ. Ông ẵm
A Châu vào phòng nghỉ trước rồi toạ công và đúng canh ba, ra đi gặp Đoàn Chính
Thuần. Đến nơi hẹn, ông đánh Đoàn Chính Thuần một chưởng và Đoàn Chính Thuần
ngã quỵ. Ông lấy làm lạ, nắm Đoàn Chính Thuần đưa lên thì thấy người y nhẹ hều.
Hoá ra, đó không phải là Đoàn Chính Thuần; đó chính là A Châu, tình yêu của
ông, trái tim của ông. A Châu thuật lại cho ông biết khi mới về Thái Hồ, cô
tình cờ hiểu ra Đoàn Chính Thuần là cha ruột của cô nhờ nhìn thấy miếng ngọc bội
đeo trên cổ cô em gái là A Tử giống như miếng ngọc bội cô đang có. Nhưng khát vọng
trả thù của Kiều Phong cao quá, cô không thể ngăn cản, cũng không thể nói ra sự
thật rằng mình là con của Đoàn Chính Thuần. Đêm ấy, cô giả bộ ngủ sớm rồi lén
ra đi, gặp Đoàn Chính Thuần huỷ lời ước hẹn. Rồi cô hoá trang - mà kĩ thuật hoá
trang của cô rất cao cường - làm Đoàn Chính Thuần, đến cầu đá để chịu một chưởng
của Kiều Phong. Kiều Phong nghe người yêu thuật lại chuyện, đứt từng khúc ruột.
Ông bế xác của A Châu kên chạy loạn cả vùng Thái Hồ. Chôn cất A Châu xong, Kiều
Phong định tự tử vì không còn muốn sống trên đời nữa. Nhưng chợt nhìn lên bài từ
của Đoàn Chính Thuần đề trên lụa treo trên vách, Kiều Phong chợt nhận ra nét chữ
của Đoàn Chính Thuần khác hẳn nét chữ của thủ lĩnh đại ca mà ông đã được nhìn
thấy. Nghĩa là Đoàn Chính Thuần không phải là thủ lĩnh đại ca. Hoá ra Ôn Khang
đã đánh lừa ông; ông đã giết oan A Châu. Nghĩ đến đó, Kiều Phong lại chợt ham sống,
sống để tìm ra sự thật, sống để tạ tội giết oan người tình mà ông trọn đời yêu
dấu. Đây là khúc bi ca kinh hoàng nhất, đau thương nhất của Thiên Long bát bộ.
Đọc đoạn tiểu thuyết này, người ta có thể đổ nước mắt vì mối thâm tình của A
Châu đối với Kiều Phong, vì niềm đau đớn của Kiều Phong không có gì có thể so
sánh nổi. Có thể coi Thiên Long bát bộ là một bộ tiểu thuyết tiêu biểu cho
phong cách kết cấu câu chuyện của Kim Dung. Những tình huống đan xen, những ngã
rẽ bất ngờ dẫn câu chuyện đến những chân trời mới lạ. Đọc hồi này, người ta khó
có thể đoán được hồi sau và các hồi kế tiếp. Kim Dung có khả năng hư cấu tuyệt
vời, đẩy những mâu thuẫn lên đến đỉnh điểm khiến người đọc có cảm giác nhân vật
khó thoát khỏi tình huống bi kịch nhất. Nhưng rồi ông giải quyết vẫn đề một cách
hết sức khoa học, gọn nhẹ, hợp lý. Tình huống kết thúc một cách tốt đẹp, vượt
qua khỏi sự tưởng tượng của bao nhiêu bạn đọc. Ta hãy lấy một ví dụ trong Thiên
Long bát bộ. Trên bược đường giang hồ, Đoàn Dự đã gặp và yêu thương Chung Linh
là con của A Bảo, Mộc Uyển Thanh là con của Tần Hồng Miên, Vương Ngữ Yên là con
của Vương phu nhân. Mà những nhân vật A Bảo, Tần Hồng Miên, Vương phu nhân đều
là người tình của Đoàn Chính Thuần (cha Đoàn Dự). Nói cách khác, các cô gái mà
Đoàn Dự đem lòng thương yêu đều là em cùng cha khác mẹ của Đoàn Dự; những mối
tình của Đoàn Dự với các cô gái là mối tình loạn luân. Làm sao giải quyết được
những mâu thuẫn kinh khủng đó để cứu những mối tình trong trắng? Kim Dung giải
quyết khá tài tình. Trong phút cuối của đời mình, khi Đao Bạch Phụng, mẹ của
Đoàn Dự sắp qua đời, bà mới tiết lộ một điều kinh khủng: Đoàn Dự không phải là
con của Đoàn Chính Thuần mà là con của gã ăn mày Đoàn Diên Khánh. Bởi căm giận
thói trăng hoa lơi lả của Đoàn Chính Thuần, Đao Bạch Phụng đã đem tấm thân
vương phi cao quý của mình cho gã ăn mày Đoàn Diên Khánh giao hoan. Cuộc giao hợp
chớp nhoáng kì lạ đó đã đẻ ra chàng trai Đoàn Dự. Đoàn Chính Thuần không có cái
gien sinh con trai; con tư sinh của Đoàn Chính Thuần toàn là con gái. Và chỉ là
đồng tông (cùng họ) nên theo luật hôn nhân của nước Đại Lý, Đoàn Dự có thể lấy
tất cả các cô Chung Linh, Mộc Uyển Thanh, Vương Ngữ Yên... mà không cần phải thắc
mắc về quan hệ huyết thống, dòng tộc, luân lý đạo đức. Bản chất của tiểu thuyết
là hư cấu. Kim Dung dựa trên nền tảng những sự kiện lịch sử có thật của đất nước
Trung Hoa, đẩy khả năng hư cấu bay bổng tuyệt vời. Thí dụ trong Ỷ thiên Đồ long
ký, ông cắt nghĩa sự ra đời của nhà Minh là cuộc kháng chiến do quần hùng Minh
giáo Trung Hoa thực hiện. Thí dụ trong Thiên Long bát bộ, ông giới thiệu sự
tương tranh, tương giao của các thế hệ quân chủ nhà Tống, nhà Liêu, nước Đại
Lý, nước Thổ Phồn, nước Tây Hạ và tộc Nữ Chân. Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung có
một trình độ hư cấu rất cao cường, nối kết hàng trăm nhân vật lại với nhau
trong mối tương giao thật lạ lùng nhưng cũng thật hợp logic. Kế thừa thủ pháp của
các bậc tiền bối, tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung vẫn đưa ra những chi tiết có vẻ
hoang đường nhưng tính hoang đường ấy được đặt trên nền tảng cái có thật. Ta lấy
thí dụ nội công là khả năng có thật của người học võ. Nội công ấy được rèn luyện
nhiều năm, trở thành công lực riêng của từng người. Trên cơ sở đó, Kim Dung hư
cấu ra tình huống người này có thể dốc hết công lực để dồn vào cho công lực của
người khác; người khác có thể sư dụng môn hấp công để thu hút hết công lực của
địch thủ... Nếu các nhân vật Tây du ký đánh bằng phép thì nhân vật của Kim Dung
đánh bằng công lực. Một phát chưởng đánh ra giữa không gian, phát thành chưởng
phong bao lấy địch thủ, khiến địch thủ phải ngã quỵ, phải chịu thua. Đó là khả
năng hư cấu trong kiếm hiệp Kim Dung. Nếu phương Tây lãng mạn trong hành động
thì phương Đông lãng mạn trong tư duy. Tư duy trong tiểu thuyết võ hiệp Kim
Dung quả thật lãng mạn bay bổng: hái một chiếc lá, ném một cành hoa cũng có thể
giết chết địch thủ; phóng một ngón tay ra không trung (cách không chỉ pháp)
cũng có thể phong toả đúng huyệt đạo của người cần phong toả. Như tôi đã giới
thiệu, tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung được gọi là truyện, ký hoặc lục (Xạ
điêu anh hùng truyện, Ỷ thiên Đồ long ký, Thư kiếm ân cừu lục). Văn thể cơ bản
của tiểu thuyết Kim Dung là kể chuyện. Thế nhưng, cách kể chuyện của ông cũng rất
lạ, rất hấp dẫn bởi trong diễn biến của một câu chuyện đang được ông kể, ông
đưa vào đó một nhân vật mới và nhân vật này đã kể lại một câu chuyện đã xảy ra.
Câu chuyện ấy áo giá trị như một đoạn phục hiện trong điện ảnh (hay trong kịch
nói), nghĩa là nó đi ngược thời gian và thay đổi không gian, hấp dẫn người đọc
bước vào một thế giới khác với những tình huống khác mới lạ hơn, lý thú hơn.
Thí dụ trong Tiếu ngạo giang hồ, bọn hào sĩ đang bàn về sự giao du giữa Lệnh Hồ
Xung đệ tử Hoa Sơn và tên thái hoa dâm tặc Điền Ba Quang. Ai nấy đang tức giận,
nguyền rủa hai gã này thì ni cô Nghi Lâm của phái Hằng Sơn xuất hiện. Cô kể lại
câu chuyện mình bị Điền Bá Quang bắt cóc định làm nhục, được Lệnh Hồ Xung ra
tay cứu viện thế nào; La Nhân Kiệt của phái Thanh Thành nhân cơ hội Lệnh Hồ
Xung bị thương nặng đã giết chàng thế nào. Chuyện kể của Nghi Lâm hấp dẫn đến nỗi
dù các nhân vật không xuất hiện, người đọc vẫn thấy được đặc điểm, cá tính của
từng nhân vật, nhận ra ai là anh hùng, ai là tiểu nhân. Đọc Kim Dung, người ta
sảng khoái vì lối hành văn lạ lùng ấy. Điều lạ là khi cầm đến một tác phẩm của
Kim Dung; đọc chương đầu ta không thể bỏ được chương hai, đọc chương hai ta
không thể bỏ được chương ba. những tình huống tiểu thuyết của ông uyển chuyển,
phản trác, những loại nhân vật của ông không sống theo công thức bình thường của
đời người. Tiếu ngạo giang hồ là một tác phẩm tiêu biểu cho nhận định này. Đọc
chương một, chương hai, chương ba của tác phẩm này, ta thương cảm chàng thiếu
niên Lâm Bình Chi của Phước Oai tiêu cục lâm vào cảnh nhà tan, cửa nát, cha mẹ
bị bắt; phải tìm lên Hành Sơn để cứu song thân, cứu không được cha mẹ, chàng trở
thành đệ tử phái Hoa Sơn. Hết quyển thứ nhất, ta vẫn tưởng Lâm Bình Chi là nhân
vật trung tâm. Nhưng rồi Lệnh Hồ Xung dần dần hiện ta như một tên lãng tử vô hạnh,
một người có tấm lòng nghĩa hiệp cao cả. và người đọc bắt đầu có cảm tình, bắt
đầu yêu mến chàng trai đó. Hoá ra đó mới là nhân vật trung tâm của tác phẩm,
còn gã Lâm Bình Chi chỉ là một thứ nguỵ quân tử, một anh lại cái. Có thể coi đó
là hai khuôn mặt đại biểu cho cách xây dựng nhân vật của Kim Dung. Trong lối
văn chương kể chuyện, thi thoảng Kim Dung cũgn dừng lại tả cảnh, tả tình. Cách
tả tình của ông đặc biệt cô đọng, chủ yếu là đưa ra những nét chấm phá để người
đọc tự suy luận. Khi yêu Lệnh Hồ Xung, ngày nào Nhạc Linh San cũng giành đem
cơm lên núi sám hối cho chàng. Nhưng khi gần gũi Lâm Bình Chi, Nhạc Linh San
quên mất đại sư ca, say mê thằng mặt trắng này. Nhạc Linh San là người phương Bắc,
Lâm Bình Chi là người phương Nam. Lâm Bình Chi đã dạy cho Nhạc Linh San hát
khúc sơn ca Phúc Kiến. Mô tả tâm tình của Lệnh Hồ Xung, Kim Dung viết: "Nhạc
Linh San quay mình đi xuống núi, không nói một lời. Bỗng nhiên, giọng sơn ca
Phúc Kiến "chị em lên núi hái chè" vang lên. Lệnh Hồ Xung nghe khúc
sơn ca mà nát ngọc tan hồn, tưởng bị ai đánh mạnh một chuỳ vào ngực". Tác
giả dừng lại ở đó để bạn đọc hiểu thế nào thì hiểu. Cũng như tả tình, Kim Dung
tả cảnh với những nét chấm phá. Thí dụ mùa xuân: "Làn gió mát ru êm cành
liễu. Hương hoa thơm say đắm lòng người. Trời đang vào mùa xuân, ánh dương
quang chói lọi khắp miền Nam". Đây là cảnh xuân ở thành Phúc Châu, tỉnh
Phúc Kiến trong Tiếu ngạo giang hồ. Còn đây là cảnh Cung kiếm hồ ở núi Vô Lượng,
Vân Nam: "Bên trái sườn núi là giải thác lớn trắng phau trông như một con
rồng treo lơ lửng trên không cuồn cuộn đổ xuống một cái hồ trong vắt, rộng mênh
mông không thấy bờ bên kia... Trên mặt hồ, chỉ có chỗ thác đổ vào là nước chảy
quanh co, sóng vỗ bì bõm, càn xa hơn từ mười trượng trở đi lại phẳng phiu giống
như một tầm gương khổng lồ". Đọc Kim Dung, ta thấy phong cảnh thiên nhiên,
bao la, hùng vĩ, lãng mạn, tươi đẹp hiện ra bốn mùa: tuyết trắng phủ Thiên Sơn,
đàn hồng nhạn bay qua Nhạn Môn Quan, sông Tiền Đường sóng vỗ ầm ỳ, chùa Thiếu
Lâm ngàn năm nấp sau rừng tung cách sum sê, hoa hồng lăng nở rộ mặt Thái Hồ mùa
thu nước biếc... Có lẽ ông đi nhiều, thấy nhiều, biết nhiều nên kiến thức về địa
lý học, hóa học, phong tục học rất uyên bác. Ông viết về một thứ văn chương
giàu tính nghệ thuật, lôi cuốn, hấp dân khiến người ta đọc mà không thế chán.
Các học giả Trung Quốc đã tặng cho Kim Dung một huy chương tinh thần về cách sử
dụng kim văn để viết tiểu thuyết. Sự thành công của Kim Dung chính là sự thành
công của văn học Trung Quốc hiện đại.Ông được xếp vào một trong 10 nhà văn lớn
của dân tộc Trung Hoa và hai tác phẩm của ông được chọn là hai tác phẩm để đời
cho văn học Trung Quốc. Phải nhìn nhận một điều: tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung
là một loại hình tiểu thuyết khác hẳn với những tiểu thuyết viết về anh hùng
hào kiệt thời Minh - Thanh, khác hẳn với các loại tiểu thuyết võ hiệp của các
tác giả khác cùng thời, lại khác xa với Les trois mousquetaires (Ba chàng Ngự
lâm pháo thủ) của Alexandre Dumas (cha); càng khác xa với những kịch bản phim
cao bồi của Viễn Tây Hoa Kỳ. Nó là tiểu thuyết võ hiệp kim văn mới lạ. làm say
mê hàng tỷ độc giả trên thế giới, trong đó có độc giả Việt Nam. Sự đóng góp của
Kim Dung cho văn học Trung Quốc và thế giới như vậy là khá lớn lao. Ông xứng
đáng là minh chủ của nền văn học võ hiệp.
Kim Dung đặt lại mấy vấn đề lịch sử
Một tác phẩm văn học
không bao giờ là một tác phẩm sử học. Tác phẩm văn học được viết bởi nhà văn;
tác phẩm sử học được viết bởi những sử quan mà đời Hán gọi là Thái sử lệnh. Tác
phẩm văn học được xây dựng từ những khả năng hư cấu lãng mạn; tác phẩm sử học dựa
trên những sự kiện lịch sử cụ thể. Tuy nhiên, nếu biết vận dụng khéo léo, đưa
những yếu tố lích sử vào tác phẩm văn học thì tác phẩm văn học hấp dẫn hơn,
hoành tráng hơn và hiện thực hơn. Đó là đặc điểm của một số bộ tiểu thuyết võ
hiệp Kim Dung. Ông đã đưa yếu tố lịch sử vào văn học và vượt xa hơn, ông dùng tác
phẩm văn học để đặt lại một số vấn đề lịch sử. Ai cũng hết lời ca ngợi Chu
Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương, tức Minh Thái tổ, làm vua Trung Hoa từ năm
1368 đến năm 1398, được coi là người anh hùng của phong trào kháng Nguyên, người
có công bậc nhất thiên hạ giành lại đất nước Trung Hoa từ tay Di Dịch. Thế
nhưng, qua Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Dung đã buộc người đọc phải nhìn lại đúng bản
chất của Chu Nguyên Chương. Xuất thân từ nông dân, Chu Nguyên Chương đã nhân
lúc An Huy đói kém, nổi lên làm giặc cướp rồi đi tu ở chùa Hoàng Giác. Ăn cướp
một con bò của một nhà giàu làm thịt nấu ăn, bị người nhà giàu sai hai gia nhân
đi bắt, Chu Nguyên Chương đã dùng vũ lực bóp miệng hai gia nhân buộc họ phải ăn
lông bò. Thủ đoạn vu oan giá hoạ như vậy không phải ai cũng có thể làm được.
Chu Nguyên Chương gia nhập Minh giáo (Manichéisme) Trung Hoa, lãnh đạo đội quân
Hoài Tứ. Trước khi cuộc khởi nghĩa Minh giáo thành công, Chu Nguyên Chương giết
thủ lĩnh của mình là Hàn Sơn Đồng, trấn nước con trai là Hàn Lâm Nhi để nắm quyền
lãnh tụ. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Dung đã mô tả đoạn nghĩa quân Minh giáo
đón Trương Vô Kỵ giáo chủ, đoạn Chu Nguyên Chương tạ ơn giáo chủ đã khen ngợi
mình. Thế nhưng, chính thuộc hạ Chu Nguyên Chương đã bỏ thuốc độc vào bình rượu
cho Vô Kỵ và Triệu Mẫn uống rồi xiềng khoá hai người, giam vào đại lao. May còn
được thanh Ỷ thiên gãy, Vô Kỵ đã chặt xiềng, dẫn Triệu Mẫn lặng lẽ ra đi... Con
người thủ đoạn, phản bạn, bất trung với cấp trên như vậy đã lên làm vua khai
sáng triều Minh ở Trung Hoa. Về sau, để bảo vệ cho quyền lực họ Chu, Nguyên
Chương đã tận sát hết các chiến hữu từng cùng ông ta vào sinh ra tử. Ông ghét
văn chương đến nỗi chỉ cần đọc một chữ nghi ngờ có ý giễu mình là ông giết ngay
người viết. Trong Thiên Long bát bộ, Kim Dung lại cho ta thấy được tư cách của
một ông vua Trung Hoa khác - Tống Triết tôn Triệu Hú. Để làm nổi bật tính cách
lấc cấc, huyênh hoang của Triệu Hú, Kim Dung đã xây dựng một nhân vật Hoàn Nhan
A Cốt Đả, thủ lĩnh kiêu dũng của bộ lạc Nữ Chân ở miền Đông Bắc; một Đại Liêu
hoàng đế Gia Luật Hồng Cơ thâm trầm, sắc sảo bên kia Nhạn Môn quan, một nước
Tây Hạ thịnh vượng ở phía Tây, một nước Đại Lý quân thần như huynh đệ ở phía
Nam. Triệu Hú lên ngôi năm 8 tuổi, được bà thái hậu họ Cao nhiếp chính. Vào khoảng
năm 1090 đến năm 1093, những biến pháp của Vương An Thạch (phe Tân đảng) đã gần
như phá sản, Cao Thái hậu áp dụng tư tưởng cai trị mềm dẻo của phe Cựu đảng gồm
Tư Mã Quang, Tô Thức, Tô Triệt. Cách trị nước của Cao Thái hậu vững vàng, ôn
hoà khiến quân Liêu không dám đưa binh qua biên giới gây hấn với nhà Tống. Tể
tướng nước Liêu dâng sớ lên Gia Luật Hồng Cơ, ca ngợi: "Từ khi thái hậu Đại
Tống buông rèm nghe chính sự, chiêu nạp trung thần, bài trừ chính trị hà khắc,
trong chín năm trời thiên hạ yên vui, triều đình hưng thịnh". Trong khi
đó, Triệu Hú chỉ muốn áp dụng biện pháp của phe Tân đảng Vương An Thạch để gây
chiến tranh với nước Liêu. Kim Dung thuật lại đoạn thái hậu bệnh nặng, nằm
trong điện Sùng Khánh thành Biện Lương, kêu Tống Triết Tôn Triệu Hú đến dặn dò.
Gã vua con nít này chỉ muốn kích động cho bà nội chết sớm; hắn bảo sẽ đem quân
Bắc phạt, sẽ trừng trị bon "hủ nho" Tư Mã Quang, Tô Thức, Tô Triệt. Hắn
rút kiếm chém chiếc ghế đứt làm hai đoạn trước mắt bà nội. Khi bà già tắt thở,
hắn reo lên: "Ta đã được làm vua rồi". Theo chính sử Trung Hoa thì đó
là năm 1093, khi Triệu Hú 18 tuổi. Quả nhiên, Triệu Hú giáng Tô Thức từ Lễ bộ
thượng thư xuống làm tri phủ Định Châu, giáng Tể tướng Tô Triệt xuống làm tri
phủ Nhữ Châu; mắng Hàn lâm học sĩ Phạm Tô Vũ khi người này dâng bản tấu can
gián. Một thứ hôn quân như Tống Triết Tôn mà có thể cai trị được đất nước Trung
Hoa quả là một chuyện lạ. Triệu Hú chết năm 1099, em ruột lên ngôi xưng là Huy
Tôn. Cái lẽ bại vong của nhà Tống không phải đợi đến sau này mà nó nằm ngay
trong đời Triệu Hú, trong Thiên Long bát bộ của Kim Dung. Đoạn văn Triệu Hú chọc
cho bà nội chết sớm thật lâm li biến ảo, không thể tìm thấy trong Tống sử hay lịch
sử Trung Hoa. Kim Dung không bình luận, nhưng bản chất Tống Triết Tôn Triệu Hú
như thế nào thì mọi người đọc văn ông đều rõ. Kim Dung viết Lộc Đỉnh ký là một
cách đối chiếu lịch sử, giúp cho hàng tỷ đồng bào của ông có cơ hội nhìn lại
các ông vua của triều Minh - dòng dõi Hán tộc và các ông vua triều Thanh - dòng
dõi Di Địch trong bốn rợ (Tứ di). Hình ảnh của vua Minh Sùng Trinh không hiện
ra; hình ảnh của những ông vua hậu duệ nhà Minh như Phúc vương, Quế vương, Đường
vương, Lỗ vương cũng không hiện ra. Nhưng cảm giác mà Kim Dung tạo ra được cho
người đọc là sự nhận chân ra bản chất triều Minh: những ông vua u tối, nhu nhược,
không được người Trung Hoa ủng hộ. Đúng ra, có một số ít người theo họ nhân
danh chữ trung của nhà nho. Nhưng bản thân chữ trung đó cũng ngu xuẩn nốt: phe
thì ủng hộ Đường, phe thì ủng hộ Quế, phe nào cũng chỉ nhận mình mới là chính thống.
Điều đó nói lên được thực chất của các phong trào phản Thanh phục Minh cuối thế
kỉ 17 ở Trung Hoa: những lực lượng ô hợp, không nêu lên được một khẩu hiệu rõ
ràng, một ngọn cờ chính thống. Đối lập với họ là một ông vua con Khang Hy thông
minh, tài trí, đức độ. Con người xuất thân từ dòng dõi Di Địch đó đã biết chia
rẽ các lực lượng chống đối, áp dụng thủ pháp có nhu có cương để cai trị thiên hạ,
thể hiện lòng nhân từ và tư tưởng đại đoàn kết để thu phục nhân tâm. Nhà vua
thiếu niên đọc thật kĩ sử sách Trung Hoa, rút ra những bài học lâm sàng từ những
ông vua hôn ám để tránh, đi theo cái vương đạo mà bậc đại học đã đi. Đối với
quân Mông Cổ, Tây Tạng, Nga La Tư, nhà vua có đối sách ngoại giao rõ ràng.
Chính vì vậy khi Ngô Tam Quế dựng lên chiêu bài "hưng Minh thảo Lỗ" ở
Vân Nam, phát hịch kể tội nhà Thanh và Khang Hy thì không có lực lượng nào của
người Trung Quốc ủng hộ Ngô Tam Quế cả. Kim Dung là một nhà văn chứ không phải
là một nhà sử học. Cách đặt lại vấn đề lịch sử trong tác phẩm của ông cũng rất
văn học: không cay cú kết án, không hồ hởi ca ngợi. Ông chỉ nhẹ nhàng trình bày
sự kiện người đọc nhân ra quan điểm cá nhân của ông. Nhiều khi, tôi kinh ngạc
khi đọc đến những kiến giải uyên bác của Kim Dung về sử học. Thí dụ như đoạn
lung trong Lộc Đỉnh ký, khi Kim Dung mượn lời của Lữ Lưu Lương giải thích cho
con trai nghe về hai từ "trục lộc" (đuổi hươu). Con hươu ví với thiên
hạ, gồm có đất đai và dân chúng. Khương Thái Công tâu với Văn Vương: "Lấy
thiên hạ như đuổi bắt con hươu làm thịt chia nhau mà ăn. Có khi nhiều người
cùng ăn, có khi một người ăn hết". Ông dẫn lời trong Hán thư: "Nhà Tần
để sổng con hươu, thiên hạ tranh nhau bắt". Từ khái niệm "hươu"
(lộc), Kim Dung đưa ta qua khái niệm "vạc" (đỉnh). Đỉnh là cái vạc
cao, có ba chân, dùng để nấu thịt (hươu) mà ăn. Sau đó, người ta dùng đỉnh để
làm một hình cụ. Lịch Sinh bị Tề vương Điền Quảng bỏ vào vạc dầu luộc chín khi
Hàn Tín đánh vào Lâm Tri. Nối "lộc" và "đỉnh" lại có khái
niệm lộc đỉnh. Trong địa danh Trung Quốc, có núi Lộc Đỉnh ở miền bắc sông Hắc
Long, đọc theo âm Mãn Châu là Hô Mã Nhĩ Oa Tập Sơn. Kim Dung đã nắm tay độc giả
dẫn vào thế giới Lộc Đỉnh ký, bộ tiểu thuyết ông viết ra trong khoảng 1969 -
1972 tự nhiên như thế. Cách dẫn nhập từ khái niệm lịch sử vào thế giới tiểu
thuyết của Kim Dung không phải ai cũng làm được!
Kim Dung và ngôn ngữ xã hội
hóa
Người nhạc sĩ viết một ca khúc; ba bốn chục
năm sau, một người thưởng thức nào đó còn nhớ được một vài ca từ, nghêu ngao
hát lên là số phận ca khúc đó sống được trong lòng người. Một nhà thơ in cả
trăm bài, chỉ cần có người yêu thơ thuộc được một đoạn hay vài câu là thơ đã sống
được. Văn học, nghệ thuật là những sản phẩm tinh thần dành cho đám đông. Trong
quá trình giao thoa giữa tác giả và người thưởng thức, một số câu, chữ, từ ngữ
đặc biệt của tác phẩm đi luôn vào lòng người. Tác phẩm như vậy đã là thành công
rồi. Còn ngôn ngữ văn chương tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đối với người Sài
Gòn, người miền Nam thì sao? Khi tác phẩm Ỷ thiên Đồ long ký được Tiền Phong Từ
Khánh Phụng dịch với tựa đề Cô gái Đồ long, Nhà xuất bản Trung Thành in và phát
hành năm 1966 thì bốn chữ “Cô gái Đồ long” đã trở thành một câu hát: Có cô gái
Đồ long lắc bầu cua Lắc một cái ra hai con gà mái… Trẻ con khắp hang cùng ngõ hẻm
hát, người lớn cũng hát trong những dịp Tết chơi lắc bầu cua. Ngôn ngữ văn học
tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung đã được xã hội hóa một cách rộng rãi đến bất ngờ.
Tôi rất hiểu có nhiều người không biết “Đồ long” là gì nhưng họ vẫn hát: “Có cô
gái Đồ long lắc bầu cua…”. Mà cần gì phải biết, hễ cao hứng thì cứ hát. Gần như
từ giai đoạn đó trở đi, một số từ ngữ trong văn chương của Kim Dung ngày càng
được xã hội hóa tại Sài Gòn và miền Nam theo sự xuất hiện của các bản dịch tiểu
thuyết võ hiệp Kim Dung trên báo chí. Khái niệm “Tẩu hỏa nhập ma” được Kim Dung
nhắc đến trong nhiều tác phẩm để chỉ một trạng thái nguy kịch có thể dẫn đến
cái chết, sự điên loạn hoặc sự tê liệt hoàn toàn của một người luyện nội công
sai đường. Như trong Hiệp khách hành, Cẩu Tạp Chủng (Thạch Phá Thiên) vừa có nội
công Hàn ý miên chưởng (công phu chí âm của bà mẹ nuôi Mai Phương Cô truyền
cho) vừa luyện Viêm viêm công (công phu chí dương của Tạ Yên Khách chỉ điểm). Đến
lúc tối hậu, hai luồng chân khí âm dương đối địch nhau, mặt chàng lúc đỏ như
say rượu, lúc xanh như xác chết trôi. Chàng ngã lăn trên phiến đá, giãy đành đạch
mấy cái rồi nằm im, hơi thở mỏng như tơ… Đó là trạng thái tẩu hỏa nhập ma. Giới
trí thức và giới sinh viên thời ấy dùng phổ biến cụm từ này. Thí dụ “Thằng ấy
đang tẩu hỏa nhập ma” có nghĩa là thằng ấy đang… khùng. Những tiếng chửi tục của
bọn hào sĩ giang hồ trong Tiếu ngạo giang hồ được dân sinh viên thời ấy “mượn”
tối đa. Tác phẩm có thuật chuyện bọn môn đệ Tung Sơn bị Lệnh Hồ Xung đâm mù mắt
đã dụ quần hùng lọt vào hậu động Hoa Sơn, bít cửa động lại rồi giết họ. Bọn
chúng có câu ám ngữ “Cút con bà mày đi” để nhận ra nhau là đồng bọn. Lệnh Hồ
Xung cũng học được câu chửi ấy nên mới tự giữ mình được. Dân sinh viên dùng câu
ám ngữ này như một… lời chào. Hai anh bạn gặp nhau, vừa mời nhau điếu thuốc, vừa
“Cút con bà mày đi”. Báo là nơi in tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung trước tiên cho
nên giới nhà báo cũng là những người được đọc Kim Dung kỹ và đầy đủ hơn mọi người.
Từ say mê feuilleton, họ say mê luôn các nhân vật và dùng luôn tên các nhân vật
làm bút danh cho mình. Ông Lê Tất Điều ký bút danh Kiều Phong, ông Nguyên Sa ký
bút danh Hư Trúc, ông Chu Tử ký bút danh Kha Trấn Ác. Những bút danh Tiểu Siêu,
Du Thản Chi… lần lượt xuất hiện trên báo chí. Một số những nhân vật khác của
Kim Dung cũng được “mượn” họ tên để biểu hiện cho tính cách con người. Kẻ đạo đức
giả, có thủ đoạn lừa mị thì bị gọi là “Nhạc Bất Quần”. Kẻ hay ton hót, nịnh nọt
thì bị gọi là “Vi Tiểu Bảo”. Những danh từ riêng ấy qua tác động xã hội hoá, trở
thành danh từ chung ám chỉ một loại người. Điều ngộ nghĩnh là các ông nghị, bà
nghị trong lưỡng viện Sai Gòn trước đây cũng hay sử dụng các “thuật ngữ” này để
thoá mạ nhau khi đấu khẩu trước diễn đàn hay phát biểu trước công luận. Nhiều từ
ngữ khác trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung thâm nhập đời sống một cách tự nhiên.
Những người ăn xin thì được gọi là “Cái bang”, nhà giáo đánh học sinh một cái bạt
tay được gọi là đánh một “chưởng”. Khái niệm “chưởng” được mở rộng ra để chỉ tất
cả các loại phim quyền cước do Hongkong, Đài Loan sản xuất: Phim chưởng. Chữ
“chiêu” được sử dụng rộng rãi nhất: “ra phố dạo mấy chiêu”, “cầm cơ bi da đánh
một chiêu”, “anh đừng giở cái chiêu ấy ra với tôi”… Ngữ nghĩa chữ “chiêu” càng
ngày càng được mở rộng đến nỗi nó… vượt xa tầm tay của Kim Dung. Người nhỏ tuổi
gọi người lớn tuổi là “Sư phụ”, sếp cơ quan được nhân viên gọi là “Trưởng lão”,
từ chối một chức vụ hay xin hưu thì gọi là “rửa tay gác kiếm”, cầm bút viết lại
thì gọi là “tái xuất giang hồ”. Nhưng chưa có chữ nào được xã hội hoá rộng nhất
như chữ “Ma giáo”. Trong tiểu thuyết của mình, Kim Dung hay nhắc đến Ma giáo,
phát xuất từ chữ Manichéisme (Bái hỏa giáo, Minh giáo). Người Trung Hoa phiên
âm là Ma Ni giáo, gọi mãi, người ta lượt bỏ chữ Ni để chỉ còn Ma giáo. Đi vào
xã hội Việt Nam, chữ “ma giáo” (không viết hoa) dùng để chỉ đặc điểm của một
người có hành vi lật lọng, phản bội, xấu xa: “Anh đừng có chơi ma giáo với
tôi”, “ông ấy làm ăn rất ma giáo”, “con người ma giáo ấy chẳng được ai ưa”. Có
thể người ta quên mất nhiều câu chuyện được kể trong tiểu thuyết võ hiệp của
Kim Dung. Có thể người ta quên sạch các chương hồi, các tình huống, các nhân vật.
Thế nhưng, một số từ ngữ đặc biệt trong văn chương tiểu thuyết võ hiệp của ông
được xã hội hóa, đi vào cuộc sống thì vẫn còn mãi trong văn nói của người Sài
Gòn, người miền Nam. Tuỳ theo từng cách dùng, tuỳ theo từng thời điểm, ngữ
nghĩa của các từ, ngữ ấy có thể chuyển đổi một ít hoặc toàn bộ. Truyện Kiều của
Nguyễn Du để lại cho ngôn ngữ văn chương Việt Nam ta những tên Sở Khanh, mụ Tú
bà, máu Hoạn Thư… Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung cũng đem lại cho ngôn ngữ nói của
chúng ta một số từ, ngữ mới; làm phong phú thêm ngôn ngữ nói và mở rộng thêm được
một số khai niệm cần diễn đạt. Ở một chừng mực nào đó, ta có thể nói tác phẩm
tiểu thuyết võ hiệp của ông đã giao thoa đúng tần số với một bộ phận bạn đọc Việt
Nam. Đó cũng là một thành công lớn của người cầm bút về phương diện ngôn ngữ,
diễn đạt.
Hồn tính lãng mạn phương
Đông
Trong văn học Tây Phương,
chủ nghĩa lạng mạn (Leromantisme) được hiểu nhưng một trào lưu đến sau chủ
nghĩa cổ điển (Le classisme). Nếu chủ nghĩa cổ điển mang theo những quy ước có
tính bó buộc thì chủ nghĩa lãng mạn được hiểu như là một thái độ vượt qua các
quy ước, phá vỡ sự bó buộc để vươn tới sáng tạo. Lãng mạn, đúng như tên gọi của
nó, là những cơn sóng vỗ tràn bờ - những bến bờ cổ điển gò bó, chật hẹp. Phương
Đông không có chủ nghĩa lãng mạn nhưng từ nghìn xưa, hồn tính lạng mạn đã là bản
chất của tình yêu, của sự sáng tạo triết học, văn học, nghệ thuật Phương Đông.
Nếu phương Tây lãng mạn trong hành động thì phương Đông lãng mạn trong tư duy.
Biểu hiện của hồn tính lãng mạn có khác nhau, tạo ra phong cách khác nhau trong
sáng tạo văn học. Ta thử đi tìm hồn tính lãng mạn ấy trong tác phẩm văn học của
Kim Dung. Tác phẩm của Kim Dung là tác phẩm của tình yêu, của những bài tình ca
nồng thắm. Những lứa đôi trong tình yêu rất trẻ, thường là trên dưới đôi mươi,
như Trương Thuý Sơn với Hân Tố Tố; như Vô Kỵ với Triệu Minh (Ỷ thiên Đồ long
ký); như Hồ Phỉ với Miêu Nhược Lan (Tuyết Sơn Phi Hồ); như Lệnh Hồ Xung với Nhậm
Doanh Doanh (Tiếu ngạo giang hồ). Gần như những nhân vật nữ của ông yêu nhân vật
nam ngay từ cái nhìn đầu tiên, từ lần gặp gỡ đầu tiên. Kim Dung không hề nhắc đến
tiếng sét ái tình (coup de foudre). Nếu quan điểm tâm phân học của Sigmund
Freud cắt nghĩa tiếng sét ái tình không phải là một cảm xúc tình yêu đến bất chợt
mà là đã kinh qua một quá trình chiêm nghiệm, dung nạp và hồi ức những hình ảnh
tương tự thì có lẽ Kim Dung cũng để cho những nhân vật của mình kinh qua quá
trình tương tự như vậy. Hân Tố Tố yêu Trương Thuý Sơn ngay từ đầu vì cô từng
nghe Trương Thuý Sơn có ngoại hiệu là Ngân câu thiết hoạch, một nhà thư pháp
chính cống, mà cô lại yêu thư pháp. Doanh Doanh yêu Lệnh Hồ Xung ngay sai khi
nghe chàng trai thổ lộ nỗi đau tình trước sự phụ bạc của Nhạc Linh San vì cô
tin rằng kẻ nào không chung thủy với quá khứ thì không chung thủy với hiện tại
và tương lai. Những trải nghiệm tương tự như vậy trở thành một thứ vô thức tập
thể lắng đọng ngàn đời trong tâm hồn nhân loại và các nhân vật của Kim Dung
cũng không thể vượt qua ngoài vô thức tập thể đó. Bởi vì họ là một nhân loại
thu gọn. Vâng, những người tình trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung là những
con người lãng mạn. Họ lãng mạn đến nỗi họ vững tin rằng tình quân sẽ vượt ngàn
dặm quay về với họ như lời hứa trước khi ra đi. Thủy Sinh trong Tố tâm kiếm, A
Châu trong Thiên Long bát bộ phận gái dặm trường, bỏ Trung Nguyên ra vũng băng
tuyết Quan Ngoại hay Nhạn Môn quan để chờ người yêu trở lại. Và những người anh
hùng Địch Vân, Kiều Phong cũng là những người tình lãng mạn. Quả nhiên họ tìm về
nơi cũ, quả nhiên họ nhìn thấy người tình đứng trong tuyết trắng chờ họ về. Hồn
tính lãng mạn miên man tình ý nhưng hành động lãng mạn chấm dứt ở đó. Không ai
ôm nhau, hôn nhau, quấn quít lấy nhau. Đi tới một bước nữa, dù chỉ một bước ngắn,
cũng rất phàm tục. Mà tình yêu trong tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung thì không
phàm tục chút nào. Ta hãy nói về một phạm vi khác, phạm vi võ thuật. Trên đỉnh
Quang Minh giữa núi Thiên Sơn, Trương Vô Kỵ dùng một cành mai xuân đấu với đao
kiếm của Chính - Phản Lưỡng nghi đao pháp, kiếm pháp. Giữa rừng đao núi kiếm
tràn đầy sát khí hào quang, cành mai chính là biểu tượng của sự sống, của cái đẹp,
của lòng nhân ái. Đấu với đao kiếm là mai không rụng một bông, cái hồn tính
lãng mạn quả đã được Kim Dung chắp cho đôi cánh bay bổng tuyệt vời. Ta hãy nói
đến đường Độc cô cửu kiếm của Lệnh Hồ Xung. Nguyên tắc cao nhất của võ thuật là
tiên phát chế nhân (phóng chiêu ra trước thì kiềm chế được người). Cả một đường
Độc cô cửu kiếm chỉ có công mà không có thủ, bởi vì người kiếm sĩ không sử
chiêu thức mà sử kiếm ý; ý muốn phóng kiếm đến đâu, kiếm theo đến đó, ung dung
nhẹ nhàng như nước chảy mây trôi. Đường kiếm đó chính là hồn tính lãng mạn
trong triết học của Trang Tử; nó phảng phất, mênh mông và bất khả tư nghị. Những
hào sĩ giang hồ của Kim Dung vốn là bọn ham vui. Họ sống thành băng, nhóm, đảng,
động; khi họ họp với nhau, Kim Dung gọi họ là quần hào, quần hùng. Thế nhưng
trong đám đông đảo đó, thỉnh thoảng vẫn có những người tự tách mình ra sống ẩn
dật như một nhà hiền triết. Phong Thanh Dương sống một mình trong hậu động Hoa
Sơn, Hoàng Dược Sư sống một mình trên đảo Đào Hoa, Trương Vô Kỵ sống một mình
trong hang núi, Tiểu Long Nữ sống một mình trong Cổ Mộ đài… là nhưng nhà hiền
triết như vậy. Họ chọn một thái độ sống rất lãng mạn: quay về với thiên nhiên,
sống giữa thiên nhiên, hái hoa quả trên rừng, bắt ếch cá bên suối làm thức ăn.
Hoàng Dung săn bắn nuôi Quách Tỉnh, Doanh Doanh bắt ếch nướng cho Lệnh Hồ Xung
ăn… đơn giản là thái độ trở về với thiên nhiên. Cái mà họ muốn vượt qua là lễ
giáo thế tục; cái mà họ muốn đạt được là tinh thần tự do tuyệt đối. Giữa rừng
xanh, họ đánh đàn, đánh cờ, nghe thác chảy, nhìn mây trôi, xa lánh chốn giang hồ
hiểm ác man trá. Còn lối sống nào hiền triết hơn và minh triết hơn? Lục hợp chi
nội, thánh nhân tồn nhi bất luận, Lục hợp chi ngoại, thánh nhân tồn nhi bất nghị.
Tiên vương chi chí, Xuân Thu kinh tế, thánh nhân tồn nhi bất biện. (Việc trong
trời đất, thánh nhân biết rồi nhưng không bàn đến, Việc ngoài trời đất, thánh
nhân biết rồi nhưng không nghĩ đến. Chí của các bậc tiên vương, cách kinh bang
tế thế thời Xuân Thu, bậc thánh nhân biết rồi nhưng không giải thích). Những
nhân vật minh triết của Kim Dung quả rất gần gũi với khái niệm “thánh nhân” mà
Khổng Tử ca ngợi. Nhân vật của Kim Dung luôn hướng về tự do. Lệnh Hồ Xung học
kiếm pháp Hoa Sơn với Nhạc Bất Quần, một cái nhấc chân hay một cái cất tay đều
đúng bộ vị, thước tấc. Cho đến khi nhân vật này được học kiếm pháp với Phong
Thanh Dương, lãnh hội ý nghĩa sâu sắc trong lời dạy của lão: “Người sử kiếm chứ
không phải kiếm sử người, cứ như nước chảy mây trôi mà sử kiếm” thì hắn mừng
như điên. Ấy bởi vì Lệnh Hồ Xung biết mình đang tiếp cận với tự do, cái tự do
mà một tên lãng tử vô hạnh như hắn cần phải có. Khi hắn yêu Nhạc Linh San thì
tình yêu đó nhắc hắn nghĩ tới công danh, địa vị sau này. Nhạc Linh San là con một,
Nhạc Bất Quần không có con trai; sau này khi lão trăm tuổi, ngôi vị chưởng môn
chắc chắn sữ được trao lại cho Lệnh Hồ Xung. Nhưng làm chưởng môn pháo Hoa Sơn
hay tự do ngao du, tiếu ngạo giang hồ là khoái hoạt hơn? Lệnh Hồ Xung chọn cái
thứ hai. Đến khi gặp Nhậm Doanh Doanh, nhân ra ở cô gái này tinh thần yêu tự do
tuyệt đối thì hắn mới thật sự tìm ra nguồn hạnh phúc cho đời sống. Khúc Tiếu ngạo
giang hồ là một khúc hoà tấu tự do, trong tay Khúc Dương và Lưu Chính Phong
nghe ra vẫn còn chất binh đao sát phạt, buồn lo uất hận nhưng trong tay Doanh
Doanh và Lệnh Hồ Xung thì ấm áp xuân tình, hoà bình trung chính. Chính trạng
thái tự do hay mất tự do của tinh thần đã quyết định bản chất của điệu thức, của
âm thanh. Kim Dung nói về tự do một cách say mê, đặc biệt là phần hậu ký của bộ
Tiếu ngạo giang hồ do Minh Hà xã, Hongkong in tháng 9 năm 1997. Ông dành hậu ký
này bàn về nhân tính, bàn về tự do. Cái tự do của ông quan niệm rất gần gũi với
cái tự do của TrangTử trong Nam hoa kinh, lãng mạn và tuyệt đối. Cuối bộ Tiếu
ngạo giang hồ, ông để cho Lệnh Hồ Xung từ chức chưởng môn phái Hằng Sơn; Doanh
Doanh không làm giáo chủ Triêu Dương thần giáo; hai người dắt tay nhau tiếu ngạo
giang hồ. Cuộc sống tự do hấp dẫn họ hơn mọi quyền lực. Đúng ra, đứng trên đỉnh
cao quyền lực, họ cũng được tự do hành động nhưng bản chất hành động ấy luôn hướng
về một mục đích, nghĩa là họ không còn được hành động một cách tự do nữa. Tự do
chính là tâm thức lãng mạn cao nhất trong tư tưởng phương Đông. Đạo Không đưa
con người đi đến chỗ hiền triết thánh nhân, đạo Phật đưa con người đi đến chỗ
giải thoát, Lão-Trang đưa con người đến chỗ vô vi. Hiền triết thánh nhân, giải
thoát, vô vi là những khát vọng lãng mạn và độc đáo, Chính những khát vọng ấy
làm nên hồn tính lãng mạn trong tác phẩm Kim Dung. Điều này rất rõ là khi cầm một
tác phẩm Kim Dung lên, đọc mấy chương đầu, ta bỗng nghe lòng thư thái, nhẹ
tênh, không còn những vương vất ưu tư từ cuộc sống tác động vào. Đó là gì? Đó
chính là sự giải thoát, là tâm trạng cảm thấy mình đang được tiếp cận với tự do
dù trong giây phút ngắn ngủi của đời người! Những ông thần si tình
Tâm lý học hiện đại định
nghĩa: “Đam mê là một tình cảm mãnh liệt, hướng chủ thể tới một đối tượng duy
nhất và làm khô héo những tình cảm khác”. Chắc hẳn Kim Dung đã nghiên cứu, thẩm
thấu, nhập tâm định nghĩa này. Và rõ ràng, trong tác phẩm văn học của ông, tính
cách đặc thù của những nhân vật đam mê tình yêu hiện ra lồ lộ. Tôi gọi những nhân
vật ấy là những ông thần si tình. Họ là những “ông thần” bởi cách thể hiện trạng
thái si tình của họ vượt xa các trạng thái si tình của người thường, vượt xa những
nhân vật trong tiểu thuyết tình cảm kim cổ. Đối với họ, si tình trở thành một
tôn giáo và đối tượng trở thành giáo chủ. Có thể đề cập đến Đoàn Dự (Thiên Long
bát bộ), vương tử nước Đại Lý, thấm nhuần Nho học và Phật học, như là biểu tượng
thượng thừa si tình. Rời Vân Nam, chàng trai này phiêu bạt đến Cung Kiếm hồ,
núi Vô Lượng. Tại đây, chàng gặp hoạn nạn, phải trốn xuống hồ, lại bị thác nước
cuốn vào trong một thạch thất (nhà đá). Nhìn thất một pho tượng tạc hình một
thiếu nữ, Đoàn Dự đã há miệng, líu lưỡi, say mê ngay. Lạ lùng là những rung động
đầu đời, tiếng sét ái tình đầu đời của Đoàn Dự không dành cho một thiếu nữ bằng
xương bằng thịt mà lại dành cho một pho tượng. Đoàn Dự đã gọi pho tượng ngọc bằng
“Thần tiên nương tử” (cô gái thần tiên) và đối với pho tượng, anh chàng si tình
này ngàn lần lễ phép, kính ngưỡng. Chẳng vậy mà dù trong thạch thất có hàng chữ
“giải y nãi kiến” (cứ cởi áo ra là thấy ngay), Đoàn Dự vẫn không dám cởi chiếc
áo gấm của pho tượng. Chàng trai chăm chỉ cúi đầu lạy pho tượng ngọc và càng lạy
thì chiếc chiếu dưới chân càng chuyển động, để lộ ra một “cơ quan”: 3 mũi tên đồng
xanh. Ý nghĩa của 3 mũi tên này là nếu ai bộp chộp, sàm sỡ cởi áo pho tượng ngọc
thì sẽ đạp trúng cơ quan, 3 mũi tên đồng sẽ giết chết người ấy ngay trước khi
người ấy kịp hiểu ra những võ công bí ẩn trong thạch thất. Đoàn Dự không tiết mạn
pho tượng, không ham võ công, chỉ say mê nhan sắc của pho tượng nên đã vượt qua
được cái bẫy chết người ấy. Chàng trai chỉ học trong thạch thất một môn công
phu để…chạy trốn kẻ địch. Đó là môn Lăng Ba vi bộ, mô phỏng bước chân nhẹ
nhàng, thanh thoát của nàng tiên Lăng Ba trong thần thoại Trung Quốc. Quả nhiên
về sai, nhờ có Lăng Ba vi bộ, Đoàn Dự thoát được nhiều tình huống nguy hiểm đến
tính mạng. Cho hay, si tình cũng được việc. Về sau này, Đoàn Dự say mê Vương Ngữ
Yên vì tìm thấy ở Vương Ngữ Yên những đường nét dịu dàng của “Thần tiên nương tử”.
Tất nhiên Vương Ngữ Yên đánh giá Đoàn Dự như một anh chàng si ngốc; cô chỉ yêu
biểu ca Mộ Dung Phục của cô. Nhưng cô đi đến đâu, Đoàn Dự vẫn lẽo đẽo đi theo.
Thậm chí giữa rừng đao núi kiếm của quân Tây Hạ, Đoàn Dự cũng mò đến để dặn cô:
“Vương cô nương, nếu có việc nguy nan, xin cho tiểu sinh cõng cô nương chạy trốn
nhé”. Ấy là Đoàn Dự cậy vào môn công phu Lăng Ba vi bộ ảo diệu của mình. Rồi cuối
cùng tình cảm chân thành của ông thần si tình Đoàn Dự cũng được Vương Ngữ Yên đến
đáp. Chẳng những lấy được Vương Ngữ Yên, Đoàn Dự còn lấy Mộc Uyển Thanh, Chung
Linh. Ấy bởi vì Đoàn Dự lên ngôi hoàng đế nước Đại Lý, mà hoàng đế thì có quyền
có đến… tam cung lục viện! Thiên Long bát bộ cũng có một nhân vật si tình thượng
thừa là Du Thản Chi. Du Thản Chi là con trai của Du Ký, cháu của Du Câu ở Tụ Hiền trang, Giang Nam. Sau khi cha và bác bị giết, Du Thản
Chi phiêu bạt giang hồ, bị quân Khiết Đan bắt được đưa qua biên giới làm “chiến
lợi phẩm”. Du Thản Chi căm thù Kiều Phong đến tận xương tuỷ vì Kiều Phong giết
cha và bác của hắn nhưng hắn lại say mê A Tử, em vợ Kiều Phong ngay từ cái nhìn
đầu tiên. Tâm trạng của Du Thản Chi khi gặp A Tử được miêu tả là “tim đập, chân
run, nói không ra lời”. A Tử, cô gái mới 16 tuổi, đối xử với tù binh là Du Thản
Chi 17 tuổi bằng những thủ đoạn cực kỳ tàn độc. Ngay ngày đầu tiên mang Du Thản
Chi về, cô đã cho gã đi “diều giấy”: sai quân Khiết Đan cưỡi ngựa ném gã lên
không gian rồi cứ vậy mà “phóng” gã, không cho gã rơi xuống đất để làm vui cho
cô. Cô lại cho quân dong gã vào dây rồi phóng ngựa chạy cho thân thể gã bầm dập
đau đớn như ngàn côn đánh đập, như muôn trượng lửa hồng. Ấy vậy mà khi tỉnh lại,
gã vẫn quỳ xuống hôn bàn chân của cô, liếm láp từng ngón chân cô để bày tỏ lòng
tôn kính. Nhìn một cách nào đó thì Du Thản Chi là một biểu tượng của trạng thái
khổ dâm. Du Thản Chi không chết. Một ông thần si tình thì làm sao chết được?
Kim Dung quả thật bất công khi kéo dài những đau đớn trong đời Du Thản Chi. A Tử
sai thợ rèn khéo tay làm một mặt nạ sắt, nướng đỏ ráp lên đầu Du Thản Chi biến
gã thành tên Thiết Sửu (thằng hề bằng sắt). Để thử nghiệm “công trình” của
mình, cô buộc gã phải đút đầu vào miệng sư tử cho sư tử cắn xem chơi. Cũng nhờ
cái mặt nạ sắt ấy mà Tiêu Phong không nhìn ra được Du Thản Chi, còn Du Thản Chi
thì thoải mái nhìn Tiêu Phong với ánh mắt rực lửa căm hờn bởi Tiêu Phong đã từng
là kẻ thù giết cha, giết bác của gã và gã biết A Tử rất mê Tiêu Phong. Du Thản
Chi si tình A Tử đến nỗi gã sẵn sàng chết vì A Tử. Gã tình nguyện cho con Hàn tầm
trên núi Tuyết Sơn hút máu để A Tử luyện công. Gã xông pha cứu A Tử, chống lại
thầy mình là Đinh Xuân Thu để chịu làm kẻ bất trung, bất nghĩa. Khi A Tử đui
hai mắt, gã mượn được lưỡi thủy thủ chém sắt như chém bùn để tự tháo cái lồng sắt
trên đầu mình ra, trở thành một người mặt quỷ, xưng là Trang Tụ Hiền, đi theo
bao bọc A Tử. Gã tình nguyện hiến đôi mắt của mình cho “thầy thuốc” Hư Trúc đem
ráp vào hố mắt A Tử để A Tử sáng trở lại còn gã cam chịu phận đui mù. Gã say mê
A Tử chỉ để mà si mê, không vì một lý do nào khác, kể cả lý do tình dục. Cuối
cùng, khi Tiêu Phong chết, A Tử móc đôi mắt trả lại cho Du Thản Chi rồi bồng
Tiêu Phong rớt xuống thung lũng sâu ngoài Nhạn Môn Quan. Và gã cũng đi theo…
Cách si tình của Du Thản Chi ngu hơn Đoàn Dự rất nhiều. Chính Đoàn Dự cũng kính
“bậc thầy” Du Thản Chi khi Đinh Xuân Thu bắt được A Tử, buộc gã phải quay lại
khiêu chiến với quần hùng tụ tập trên núi Tung Sơn phái Thiếu Lâm thì lão mới
tha chết cho A Tử. Gã sẵn sàng làm mọi thứ: lừa thầy, phản bạn, giết bất cứ người
nào. Làm bất cứ việc gì thương luân bại lý vì A Tử. Cho nên nếu goi Đoàn Dự là
phó tiến sĩ si tình thì phải phong cho Du Thản Chi là tiến sĩ si tình mặc dù
không có một đại học nào cấp bằng cho các tay si tình dại gái. Tôi có thể kể ra
hai viên cử nhân si tình khác trong Lộc Đỉnh ký. Nhân vật đầu tiên là Vi Tiểu Bảo,
khi mới gặp A Kha, hắn đã thề một câu rất kì quái rằng nếu hắn không chiếm được
cô thì mười tám đời tổ tiên nhà hắn là quân rùa đen hết ráo. Chẳng những hắn si
tình cô con gái mà hắn si tình luôn…bà mẹ vợ, danh kỹ Trần Viên Viên, trên 40
tuổi, đã đi tu. Vi Tiểu Bảo được cái nói thẳng nói thật, dẫu lời nói có sống sượng,
thô lỗ, tục tằn. Ấy vậy mà đàn bà con gái Trung Quốc (trong Lộc Đỉnh ký thôi
nhé) mê hắn muốn chết. Thái độ si tình của hắn khá thực tế: mê ai là để ngủ cho
được với người ấy, không ngủ được thì dù là Tây Thi tái thế, Bao Tự hồi sinh hắn
cũng không thèm. Lại có một viên cử nhân si tình khác là Mỹ đao vương Hồ Dật
Chi. Lão này 60 tuổi, tướng mạo cực đẹp, si tình Trần Viên Viên, vứt cây đao đi
để tự nguyện làm đầy tớ bửa củi, xách nước phục vụ cho Trần Viên Viên khi cô
này đi tu. Lão rình nghe Viên Viên hát Viên Viên khúc, mấy chục năm chỉ lọt tai
được tám chín câu. Chỉ như vậy, lão đã cho mình là người đại hạnh phúc. Khi kết
bạn với Vi Tiểu Bảo, nghe họ Vi nói chuyện si tình thực dụng, lão phê phán
ngay. Chủ nghĩa si tình của lão là chủ nghĩa si tình thánh hoá, lý tưởng hoá;
si tình ai là phải mong người đó được hạnh phúc, vui vẻ, kể cả giúp cho người
mình si tình đi lấy chồng (không phải là mình). Chính vì quan điểm si tình khác
nhau mà một già một trẻ cãi nhau ỏm tỏi, càng cãi càng đi vào chỗ mơ hồ, sai lạc.
Nghe đồn Kim Dung cũng là một ông trùm si tình trong cuộc sống và hình bóng ông
tôn thờ là cô đào Hạ Mộng. Hạ Mộng còn sống đến bây giờ e đã bảy mươi tuổi có
dư. Nhưng tuổi tác có ra quái gì so với tiến sĩ si tình Kim Dung. Có lẽ vì vậy
mà ông đã xây dựng nên các “bậc thầy” Đoàn Dự, Du Thản Chi, Vi Tiểu Bảo, Hồ Dật
Chi. Những đau đớn của họ, nếu có cũng chỉ là đau đớn tình thần nhiều hơn là thể
xác. Và có lẽ Kim Dung thể hiện sự đau đớn ấy trong văn chương cũng là cách tự
giải toả cho mình. Nếu không giải toả được, không chừng sẽ phát khùng phát điên
lên mất.
"Thiên ngoại hữu thiên"
"Thiên ngoại hữu
thiên" (ngoài trời này có bầu trời khác) đơn giản chỉ là một tư tưởng của
Lão Tử trong Đạo Đức kinh. Câu nói này thể hiện vũ trụ quan của Lão Tử, một vũ
trụ quan cách chúng ta trên 2.500 năm, khi mà những tiến bộ khoa học chưa ra đời
và Lão Tử, như những nhà hiền triết phương Đông khác, đã cố gắng cắt nghĩa vũ
trụ thông qua những nhận thức thuần nghiêm. Khi phát biểu "thiên ngoại hữu
thiên", Lão Tử cho rằng ngoài thế giới hiện thực mà chúng ta đang sống còn
có một (hoặc nhiều) thế giới khác mà ông chưa biết đến. Nói cách khác, vũ trụ
bao la còn chưa đựng nhiều cuộc sống khác mà loài người đang cố gắng khám phá,
tìm hiểu, cắt nghĩa... Trong "thiên ngoại hữu thiên" thì chữ
"thiên" sau của Lão Tử vừa mang tính cách hiện thực vừa mang tính
cách siêu thực. Ở chừng mực nào đó, tư tưởng này thể hiện một cái nhìn của siêu
hình học cổ điền Trung Quốc. Thế nhưng những nhà văn Trung Quốc, trên cơ sở
phát biểu của Lảo Tử, đã muốn biến tư tưởng này thành một hiện thực văn chương
sinh động. Ví dụ Ngô Thừa Ân với tác phẩm Tây du ký đã xây dựng một bầu trời
khác; bầu trời của Phật, thần, ma quỷ; bầu trời của Tây phương cực lạc. Hai
ngàn năm trăm năm sau, một nhà văn khác của Trung Quốc đã chứng minh mệnh đề
"thiên ngoại hữu thiên". Đó là Kim Dung với những tác phẩm võ hiệp tiểu
thuyết của ông. Võ hiệp tiểu thuyết hư cấu ra một bầu trời, một xã hội, một cuộc
sống hoàn toàn khác hẳn với hiện thực. Đó là bầu trời, xã hội, cuộc sống của bọn
hào sĩ giang hồ chuyên sống trên lưỡi đao mũi kiếm, đường quyền ngọn cước. Trên
nền tảng của các sinh hoạt tôn giáo, môn phái, bang hội có thật ở Trung Quốc
ngày xưa, Kim Dung xây dựng thành một thế giới võ hiệp; thoạt đọc qua cứ tưởng
là có thực nhưng đọc kỹ mới thấy đó là sản phẩm thuần tuý của sự tưởng tượng, của
khả năng hư cấu văn học. Về mặt thủ pháp, Kim Dung áp dụng thủ pháp sáng tác
khá thú vị; ông gắn liền những tác phẩm của mình với hoàn cảnh, giai đọan lịch
sử có thật của Trung Quốc. Thần điêu hiệp lữ, Xạ điêu anh hùng truyện, Ỷ thiên
Đồ long ký gắn liền với lịch sử xâm lược của quân Kim đối với nhà Bắc Tống, sự
hình thành của triều Nguyên trên đất Trung Quốc, những cuộc khởi nghĩa chống
quân Nguyên để khai sinh triều Minh. Thiên Long bát bộ gắn liền với lịch sử Nam
Tống khi nước Khất Đan chiếm được Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) và 18 châu Yên
Vân ở bờ Bắc sông Hoàng Hà; gắn liền với sự tương tranh, tương giao, tương đấu,
tương hỗ của 6 thế lực quân chủ Nam Tống, Khất Đan, Kim, Đại Lý, Thổ Lỗ Phồn,
Tây Hạ. Lộc Đỉnh ký gắn liền với lịch sử triều Khang Hy nhà Thanh, khi Khang Hy
mới lên làm vua đất Trung Quốc, khi những lực lượng phản Thanh phục Minh chưa bị
dẹp tan, các lực lượng chư hầu (Tây Tạng, Mông Cổ) chưa bình định. Tuyết Sơn
phi hồ, Phi hồ ngoại truyện gắn liền với lịch sử triều Càn Long, trong đó có những
đoạn phục hiện, hồi ức về cuộc khởi nghĩa của Sấm vương Lý Tự Thành. Những hoàn
cảnh lịch sử, giai đoạn lịch sử có thật như vậy lại được gắn liền với những thế
lực thật sự có thật của các bang hội, môn phái, tôn giáo. Về bang hội có Cái
bang, Hải Sa bang, Thần Điểu bang, Cự Kình bang, Thiên Địa hội, Hồng Hoa hội...
Về môn phái, tôn giáo chính thống (huyền môn) có Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga My,
Bái hoả giáo (Minh giáo), Côn Lôn, Tuyết Sơn, Thái Sơn, Hằng Sơn, Hành Sơn... Về
môn phái, tôn giáo nhiều màu sắc tà đạo có Bạch Liên giáo, Tây Ba giáo, Ngũ Độc
giáo, Bạch Mi giáo... những thế lực có thật của các bang hội môn phái, tôn giáo
này được trí tưởng tượng của tác giả nâng lên thành những thế lực chính trị, lực
lượng quân sự, căn cứ một vùng hoặc có ảnh hưởng bao trùm ở nhiều khu vực rộng
lớn. Trên nền tảng cái có thực, Kim Dung phóng bút đưa vào những hoàn cảnh hư cấu,
con người hư cấu cảu mình. Khả năng hư cấu của ông rộng lớn tuyệt vời, cuốn hút
người đọc đi vào tác phẩm thuần tuý tưởng tượng mà cứ ngỡ đang đi vào đời sống
thật. Về hình nhi hạ kinh tế, những nhân vật trong võ hiệp tiểu thuyết của Kim
Dung ít ai có nghề ngỗng rõ rệt. Trong mấy ngàn nhân vật của các bộ tiểu thuyết
của ông, hoạ hoằn lắm như trong Tiếu ngạo giang hồ Kim Dung mới cho người ta thấy
được Lưu Chính Phong, Vương Nguyên Bá là hai nhà giàu nức tiếng, Hà Tam Thất
bán hoành thánh, Du Tấn bán tin tức, Lâm Chấn Nam có hãng bảo tiêu. Cơ bản bọn
hào sĩ giang hồ trong tác phẩm của ông là đám vô công rỗi nghề nhưng vàng bạc
lúc nào cũng rủng rỉnh, chẳng những ăn xài thoải mái mà còn sẵn sàng tặng người
khác làm lộ phí. Ít khi họ ăn cơm nhà; ta chỉ thấy họ vào tửu lâu uống những
bát rượu ngon, ăn những miếng nhắm tốt rồi đem vàng bạc ra trả. Họ đi đến đâu
có lời chào mời, thiết đãi. Điều này thật lý tưởng khác xa với hiện thực xã hội
Trung Quốc quân chủ trong đó đám bình dân nghèo xơ xác, gặp năm thiên tai, mất
mùa, chiến chinh, có người chết đói, có người phải ăn cả thịt người. Về hình
nhi thượng võ công, những nhân vật trong các bộ võ hiệp Kim Dung là những con
người tuyệt vời, đạt đến mức lý tưởng nhất. Kim Dung gọi các nhân vật trung tâm
của mình là con thần long, con phượng hoàng trong loài người. Chỉ với trọng lượng
cơ thể trên dưới một trăm cân (khoảng 60kg), Trương Thuý Sơn đã có thể dùng
Thái Cực quyền đỡ hai tảng đá nặng ba, bốn ngàn cân (Ỷ thiên Đồ long ký). Những
loại võ công họ đắc thủ mạnh và tinh vi đến độ trí óc của con người không thể
tưởng tượng nổi: Kiều Phong trong Thiên Long bát bộ có nội lực sung mãn như dời
non lấp biển, Lệnh Hồ Xung trong Tiếu ngạo giang hồ có đường Độc Cô cửu kiếm thắng
tất cả các loại võ công trên đời, Quách Tĩnh trong Xạ điêu anh hùng truyện có
Hàng long thập bát chưởng mạnh đến tan bia vỡ đá. Loại nhân vật trung tâm trong
tác phẩm của ông chỉ cần xuất một chiêu quyền, cước, chưởng, chỉ, cầm, nã, đao,
kiếm, côn, bổng là địch thủ phải chào thua, thậm chí phải táng mạng. Ấy vậy mà
họ sống đẹp hết sức. Trai trung hậu, chất phác; gái thông minh, tiết liệt. Họ sẵn
sàng xả thân, hy sinh tính mạng vì người khác. Họ yêu thương đằm thắm, chân
thành, thủy chung. Trong mấy ngàn nhân vật, ta chỉ có thể tìm thấy một nhân vật
vì tham vọng mà phản bội trong Thiên Long bát bộ (Mộ Dung Phục). Họ hành hiệp cứu
đời, tế khốn phò nguy, sống trên và ngoài vòng ảnh hưởng của cái gọi là vương
pháp. Họ sống có thứ luật giang hồ riêng, chẳng hề liên quan gì đến các thứ
hình luật của các chế độ quân chủ. Cơ sở giải quyết, hành xử mọi vấn đề của họ
đặt rtên đao kiếm, quyền cước và tất nhiên, có sự can thiệp tích cực của lý trí
và tình cảm của con người. Trong Nam hoa kinh, Trang Tử đã từng mơ ước một con
chim hồng "bay cao chín ngàn dặm, nương mây cỡi gió mà đi". Tư tưởng
của Lão Tử Trang Tử hình thành học thuyết Lão Trang nến tảng tư duy của đạo
gia. Tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung xây dựng nên những môn phái tu theo đạo
gia, lấy tư tưởng Lão Trang làm nền tảng cho võ thuật. Đọc Kim Dung, ta thường
gặp các đạo sĩ phái Võ Đang, Thanh Thành, Tiêu Dao, Bồng Lai. Nơi họ tu học là
các đạo quan (quán); võ công mà họ đắc thủ là võ công âm nhu, nhẹ nhàng thanh
thoát như hoa bay, gió thoảng nhưng kình lực mạnh đến ta bia vỡ đá, dời non dốc
biển. Nhân vật tiêu biểu cho Đạo gia mà Kim Dung ca ngợi hết lời là một nhân vật
có thực: Trương Tam Phong (Trưong Quân Bảo), đạo gia khai sáng phái Võ Đang,
người sáng tác ra bộ môn Thái Cực quyền pháp chậm rãi, nhẹ nhàng mà ngày nay
còn truyền lại trong y thuật dưỡng sinh. Kim Dung mô tả Thái Cực quyền pháp:
dang đôi tay nhẹ nhàng ôm lại như ôm cả vũ trụ vào lòng. Và chỉ với một thế Lãm
tước vĩ (ôm đuôi chim), đạo gia đã có thể xoay địch thủ của mình như xoay con vụ,
dù địch mạnh đến đâu, nặng đến đâu. Lãng mạn hơn, ông còn cho phép bốn lạng có
thể chống lại được ngàn cân (tứ lạng bát thiên cân) và có thể mượn (lợi dụng)
chính sức của địch thủ để đánh lại địch thủ (tá lực đả lực) Nếu lịch sử - hiểu
như một khoa học - có một cách cắt nghĩa nhằm đạt đến tích khách quan, tính hiện
thực thì Kim Dung, trên nền tảng lịch sử đó, thêu dệt thành những đoạn huyền sử,
thoại lạ lùng. Đây cũng chính là thủ pháp sáng tác chung của nhiều nhà văn học
Minh-Thanh nhưng bậc hậu bối Kim Dung lại phát huy thủ pháp đến mức lâm li tận
chí, vượt xa các bậc tiền bối. Ông đã thêu dệt cho ta nmột huyền thoại Sấm
vương Lý Tự Thành trong Tuyết Sơn phi hồ, Phi hồ ngoại truyện và Lộc Đỉnh ký.
Ông đã thêu dệt một huyền thoại Nhạn Môn Quan bi tráng, đầy rẫy tình yêu, nỗi
đau, chiến tranh và hoà bình trong Thiên Long bát bộ. Ông đã dựng nên một nhà
vua Khang Hy sáng suốt, dũng cảm, cơ trí, đại hiếu, có tầm cỡ của một bậc minh
quân bậc nhất nhì Trung Quốc. Và các kho báu lớn, nỗi ước mơ ngàn đời của dân tộc
Trug Quốc quân chủ nghèo nàn và lạc hậu xuất hiện trong tác phẩm của ông khá
nhiều. Có điều lạ là kho báu ở Quan Ngoại (Tuyết Sơn phi hồ), kho báu ở chùa
Thiên Ninh phủ Giang Lăng (Tố tâm kiếm) đều tẩm thuốc độc. Bọn giang hồ hào sĩ,
bọn quan lại tham tàn đã tìm được các kho báu đó. Tay họ đã chạm, túi họ đã đựng
đầy những vàng bạc, kim cương mã não nhưng họ đã trúng độc, chết ngay tại chỗ
trước khi trở thành những siêu tỷ phú. Nó là nguồn hạnh phúc thuần tuý mang
tính ẩn dụ đối với người Trung Quốc chăng? Tiểu thuyết, võ hiệp Kim Dung thường
nhắc đến con rồng. Ta có thể dễ dàng bắt gặp Hàng long thập bát chưởng với Hiện
long tại điền, Tiềm long thăng thiên, Giao long xuất hải, Thần long bái vĩ, Phi
long tại thiên, Kháng long hữu hối...... đây là tên các thế võ phỏng theo tên gọi
các quẻ trong Kinh Dịch. Ngay móng vuốt của rồng cũng hình thành môn võ công:
Long trảo công, Long tượng chưởng, Cầm long công.... mà rồng là con vật chỉ có
trong linh thoại, dứng đầu tứ linh: long, lân, quy, phụng. Đưa con rồng vào
trong tiểu thuyết võ hiệp, Kim Dung đã đưa người đọc trở về với thế giới linh
thoại, một thế giới vượt xa thế giới hiện thực, ở ngoài thế giới hiện thực. Ai
cũng tự yêu mình, quý tính mạng của mình. Khuynh hướng ái ngã gần như là một
kinh nghiệm phổ quát và tuyệt đối của loài người từ Đông sang Tây. Trong tiểu
thuyết võ hiệp Kim Dung, những nhân vật trung tâm lại xả thân hành hiệp cứu đời,
cứu người; sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình cho người khác được sống. Lệnh Hồ
Xung chiến đấu đến sức cùng lực kiết với Điền Bá Quang để giải cứu cô nữ ni
xinh đẹp và trong trắng Nghi Lâm; Trương Vô Kỵ hiến thân để cứu quần hùng Minh
giáo; Địch Vân liều mình cứu Thủy Sinh; Kiều Phong dấn thân vào đầm rồng hang cọp
để chạy chữa cho A Châu; Hồ Phỉ nghe nơi đâu có cường hào ác bá bức hại dân đen
là tìm đến để lập lại công đạo.... Đó là những tấm gương lớn xuất phát từ khái
niệm hành hiệp độ thế. Những nhân vật của Kim Dung trở thành những người hùng
lý tưởng. Từ người hùng lý tưởng trong cuộc sống, họ trở thành người tình lý tưởng
trong tình yêu. Họ thương yêu say đắm, thủy chung trong khuôn khổ cho phép của
lễ giáo Trung Quốc. Tình yêu đối với họ gần như tự nhiên, hoàn toàn không hàm ý
lợi dụng, cơ hội, cưỡng cầu. Gần như tình yêu trong võ hiệp Kim Dung là kết quả
của những cơ duyên hợp lý. Cơ duyên không hề mang tính chát tiền định như cơ
duyên trong tư tưởng phật giáo, nó chính là kết quả của những mối quan hệ xã hội
trong sáng và võ hiệp. Tình yêu trong truyện võ hiệp hình thành một thế giới
riêng của anh hùng và giai nhân. Cái thế giới giang hồ tên đường đao mũi kiếm,
cái thế giới của thoại sử, cái thế giới của võ cộng siêu việt, cái thế giới cảu
luật giang hồ, cái thế giới của những anh húng lý tưởng, những mối tình tuyệt vời
- tất cả kết hợp thành một bầu trời riêng, khác hẳn bầu trời hiện thực mà người
Trung Quốc đã sống. Đó là bầu trời ngoài một bầu trời - một "thiên ngoại hữu
thiên". Ai đau xót vì cuộc sống, mệt mỏi vì những oán thù, đau đớn vì phải
là người trong cuộc sống hiện thực hãy tìm đến "bầu trời" trong tiểu
thuyết võ hiệp.
Vạn sự giai không
“Vạn sự giai không” là một
trong những quan điểm lớn lao của đạo Phật. Hiểu một cách chân phương, “Vạn sự
giai không” là mọi thứ trên đời đều là tạm bợ, hư ảo không có thật. “Vạn sự
giai không” thể hiện nhân sinh quan, vũ trụ quan căn bản nhất của tư tưởng đạo
Phật: anh không có, tôi cũng không có; nhan sắc cũng không, tình yêu cũng
không; cả thế giới này là một chữ KHÔNG to tướng. Kinh Bát nhã ba la mật chép:
“Sắc tức thị không, không tức thị sắc” (Sắc chính là không, không chính là sắc).
Than ôi, đến cái đẹp của phụ nữ - nguồn cảm hứng vô tận trong văn học nghệ thuật
nhân loại – cũng không có nữa thì thế giới này quả thật đáng buồn. Kim Dung có
lẽ là một đệ tử thuần thành của nhà Phật, thấm nhuần tư tưởng Phật giáo sâu sắc.
Tuư tưởng ấy hiện ra trong các tác phẩm võ hiệp tiểu thuyết của ông một cách có
hệ thống, trở thành nguồn tư tưởng phương Đông chủ đạo, bao trùm khắp tác phẩm.
Trong những bộ tiểu thuyết của mình, Kim Dung thường nhắc đến sự tích Đức Bồ Đề
Đạt Ma từ Thiên Trúc qua Trung Quốc, diện bích trong 9 năm, hình thành hệ tư tưởng
Thiền tông Trung Hoa. Từ đó mới có chùa Thiền tông Thiếu Lâm ra đời, mới có các
kinh văn Phạn ngữ du nhập Trung Quốc được dịch ra Trung Văn và mới có các thứ
võ công danh tiếng mang dáng dấp Thiền tông: Niêm hoa chỉ, Bát Nhã chưởng, Thiếu
Lâm trường quyền, Dịch cân kinh, Thiên thủ Như Lai chưởng, Kim Cương chỉ, Đạt
Ma kiếm pháp… Một số vũ khí cổ điển mà các nhà sư Thiếu Lâm sử dụng cũa mang
dáng dấp Thiền tông: thiền trượng, phương tiện sản… Trong cách đặt tên nhân vật
cho các nhà sư Thiếu Lâm, Kim Dung cũng cố gắng thể hiện chữ Không trong “Vạn sự
giai không”: Vô Tướng, Vô Sắc, Huyền Khổ, Huyền Nạn, Huyền Từ, Huyền Thống, Độ
Ách, Độ Nạn, Độ Kiếp, Hư Trúc, Không Kiến, Không Văn, Không Trí, Không Tín… Các
nhà sư Thiếu Lâm xuất hiện trrong tác phẩm Kim Dung rất gọn nhẹ, bên mình không
mang theo một thứ vật dụng, quần áo gì. Thỉnh thoảng có người cầm theo cây gậy,
đoản côn, sợi dây (khuyên) để làm vũ khí. Ra đi chiến đấu với địch thủ, họ thường
sử dụng đôi bàn tay thịt. Ở một góc độ nào đó, họ là những người “vô sản” - một
biểu hiện khá triệt để của chữ “không”. Trong Thiên Long bát bộ, Kiều Phong đau
xót tìm nguồn gốc của mình là người Hán hay người Khất Đan. Hơn đâu hết, ở
Trung Hoa ngày xưa, mặc cảm dân tộc và sắc tộc rất lớn: người Hán mới là người;
các dân tộc và sắc tộc khác chỉ là Tứ di (bốn rợ). Kiều Phong là bậc anh hùng đạt
đạo những vẫn không thoát ra được tư tuởng dân tộc hẹp hòi, chỉ sợ bản thân
mình thuộc dòng giống Khất Đan mọi rợ. Ông tìm lên chùa Chỉ Quán, núi Thiên
Thai xin gặp nhà sư Trí Quan để hỏi cho ra nguồn gốc đó. Trí Quan chỉ đọc một
bài kệ lửng lơ: Khất Đan với Hán nhân Bất luận giả hay chân Ân oán cùng vinh nhục
Không hơn đám bụi trần. Cả bài kệ là một chữ “không”, kết thúc mọi vấn đề dân tộc,
ân oán, vinh nhục trên đời. Tất cà chỉ là bụi trần, hỏi mà làm chi, biết mà làm
gì. Sức học của Kiều Phong không cho phép ông hiểu ra ý nghĩa của bài kệ đó
ngay thời điểm Trí Quan đọc. Nhưng khi ông nhìn nụ cười hiền từ nở ra trên đôi
môi nhà sư và cái chết đầy tính giải thoát của nhà sư khi đọc xong bài kệ, có lẽ
ông nhận ra chữ “không” trong tư tưởng của Trí Quan, của nhà Phật. Kim Dung đã
thật sự thhành công khi tạo cho độc giả nhận thức coi cái chết như một sự giải
thoát, sự trở về. Trong Tiếu ngạo giang hồ, nhà sư Phương Sinh đứng trước xác bốn
đệ tử bị Doanh Doanh giết chỉ đọc một bài kinh văn siêu độ. Ông không trả thù
Doanh Doanh, cũng không chôn cất các đệ tử bởi ông coi các xác chết cũng như bốn
cái túi da, chôn cũng vậy mà không chôn cũng vậy. Tất cả đều trở về với cát bụi.
Trong Thiên Long bát bộ, nhà sư Huyền Thống đang hăng hái đánh nhau với bọn Hàm
Cốc bát hữu, chỉ cần nghe nho sinh đọc câu: “Khổ hải vô biên hồi đầu thị ngạn”
(bể khổ mênh mông, quay đầu là bờ) đã chợt ngộ ra chữ “không”, đứng tim mà chết,
trên môi nở nụ cười mãn nguyện. Cũng trong tác phẩm này, một nhà sư già trong
Tàng kinh các chùa Thiếu Lâm đã hóa giải mối thù sâu như biển giữa Tiêu Viễn
Sơn (người Khất Đan) và Mộ Dung Bác (người Tiên Ty). Bốn tay họ giao nhau, hai
lòng cùng giác ngộ; họ chợt nhận ra những âm mưu, thủ đoạn, khát vọng trả thù
chỉ là hư ảo. Và nhà sư Ba La Tinh (người Thiên Trúc) cũng nhận ra cái hư ảo
trong giấc mộng ăn cắp kinh văn đem về Thiên Trúc của mình. Ông chợt nhận ra Thiên
Trúc hau Trung Hoa đều là thế gian, cũng “không” tuốt, và việc trở về Thiên
Trúc là không cần thiết nữa. Chữ “không” can thiệp vào tình yêu một cách tích cực.
Ai yêu nhà sư Huyền Từ bằng Diệp Nhị Nương. Người phụ nữ này đã hiến thân cho
Huyền Từ, sinh ra chàng Hư Trúc. Nhưng Huyền Từ là Phương trượng của chùa Thiếu
Lâm; Diệp Nhị Nương cam chịu sống lẻ loi, không dám nhìn mặt người tình trong
suốt 20 năm cũng chỉ là để cho Huyền Từ khỏi bị tai tiếng vì chữ “dâm” trong
Ngũ giới cấm của nhà Phật. Đến phút cuối, trước quần hùng tại isân chùa Thiếu
Lâm; Huyền Từ, Diệp Nhị Nương và Hư Trúc mới đoàn tụ. Cha, mẹ và đứa con lưu lạc
cùng gặp lại nhau, có hạnh phúc nào lớn hơn điều ấy? Thế nhưng, ở đây chữ
“không” lại xuất hiện, can thiệp, biến tất cả niềm hạnh phúc thành khúc bi ca.
Huyền Từ tự vẫn để tạ tội với chư tăng chùa Thiếu Lâm; Diệp Nhị Nương tự vẫn
theo người tình cho có đôi có bạn. Tình yêu của họ cũng chỉ là hư không; chăn gối
ngày xưa cũng chỉ là hư không. Trên cơ sở chữ “không”, Kim Dung xây dựng những
nhân vật rất lạ. Như Định Nhàn sư thái, chưởng môn phái Hằng Sơn (Tiếu ngạo
giang hồ); sau một trận chiến đấu hung hiểm đầy máu và lửa, bà xuất hiện với
chiếc áo không lấm một vết than tro, khuôn mặt bình thản, tay lần chuỗi tràng hạt
như không có chuyện gì xảy ra. Vị nữ ni này đúng với ba chữ “vô ưu”, “vô uý”,
“vô trần” của đạo Phật. Mà “vô” cũng chính là “không”. Trước khi chết trên chùa
Thiếu Lâm, vị nự ni này truyền chức chưởng môn lại cho Lệnh Hồ Xung mà vẫn
không chịu nói ra ai đã giết mình. Ấy bởi vì kẻ giết bà chính là Nhạc Bất Quần
, sư phụ của Lệnh Hồ Xung! Chữ “không” đã giúp bà quên đi mối thù. Bà chết
nhưng chữ “không” ấy vẫn long lanh trong sáng. Tôi đã nói “không” cũng là “vô”.
Kim Dung triệt để bàn đến chữ “không” của đạo Phật qua tiểu thuyết của mình
nhưng xin bạn đọc chớ ngại ông biến cả thế giới tiểu thuyết thành ra hư ảo hết.
“Không” cũng là “vô” nhưng đồng thời ông lại đưa ra biện chứng “Vô trung sinh hữu”
(trong cái “không” sinh cái “có”). Và đó là vấn đề mà tôi sẽ bàn đến, nếu tôi còn
sống, chưa trở về với chữ “không”.
Chữ Xuân
Trong Trung văn, chữ Xuân
(, mùa xuân) được viết với 9 nét. Ở một nghĩa rất tượng trưng, chữ Xuân được ví
với bộ phận sinh dục nữ qua phép tượng hình các nét viết của chữ này. Nếu người
phụ nữ nằm, thì đó là chữ xuân; nếu người phụ nữ ngồi thì có một kẽ hở, tạo ra
một chữ 10 nét, gọi là Thung (). Nhà nho có câu ví von: Ngọa tắc Xuân mà toạ tắc
Thung (Nằm thì Xuân mà ngồi thì Thung) Kim Dung viết tiểu thuyết võ hiệp bằng
Trung văn. Chữ Xuân trong tác phẩm của ông khá phong phú, biến ảo lạ lùng. Chữ
Xuân nằm trong ngoại hiệu của đạo gia. Xạ điêu anh hùng truyện có 7 đạo gia gọi
là Toàn Chân thất tử, trong đó có Trường Xuân tử Khưu Xử Cơ. Tính cách nhân vật
này nóng nảy, nhưng là một hán tử yêu nước. Là đạo gia, nhân vật này cũng tu học
theo phong cách đạo gia, nghĩa là cũng học cách bế khí để hưởng nhàn, hành lạc
dài dài. Chẳng vậy mà ngoại hiệu của lão là Trường Xuân tử? Trường Xuân tử có
nghĩa là ông… ham vui hoài hoài. Còn ổng vui được tới đâu thì thây kệ ổng. Chữ
Xuân còn nằm trong ngoại hiệu của thầy thuốc. Trong Hiệp khách hành có một nhân
vật gọi là Trước thủ thành xuân Bối Hải Thạch. Bối Hải Thạch võ công cao cường
nhưng suốt đời ốm yếu, ho hen hoài. Lão tự tìm thuốc men chữa bệnh cho mình, chữa
riết nên trình độ y lý cũng cao cường như một thầy thuốc (đại phu). Vì vậy, lão
lên làm trưởng lão bang Trường Lạc tại Giang Nam, được mọi người tôn xưng là Bối
đại phu. Bạn có để ý hai chữ Trường Lạc không? Hai chữ này có nghĩa là vui
hoài, vui miết. Người thầy thuốc luôn được Kim Dung ca ngợi là Diệu thủ hồi
xuân. Tất nhiên, làm thuốc là trị bách bệnh; trong đó có bệnh… lạc mất mùa
xuân. Hồi xuân là mục tiêu giúp con người tìm lại chất trẻ trung, tìm lại cảm hứng
tình dục. Trong phương thuốc hồi xuân luôn luôn có các vị Nhân sâm, Hà thủ ô,
Sinh địa, Linh Chi, Tuyết liên tử… Uống các món này, con người khỏe mạnh, trẻ
trung trở lại. Còn sau đó thì… hổng biết. Chữ Xuân còn để chỉ chỗ ăn chơi sa đọa.
Người Trung Hoa có câu “Hạ giới hữu Tô Hàng nhị châu”. Hàng Châu và Tô Châu là
hai chỗ ăn chơi đàng điếm nhất của miền Giang Nam. Xem như vậy thì người trung
Quốc coi trọng sự ăn chơi. Lộc Đỉnh ký, thông qua cái miệng của Vi Tiểu Bảo,
không ngớt ca ngợi thành Dương Châu nhà hắn. Hắn xuất thân từ Lệ Xuân viện, nơi
mẹ hắn làm Kỹ nữ và sinh ra hắn. Hắn tự hào về Lệ Xuân viện, về bà mẹ làm kỹ nữ.
Hắn đã từng có mong ước kiếm được thật nhiều tiền để về Dương Châu mua đứt lại
Lệ Xuân viện; lập thêm ba toà Lệ Hạ viện, Lệ Thu viện và Lệ Đông viện cho đủ 4
mùa, đặng quần hùng và trọc phú bốn phương đến đó ăn chơi cho phỉ chí. Vi Tiểu
Bảo cũng là tay khoái món văn hóa đồi truỵ. Rõ ràng là hắn có mấy bức thêu gọi
là Xuân cung đồ (bức hoạ về bộ phận sinh dục nữ). Hắn đã đem mấy bức thêu này
“thuốc” Đa Long khi tên này được vua Khang Hy giao nhiệm vụ chém Mao Thập Bát,
khiến Đa Long mê mẩn, mất cảnh giác. Vi Tiểu Bảo đã cứu mạng được Mao Thập Bát
nhờ truyền bá văn hóa đồi truỵ! Chữ Xuân đồng nghĩa với khái niệm bổ thận, cường
dương. Những món thuốc giúp đàn ông bổ thận, cường dương để chứng mình là nam
nhi chính hiệu trong phòng the được gọi là xuân dược. Mô phỏng xuân dược đó, Lệ
Xuân viện thành Dương Châu có bán loại xuân tửu. Thế nhưng, Vi Tiểu Bảo thì chỉ
muốn những kẻ uống loại rượu này vào phải ngủ li bì, ngủ mê mệt để hắn ra tay
khống chế. Cho nên, hắn đã đổ thêm thuốc mê vào rượu; khiến xuân tửu hoá thành
mê xuân tửu. Tang Kết lạt ma, Cát Nhĩ Đan vương tử, Trịnh Khắc Sản… cho đến các
quý phu nhân, quý tiểu thư Tô Thuyên, A Kha, Phương Di… uống loại rượu này,
lòng xuân thì phơi phới nhưng trí tuệ lại hồ đồ. Vi Tiểu Bảo tha hồ tác oai,
tác quái. Không hiểu hắn có uống xuân tửu không nhưng hôm ấy hắn giao cấu với 7
người phụ nữ. Tất nhiên, tác giả có nói dóc nhưng nói dóc như vậy nghe cũng thú
vị. Việc nam nữ giao cấu với nhau được Kim Dung gọi là xuân sự hay hảo sự. Đó
là quan điểm của một dân tộc quý chuộng sức lao động bởi xã hội Trung Quốc ngày
xưa là xã hội nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Phải sinh con đẻ cái để có
người lao động, để nối dõi tông đường. Cho nên người ta coi đêm tân hôn là một
đêm thiêng liêng của đôi đôi lòng thanh xuân phơi phới. Hiệp khách hành có mô tả
đoạn Thạch Phá Thiên và Đinh Đang mới định động phòng thì bọn hảo hán bang Trường
Lạc đổ ra đi tìm Thạch Phá Thiên, đứng ngoài sân kêu la ơi ới. Đinh Bất Tứ phải
ngồi trên nóc nhà gác cho cháu mình hoàn thành xuân sự. Lão tuôn ra một hơi vừa
có vẻ văn hóa, vừa có vẻ tục tĩu, nào là “đêm xuân một khắc ngàn vàng”, nào là
“thời xuân qua rất mau”… Nhưng Thạch Phá Thiên đã bỏ cô dâu, chạy mất. Những
nhân vật nữ trung tâm của Kim Dung được gọi là băng thanh ngọc khiết, là hoàng
hoa khuê nữ hoặc xuân nữ. Họ là những cô gái trong trắng, lãng mạn mười phần
nhưng không liều mạng chút nào. Họ đi đến đâu thì không khí đương xuân có ở đó,
rực rỡ, náo nhiệt. Có đôi khi họ buồn, họ khóc. Kim Dung mô tả những giọt nước
mắt đọng trên gò má xuân thì lóng lánh chẳng khác gì giọt sương trên đóa mai
côi (hoa hồng). Mùa xuân, bóng liễu xanh tươi. Kim Dung mô tả đôi mày các cô đẹp
như cặp lá liễu. Và khi cô nào… nổi nóng, đôi mày liễu khẽ nhướng lên hay khẽ
cau lại, thể hiện một tâm trạng bất bình thì khách mày râu hãy coi chừng. Một
chiêu Xuân phong dương liễu phóng ra, mùa xuân mất biến, chỉ còn cơn lôi đình sục
sôi như nắng hạ. Kiếm luận
Trong chiến tranh cổ điển,
kiếm (gươm) là một vũ khí tiện lợi nhất. Tuy không cùng học một loại binh thư
nhưng các dân tộc đã biết chung một kinh nghiệm chiến tranh: dùng kiếm để đánh
gần và dùng cung để bắn xa. Lịch sử chiến tranh của nhân loại cho biết kiếm được
rèn ở thành Baghdad (lúc bấy giờ thuộc Ba Tư - Perse) là loại kiếm danh tiếng
nhất, có kỹ thuật rèn cao cường nhất. Và đây là những lưỡi đà kiếm, có hình
cong hình lưỡi liềm. Kiếm trong truyện võ hiệp Kim Dung cũng không đi ra khỏi
kinh nghiệm ấy. Kiếm quan trọng đến nỗi nhiều khi, những tác phẩm võ hiệp của
ông được người đời gọi là truyện kiếm hiệp - truyện về những người hành hiệp cứu
đời bằng lưỡi kiếm. Có những tác phẩm của ông đã khắc hoạ vai trò cao cả của lưỡi
kiếm. Đó là trường hợp bộ Ỷ thiên Đồ long ký. Trong 5 chữ, thì đã có hai chữ Ỷ
thiên là tên gọi của một thanh kiếm báu mà theo tác giả, được đúc bằng thép
nguyên chất pha lẫn platin và trong thân kiếm có cất dấu một pho bảo lục: bộ Cửu
âm chân kinh. Tiếu ngạo giang hồ cũng là một tác phẩm đồ sộ nói về cây kiếm với
những phái sử dụng kiếm gọi là Ngũ nhạc kiếm phái: Thái Sơn, Hành Sơn, Hoa Sơn,
Tung Sơn, Hằng Sơn. Bộ Liên thành quyết là một bộ tiểu thuyết viết về một pho
kiếm pháp mà bài kiếm quyết là một bài thơ; thầy đã cố dạy sai cho học trò để
che dấu lời hướng dẫn đi tìm một kho báu lớn có giá trị liên thành. Ngoài ra,
trong 12 bộ tiểu thuyết, luôn luôn xuất hiện người sử kiếm (kiếm sĩ) và kiếm sĩ
luôn luôn nhiều hơn những bọn hào sĩ giang hồ sử dụng những loại vũ khí khác. Về
mặt chất liệu làm kiếm, Kim Dung nói đến loại kiếm sắt, kiếm gỗ, kiếm vàng và
kiếm pha hợp kim. Kiếm thông thường là kiếm sắt nhưng Kim Dung lại thường đề cập
đến một loại sắt thép đặc biệt rất bén, chém sắt như chém bùn. Trương Tam
Phong, tức Trương Quân Bảo, dùng một cây kiếm gỗ hành hiệp gọi là Chân võ, thành
danh và trở thành tổ sư phái Võ Đang. Bọn thầy thuốc như Hồ Thanh Ngưu, Bình Nhứt
Chỉ có cây đoản kiếm bằng vàng, chắc là để dùng trong khi mổ xẻ. Đặc biệt, kiếm
Ỷ thiên như đã nói là một hợp kim gồm thép và platin và phải dùng đến đao Đồ
long chém thì cả đao với kiếm mới cùng gẫy. Bọn đệ tử Minh giáo kiếm được thanh
kiếm Ỷ thiên gãy, đã dùng kỹ thuật luyện kim đặc biệt của Ba Tư để ráp kiếm lại
và trong động tác ráp nối quyết định, còn thêm cả máu người vào. Chi tiết này
thật hoang đường nhưng cực kỳ thú vị, không khỏi khiến bạn đọc nghĩ đến huyền
thoại hai thanh kiếm thời Chiến quốc: Can tương và Mạc gia (còn gọi là Mạc tà).
Về tính chất, truyện võ hiệp Kim Dung đề cập đến hai loại kiếm: cương kiếm (kiếm
rắn) và nhu kiếm (kiếm mềm). Trong Tiếu ngạo giang hồ, Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại
tiên sinh, chưởng môn Hành Sơn, có cây kiếm mỏng như lá lúa, rút ra cầm tay thì
mềm oặt nhưng khi vận công vào thì lưỡi kiếm giương thẳng ra và khi chiến đấu
thì kiếm khí phát ra đầu mũi kiếm. Về hình thể, Kim Dung phân ra trường kiếm
(kiếm dài) và đoản kiếm (kiếm ngắn). Nhũng nhân vật sử dụng đoản kiếm trong tác
phẩm của ông thường là những người có gia số võ công đặc biệt, chuyên đánh cận
chiến; chân tay rất linh hoạt. Kiếm bình thường thì thân thẳng. Cá biệt, trong
Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung mô tả nhân vật Tái Bắc minh đà Mộc Cao Phong, một
người gù như lạc đà (minh đà) vì có bướu trên lưng; y sử một cây đà kiếm cong
cong hình lưỡi liềm. Đúng là đà nhân đà kiếm! Thanh kiếm đặc biệt của Mộc Cao
Phong nhắc chúng ta nhớ lại hình ảnh những lưỡi kiếm cong của các đội quân Ả Rập
trên sa mạc trong những phim nói về khu vực châu Phi. Kiếm là một loại vũ khí
cá nhân nên thường thường bọn hào sĩ sử đơn kiếm. Tuy nhiên cũng có những người
chuyên đánh song kiếm. Lại có những cặp anh em, vợ chồng, bạn bè đồng môn sử
đơn kiếm nhưng chuyên đánh đôi thành song kiếm hợp bích. Có lối đánh tập thể kết
làm kiếm trận. Triết học Đông phương đã đi vào bài bản kiếm pháp với Lưỡng nghi
kiếm pháp, trong đó hai người cùng đánh: một người theo chính Lưỡng nghi, một
người theo phản Lưỡng nghi. Có chính có phản mới thành hợp bích chẳng khác nào
có thèse, có antithèse mới ra được synthèse trong triết học Hy Lạp. Về nguyên tắc
sử kiếm, Kim Dung đưa ra Kiếm tông và Khí tông. Kiếm tông chú trọng kiếm chiêu,
ra đòn liên miên bất tuyệt để thủ thắng. Khí tông chú trọng nội công, cho rằng
nội công cao cường là chỉ đánh một vài chiêu là có thể triệt hạ địch thủ. Đây
chính là sự mâu thuẫn trong nội bộ phái Hoa Sơn, khiến phái này tương tranh đến
nỗi gần tuyệt diệt. Để có thể sử kiếm, người ta phải học kiếm pháp. Kiếm pháp
được hiểu là nguyên tắc hướng dẫn sử một đường kiếm chuyên môn của một phái hay
một nhà (gia). Kiếm pháp được cụ thể hoá thành một bài ca và người kiếm sĩ phải
học thuộc lòng từng câu, từng chữ. Những câu ca ấy được chép lại trên lụa, trên
vải, trên giấy, trên da dê thì được gọi là kiếm phổ. Kiếm phổ chia ra từng
chiêu, từng thức; mỗi chiêu thức có nhiều cách biến hoá linh động. Kim Dung đã
thực sự đưa người đọc đi vào một thế giới mộng mơ thú vị khi ông đề cập đến những
Thái Sơn thập bát bàn, Hành Sơn thập tam thức và lý giải Lưỡng nghi kiếm pháp
có 64 thế. Tại sao lại là 64 thế? Ấy là vì Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi
sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái (quẻ); trong mỗi quái có 8 lần biến hoá,
8 lần 8 thành 64 thế. Đó là chính Lưỡng. Thế còn phản Lưỡng nghi? Phản Lưỡng
nghi là đánh ngược lại những quy tắc của chính Lưỡng nghi, tạo ra một âm một
dương, một trên một dưới, một trái một phải, một trước một sau... Thử tưởng tượng
một đối thủ phải đấu với một cặp song kiếm Lưỡng nghi! Kim Dung chỉ đặt vấn đề
và chúng ta tưởng tượng. Trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung nói đến một thứ kiếm
pháp lãng mạn hơn: Độc Cô cửu kiếm do Phong Thanh Dương truyền lại cho Lệnh Hồ
Xung. Đây vốn là kiếm pháp của Độc Cô Cầu Bại, chỉ gồm có 9 thức: Tổng quyết thức,
Phá kiếm thức, Phá khí thức, Phá thương thức, Phá chưởng thức, Phá tiên thức,
Phá đao thức, Phá tiễn thức và Phá côn thức. Với 9 thức đó, Độc Cô Cầu Bại đánh
thắng tất cả các địch thủ khiến cho không ai còn dám đến đánh kiếm với ông. Ông
rơi vào cô đơn (Độc Cô), chỉ mong được thua một lần (Cầu Bại) mà không ai có thể
khiến ông thua được, cuối cùng chết đi trong lặng lẽ! Phong Thanh Dương cắt
nghĩa: Độc Cô cửu kiếm đánh theo kiếm ý, nghĩ đến đâu là đánh đến đó, muốn đánh
thế nào cũng được, chỉ có công chứ không bao giờ quay về thủ. Hễ địch đánh 100
chiêu, ta đánh 101 chiêu; địch đánh 1000 chiêu, ta đánh 1001 chiêu; liên miên bất
tuyệt như nước chảy mây trôi. Lệnh Hồ Xung nghe được thứ kiếm pháp như vậy, anh
ta mừng như điên vì tâm tính anh ta vốn lãng mạn. Và trận ra oai đầu tiên của Độc
Cô cửu kiếm vừa khiến Lệnh Hồ Xung, vừa khiến chúng ta kinh hãi: Lệnh Hồ Xung mất
hết công lực, chỉ sử một chiêu Phá khí thức, đã đâm mù mắt 15 tên ác đồ của
phái Tung Sơn! Kiếm nằm trong vỏ là biểu hiện của hoà bình; kiếm rút ra khỏi vỏ
là biểu hiện của đấu tranh. Thậm chí với Diệt Tuyệt sư thái, chưởng môn phái
Nga Mi trong Ỷ thiên Đồ long ký, mỗi khi rút kiếm Ỷ thiên ra, kiếm không dính
máu là chưa đút vào vỏ. Rút kiếm ra khỏi vỏ, người ta thường bắt kiếm quyết:
mũi kiếm hướng lên trời, mũi kiếm chỉ xuống đất, mũi kiếm chỉ ra phía trước,
thân kiếm hoành ngang người... Chiêu đầu tiên của những người nhỏ tuổi khi đấu
với người trưởng thượng phải là chiêu thi lễ: hai tay đưa thẳng kiếm lên khỏi đầu
là Vạn nhạc triều tôn; hai tay nắm lấy đốc kiếm, cả người và kiếm cùng cúi tới
trước là Đồng tử bái Quan Âm. Sử kiếm là cả một nghệ thuật. Dương Qua và Tiểu
Long Nữ trong Xạ điêu anh hùng truyện sử Ngọc nữ kiếm pháp một cách uyển chuyển
mỹ lệ như một cặp múa đôi. Tả Tử Mục, chưởng môn phái Vô Lượng trong Thiên Long
bát bộ sử kiếm chém con rắn đang cuốn lấy người học trò, rắn đứt đôi mà da học
trò vẫn không xây xát. Ninh Trung Tắc của phái Hoa Sơn sử thế kiếm quyết định
đâm vào người học trò là Lệnh Hồ Xung, kiếm vừa chạm đến da, đã chuyển kình lực
đâm thẳng thành kình lực bẻ ngang, khiến thanh kiếm gẫy làm nhiều mảnh rơi xuống
choang choảng. Trong đường kiếm còn có cả tình yêu đôi lứa. Nhạc Linh San cùng
Lệnh Hồ Xung thầm yêu nhau, đã lén cha mẹ luyện môn Xung - Linh kiếm pháp, khi
múa lên đôi mắt mơ màng, đôi lòng ấm áp. Vì họ còn rất trẻ nên nghịch ngợm,
nghĩ ra ra chiêu Nhĩ tử ngã hoạt (người chết ta sống), tính toán kỹ luồng lực đạo,
bộ vị, phương hướng sao cho đâm một lần hai đầu mũi kiếm phải dính vào nhau,
hai thân kiếm nối thành một đường thẳng. Những kiếm chiêu trong truyện võ hiệp
Kim Dung được ông đặt tên rất hay: Thuận thủy thôi chu (theo nước đẩy thuyền),
Lãng tử hồi đầu (người trai ra đi đã quay đầu lại), Thương tùng nghênh khách
(tùng xanh đón khách), Trường Giang tam điệp lãng (ba đợt sóng trên sông Trường
Giang)... Đôi khi, có những chiêu kiếm phát quá nhanh, máu không kịp chảy.
Trong Lộc Đỉnh ký có nhân vật Phùng Tích Phạm mang ngoại hiệu Nhất kiếm vô huyết
(một đường kiếm không chảy máu). Nói thì vậy nhưng khi Phùng Tích Phạm đánh
Song Nhi, người hầu của Vi Tiểu Bảo, đâm cô một kiếm, máu vẫn chảy ra như thường.
Cho nên Vi Tiểu Bảo gọi giễu Phùng Tích Phạm là Bán kiếm hữu huyết (nửa chiêu
kiếm đã có máu). Có những chiêu phi kiếm, phóng kiếm bay trong không gian để giết
địch thủ. Có những chiêu hoán thủ kiếm: kiếm đang cầm tay phải, đột ngột đổi
qua cầm tay trái. Người ỷ có kiếm trong tay chưa chắc đã thủ thắng. Tiểu anh
hùng Hồ Phỉ trong Phi hồ ngoại truyện học được phép Không thủ đoạt bạch nhận,
chuyên dùng tay không đoạt kiếm kẻ khác. Lệnh Hồ Xung có chiêu dùng ngón tay
búng vào sống kiếm đối phương cho kiếm văng đi. Nhậm Ngã Hành phát Phách không
chưởng, chưởng lực đủ sức đánh oằn thanh kiếm của địch thủ. Những kiểu mô tả vừa
có cơ sở thực tế, vừa không tưởng khiến chúng ta cảm thấy thú vị. Nhưng thú vị
nhất có lẽ vẫn là những trận đấu kiếm mà không có kiếm, không dùng kiếm. Vương
tử Đại Lý Đoàn Dự đã học được Lục mạch thần kiếm của chùa Thiên Long, nước Đại
Lý, dùng kình lực của nội công phát ra 6 ngón tay theo 6 đường Thiếu dương, Thiếu
âm, Thiếu xung, Trung xung, Thiếu trạch. Kiếm khí của anh ta đánh cho Mộ Dung
Phục tơi tả, hoảng hốt trước hàng vạn đôi mắt quần hùng tụ tập tại chùa Thiếu
Lâm. Hai trận đấu kiếm kỳ lạ nhất là hai trận đấu giữa Lệnh Hồ Xung và Xung Hư
đạo trưởng, chưởng môn phái Võ Đang. Lần thứ nhất, dưới chân núi Võ Đang, Lệnh
Hồ Xung và Xung Hư đứng cách nhau cả chục bước, chỉ lấy mắt mà nhìn huyệt đạo của
nhau. Ấy vậy mà Xung Hư chịu thua. Lần thứ hai, trong chùa Thiếu Lâm, Lệnh Hồ
Xung và Xung Hư đã rút kiếm ra nhưng Xung Hư chỉ đứng xa Lệnh Hồ Xung và nghĩ
ngợi, cuối cùng chịu thua. Ấy là vì cả hai chỉ đấu kiếm ý chứ không đấu kiếm
chiêu. Kiếm là vũ khí nhưng những kiếm sĩ không lạm dụng kiếm chiêu để giết người.
Đọc văn Kim Dung, ta thường thấy những cụm từ "điểm tới là thôi",
"đủ phân thắng bại", “kiếm hạ lưu tình”. Người ta dùng kiếm để họp bạn
và những lần gặp gỡ như vậy được gọi là "luận kiếm". Người ta lỡ tay
dùng kiếm giết người không khỏi có điều hối hận, đau khổ. Cho nên, đã có những
kiếm sĩ của Kim Dung bẻ kiếm bên trời (thiên nhai triết kiếm), đã có những người
"rửa tay gác kiếm". Lại có những người treo kiếm lên không dùng tới,
dấu kiếm trong cây đàn, để kiếm hoài trong vỏ không rút ra được nữa. Hà Túc Đạo
trong Ỷ thiên Đồ long ký được xưng tụng là tam thánh: Cầm thánh, Kỳ thánh, Kiếm
thánh nhưng cuối cuộc đời, anh ta quay về đỉnh Kinh Thần Phong ngoài núi Côn
Lôn xa xôi vạn dặm, treo cây kiếm lên và lặng lẽ nhớ đến cô bé Quách Tương 19
tuổi. Đã có một lần, Hà Túc Đạo vừa đấu kiếm chống 3 kẻ địch, vừa phóng chỉ vào
cây đàn để dưới đất, đàn cho Quách Tương nghe một cầm tấu khúc mới nhất. Quách
Tương nghe tiếng đàn và đỏ mặt lên, biết Hà Túc Đạo viết khúc cầm phổ này để tặng
cho mình. Họ chỉ gặp nhau một lần ngắn ngủi trong rừng chùa Thiếu Lâm và xa
nhau một đời. Làm sao mà cuộc đấu kiếm hung hiểm lại có thể cùng diển ra một
lúc với cung đàn thanh thoát, trữ tình? Mặc kệ, Kim Dung cứ viết. Ông đúng là
nhà văn lãng mạn, lãng mạn ngay trong đường đao mũi kiếm. Và vì vậy trong tác
phẩm võ hiệp của ông, ngay những loại kiếm pháp, kiếm trận hung hãn nhất vẫn
luôn luôn lấp lánh những khúc tình ca.
Đao luận
Cũng như kiếm, đao là vũ
khí chiến tranh cổ điển. Tuy nhiên, đao đứng đầu trong 4 thứ vũ khí: đao, thương,
kiếm, kích. Có trường hợp, đao hình thành nên tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp Kim
Dung. Trong ký ức của tôi, vẫn còn in đậm nét người thiếu niên tiểu anh hùng Hồ
Phỉ, cưỡi con ngựa trắng, cầm cây đơn đao với sở học bài Hồ gia đao pháp từ đất
Sơn Đông đi về Trung Nguyên tìm cho ra kẻ thù đã giết cha mình. Đó là nội dung
bộ Lãnh nguyệt bảo đao, còn gọi là Thần đao Hồ đại đởm. Câu truyện về Hồ Phỉ
như một huyền thoại thật đẹp: tìm thấy kẻ thù rồi, Hồ Phỉ vẫn giơ cao lưỡi bảo
đao lóng lánh dưới bóng trăng lạnh, không nỡ chém xuống. Bởi anh nhận ra kẻ thù
của mình là một người chính nhân quân tử - Đả biến thiên hạ vô địch thủ kim diện
Phật Miêu Nhân Phượng. Bởi anh nhận ra kẻ thù của mình không cố tình giết cha
mình ngày trước. Lãnh nguyệt bảo đao kết thúc một cách đột ngột, lơ lửng; mênh
mang tình nhân ái, đức bao dung; trở thành bài ca thật đẹp của chủ nghĩa nhân đạo
phương Đông. Trong bộ Ỷ thiên Đồ long ký, hai chữ Đồ long là tên gọi của lưỡi bảo
đao mà mọi bang hội, võ phái giang hồ đời Nguyên thèm khát. Tại sao thế? Ngoài
khả năng chém sắt như chém bùn, bảo đao Đồ long còn mang trong thân nó một pho
binh thư tương truyền là của Nhạc Phi - danh tướng chống quân Kim đời Tống - để
lại. Đó là bộ Vũ Mục di thư. Chính quần hùng Minh giáo đã tìm thấy pho di thư này,
và với những bài bản chiến tranh của Nhạc Vũ Mục, họ đã tìm được lối thoát khi
quần hùng Trung Nguyên bị quân Mông Cổ vây hãm, tiến hành cuộc chiến tranh giải
phóng dân tộc Trung Hoa thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của nhà Nguyên. Đồ
long (giết rồng) thực sự không nói về tính năng của lưỡi đao. Rồng đây chính là
Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt. Người làm ra cây đao Đồ long có khát vọng cao xa:
mong người yêu nước đời sau lấy được binh thư, đẩy được quân xâm lăng ra khỏi bờ
cõi, giết được vua nhà Nguyên để trả hờn cho trăm họ Hán tộc. lưỡi đao Đồ long
chính là biểu tượng của bài ca yêu nước mà mọi dân tộc bị áp bức, bóc lột đều
mong có được. Lưỡi đao còn khá phổ biến trong 9 bộ tiểu thuyết võ hiệp khác của
Kim Dung. Có 3 cách đánh đao: đơn đao, song đao và phi đao. Đơn đao là phép
đánh đao của một người. Song đao hay song đao hợp bích là phép đánh đao của hai
người cùng học một thầy, một sách liên kết để chống địch thủ. Phi đao là loại
đao cực ngắn, không dùng để đánh mà để phóng vào địch thủ. Để phóng được phi
đao, khách giang hồ phải đeo bao tay bằng sắt, gọi là thiết sam hay thiết bố
sam. Những nhân vật sử đao trong tác phẩm Kim Dung thường là nhân vật tay chân
linh hoạt, cơ trí hơn người. Tiếu ngạo giang hồ xây dựng nhân vật Điền Bá
Quang, tay cầm ngọn đơn đao, ngày chân đi ngàn dặm, nổi danh vạn lý độc hành với
13 đường khoái đao linh hoạt như gió táp, mưa sa. Chính Lệnh Hồ Xung đã có dịp
đánh và nhớ lại phương pháp khoái đao của Điền Bá Quang. Chỉ trong một hơi thở,
hắn đã đánh ra 13 thế khoái đao gồm đông, tây, nam, bắc, tiền, hậu, tung, hoành
rồi đà đao dừng lại, vững như núi Thái Sơn. Hắn đánh nhanh đến nỗi Lệnh Hồ Xung
nín thở và khi sư nương của Lệnh Hồ Xung là Ninh Trung Tắc cố gắng biểu hiện lại
đường khoái đao đó, Lệnh Hồ Xung chỉ lắc đầu. Bà dùng kiếm, kiếm nhẹ hơn đao,
đáng lẽ là đánh nhanh hơn đao. Nhưng đường kiếm mô phỏng phép khoái đao của bà
còn chậm nhiều so với đao pháp của Điền Bá Quang. Về sau này, Lệnh Hồ Xung luyện
được phép Độc Cô cửu kiếm do Phong Thanh Dương truyền cho. Anh đem kiếm pháp
này dùng vào phép đánh đao; cây đao của anh là vũ khí đoạt được từ tay cẩu quan
Ngô Thiên Đức. Anh đã cứu phái Hằng Sơn bằng cây đao đánh theo kiếm pháp, nội
công mạnh đến nỗi chưa kịp rút vỏ đao ra khỏi lưỡi, phóng đao tới, đao khí đủ
giết chết kẻ thù. Cây đao của Ngô Thiên Đức là một cây đao cán dài (vì tướng
quân thì phải đi ngựa). Lệnh Hồ Xung kẹp đao trong nách, chìa cán ra phía sau,
lấy cán đao làm vũ khí điểm huyệt. Trận chiến cứu phái Hằng Sơn trong hang Long
Tuyền chú kiếm cốc là trận chiến mà thắng lợi thuộc về lưỡi đao rỉ sét của tham
tướng Ngô Thiên Đức. Cũng trong Tiếu ngạo giang hồ, Kim Dung giới thiệu cho độc
giả một lưỡi đao rởm đời. Đó là Kim đao Vương Nguyên Bá, ông ngoại của Lâm Bình
Chi, một nhà giàu bậc nhất thành Lạc Dương, lấy biểu trưng là lưỡi đao bằng
vàng. Lệnh Hồ Xung mất hết công lực, theo chân phái Hoa Sơn đến nhà này ăn báo
cô mấy bữa. Các con của Vương Nguyên Bá vu cáo Lệnh Hồ Xung ăn cắp Tịch tà kiếm
phổ của dòng họ Lâm, dùng cầm nã thủ bẻ trật hai khớp tay của Lệnh Hồ Xung, lục
trong người anh lấy ra bản cầm phổ Tiếu ngạo giang hồ mà chúng cho là kiếm
pháp. Trước nỗi oan của học trò, bà Ninh Trung Tắc đã đề nghị nhà họ Vương cùng
đi đến ngõ Lục Trúc, thành Lạc Dương nhờ Lục Trúc Ông xem thử đây là cầm phổ
hay kiếm phổ. Và cơ duyên này đã run rủi Lệnh Hồ Xung gặp được Thánh cô Nhậm
Doanh Doanh. Chính hôm tiễn Lệnh Hồ Xung ra đi, Lục Trúc Ông cũng ra một chiêu
cầm nã thủ bẻ trật 4 khớp xương tay của hai người con Kim đao Vương Nguyên bá,
trừng trị tội hỗn láo với Lệnh Hồ Xung ngày trước. Trong Hiệp khách hành, lưỡi
đao lại nhuốm một màu hài hước thú vị và màu hài hước đó được Kim Dung diễn đạt
một cách điềm tĩnh lạ lùng. Đó là lưỡi đao của Thạch Phá Thiên. Sử bà bà giận
chồng là Bạch Tự Tại, chưởng môn phái Tuyết Sơn, và cậu con trai Bạch Vạn Kiếm.
Bà bỏ nhà ra đi, dẫn theo cô cháu nội A Tú mới 14 tuổi. A Tú gặp Thạch Phá
Thiên, cả hai kết làm đôi bạn nhỏ. Để trừng trị chồng, Sử bà bà lập ra một phái
- phái Kim Ô; sáng tạo ra đường đao pháp mới: Kim Ô đao pháp. Thử hỏi, phái Tuyết
Sơn (núi tuyết) mà gặp phải Kim Ô (mặt trời) thì số phận Tuyết Sơn sẽ ra sao?
Trong khi con ruột của bà tên là Bạch Vạn Kiếm (đánh ra 10.000 thế kiếm) thì bà
nhận Thạch Phá Thiên làm đệ tử truyền nhân, đặt tên là Sử Ức Đao (đánh ra
100.000 thế đao) và dạy cho Thạch Phá Thiên những chiêu thức đao pháp hoàn toàn
là khắc tinh của Tuyết Sơn kiếm pháp. Chàng thiếu niên 15 tuổi chăm chỉ học
hành, càng học càng giỏi nhưng chẳng hề hiểu rõ ý đồ của sư phụ. Riêng Bạch A
Tú thì hiểu tất cả. Cô biết bà nội mình đang muốn triệt hạ ông nội và cha của
mình. Thử hỏi, 10.000 thế kiếm mà phải chống đỡ với 100.000 thế đao thì số phận
Bạch Vạn Kiếm sẽ ra sao? Cho nên, A Tú đã quỳ xuống trước mặt Thạch Phá Thiên,
xin chàng thiếu niên ngày sau nhiêu dung cho ông nội và cha. Giữa cô bé và Thạch
Phá Thiên đã có một chút tình cảm nhẹ nhàng vượt qua tình bạn đơn thuần. Thạch
Phá Thiên quí người bạn nhỏ, hứa với cô sẽ không bao giờ sử ức đao của Kim Ô
đao pháp để phá bạch vạn kiếm của Tuyết Sơn kiếm pháp; rằng anh sẽ không bao giờ
làm hại ông nội và ba cô. Và về sau, anh đã nối kết được những tâm hồn lạc lõng
của phái Tuyết Sơn, đem hạnh phúc đoàn tụ về cho họ. Lưỡi đao của anh chẳng giết
ai cả, chỉ nhằm cứu người, giúp đời. Đao gắn liền với triết lý phương Đông.
Trong võ hiệp Kim Dung, có Lưỡng nghi đao pháp, Lục hợp đao pháp, Ngũ hổ đoạn
môn đao, Ngũ hành bát quái đao, Âm dương đao... những khái niệm triết học gắn
liền với đường đao cụ thể, buộc con người sử đao ít nhất cũng phải có một vũ trụ
quan, một nhân sinh quan để hiểu mình đang làm gì, phục vụ lợi ích nào. Đao gắn
liền với tình yêu đôi lứa. Hồ Phỉ cầm đơn đao đi từ đất Sơn Đông sang Trung
Nguyên, gặp gỡ Viên Tử Y. Cả hai đang tuổi vào đời, tình bạn cực kỳ thắm thiết,
tình yêu chỉ mới chớm nụ. Họ cùng đi, cùng ăn, cùng ở gần nhau trong ngôi cổ miếu,
trong quán lương đình nhưng vẫn giữ lòng trong sạch, không gợn chút bùn nhơ.
Trong Lộc Đỉnh ký, Mỹ đao vương Hồ Dật Chi là một nhân vật nức tiếng giang hồ,
đao pháp tinh kỳ, khuôn mặt đàn ông đẹp như ngọc. Hồ Dật Chi say mê một người
phụ nữ: Trần Viên Viên. Trần Viên Viên là hoa hậu trong làng kỹ nữ, từng là thứ
thiếp của vua Sùng Trinh cuối đời Minh mạt. Lý Sấm nổi loạn đánh Sùng Trinh, cướp
được Trần Viên Viên. Ngô Tam Quế phản Sùng Trinh, ép Sùng Trinh tự tử, đánh đuổi
được Lý Sấm, Trần Viên Viên thành vợ hờ của Ngô Tam Quế. Khi sang Vân Nam nhậm
chức Bình Tây vương của Khang Hy ban tặng, Ngô Tam Quế đã đưa Trần Viên Viên đi
theo, cho Viên Viên ở và tu hành trong một ngôi chùa nhỏ ngoại ô thành Côn
Minh. Viên Viên dốc hết cả lòng, hát Viên Viên khúc giãi bày tâm trạng hồng
nhan trôi nổi của mình. Mỹ đao vương Hồ Dật Chi say mê nhan sắc đó, tình nguyện
bỏ lưỡi đao giang hồ, trở về nơi Trần Viên Viên tu hành, làm một người quét rác
trồng hoa để được nghe Viên Viên hát. Trọn cuộc đời phục thị cho người đẹp, Mỹ
đao vương nghe được chừng ba bốn chục câu. Lòng say đắm nhan sắc cỡ Hồ Dật Chi
đã mấy ai trên đời có được. Lưỡi đao gắn liền với tấm lòng nhân ái, tha thứ cho
con người. Thiên Long bát bộ thuật chuyện bang chúng Cái bang tụ tập chống lại
bang chúa Kiều Phong, phạm tội khi sư diệt tổ, phải lấy pháp đao ra hành hình.
Nhưng bang qui của Cái bang cũng có điều luật quy định bang chúa có quyền tự đổ
máu mình để chuộc tội cho thuộc hạ. Kiều Phong đã làm việc đó vì ông vốn thương
yêu thuộc hạ. Ông tự lấy dao đâm vào da thịt mình, xoá hết tội lỗi cho những kẻ
đã mưu phản ông. Câu chuyện làm ta nhớ đến tích Phật tổ tự cắt thịt mình cho
chim ó ăn để cứu lấy con thỏ vô tội. Đao gắn liền với những cuộc chiến tranh giữ
nước. Lộc Đỉnh ký thuật lại chuyện quân dân đảo Đài Loan tiến hành cuộc chiến
tranh chống sự xâm lược của liên quân Hà Lan và Bồ Đào Nha - tiếng Trung Quốc gọi
chung là Hồng mao quỷ. Trước hoả khí cực kỳ lợi hại của người Tây dương, người
Trung Quốc đã tổ chức những đội Đằng bài quân: toán trước dùng ván gỗ dầu quấn
rơm che khít để chắn súng đạn, toán sau chuyên sử đoản đao và đánh theo Địa đường
đao pháp, chém vào hạ bàn (chân cẳng) của địch. Kết quả là người Đài Loan đã đẩy
lui được những đợt tấn công của liên quân Tây dương. Học được kinh nghiệm đó,
khi sang biên giới Trung - Nga đánh nhau với quân Nga - mà người Trung Quốc gọi
là quân La Sát - tư lệnh Vi Tiểu Bảo đã tổ chức những toán Thanh binh chuyên
đánh Địa đường đao, tấn công chém chân ngựa của kỵ binh Kha Tát Khắc (Cosaque).
Vi Tiểu Bảo báo cáo:"chém được mấy ngàn cặp chân lông lá" để ai hiểu
sao thì hiểu vì chân ngựa có lông mà chân của chiến sĩ kỵ binh Cosaque cũng có
lông! Đao là vũ khí để đấu tranh, để giết người. Nhưng trong truyện võ hiệp Kim
Dung, ít có ai bị giết, bị thương bằng đao. Kim Dung nhiều lần nhắc lại câu
trong kinh Phật: "Buông lưỡi đao đồ tể xuống sẽ thành Phật". Nhiều
nhân vật đã ngộ ra câu nói ấy, trong đó có cả Kim mao sư vương Tạ Tốn, một nhân
vật tàn độc trong bộ Ỷ thiên Đồ long ký. Trong tâm hồn tôi vẫn lấp lánh lưỡi
đao nhân ái của tiểu anh hùng Hồ Phỉ. Anh không nỡ chém lưỡi đao của mình xuống
thân thể kẻ thù Miêu Nhân Phượng. Dưới bóng trăng lạnh, lưỡi đao lấp lánh và dừng
lại ở khoảng không. Người đọc thở phào nhẹ nhõm, nhận ra được sự thắng lợi của
lòng nhân ái, của đức bao dung. Lãnh nguyệt bảo đao đúng là một tác phẩm tiểu
thuyết lạ lùng, khắc hoạ hình tượng lưỡi đao vừa đẹp, vừa thơ mộng. Hồ Phỉ -
con trai của Hồ Nhất Đao - đã làm một việc mà cha mình chưa làm được: tha thứ
cho kẻ thù và biểu dương chính nghĩa của đường đao hành hiệp, cứu người Cành
mai trên Thiên Sơn Thiên Sơn là tên một rặng núi hiểm trở thuộc khu vực ngoại
Tân Cương, phía Tây – Tây Bắc Trung Hoa, là biên giới thiên nhiên giữa Trung
Hoa và Kirghizitan. Không hiểu từ giấc mơ lãng mạn nào, nhà văn Kim Dung đã để
cho chàng thiếu niên Trương Vô Kỵ mới 15 tuổi dắt tay cô bé gái Dương Bất Hối
11 tuổi đi từ An Huy, vượt qua khoảng 18.000 dặm lên tới đỉnh Côn Lôn trong rặng
Thiên Sơn, giúp Bất Hối tìm được người cha Dương Tiêu. Cơ duyên đã đưa đẩy cậu
bé gày gò Trương Vô Kỵ bò lọt qua một hang đá nhỏ, tìm ra một thung lũng đẹp, học
được thần công trong Cửu Dương kinh. Cơ duyên đã khiến cậu bé ở đó làm bạn với
cỏ cây, với khỉ vượn, rồi lên tới Quang Minh đỉnh (đỉnh Pobedy cao nhất của Thiên
Sơn – 7439 mét) nơi đặt tổng đàn của Bái hỏa giáo (Minh Giáo) Trung Hoa, học được
thần công Càn khôn đại nã di của Bái hỏa giáo. Lại cũng chính cơ duyên đã đưa
Trương Vô Kỵ – bấy giờ đã là chàng thanh niên 20 tuổi – phải đối đầu với sáu đại
môn phái Trung Hoa khi họ muốn tuyệt diệt Bái hỏa giáo. Kinh qua những đoạn đời
đau khổ, chàng thanh niên đôi mươi đó đã đủ chín chắn để biết tự dặn mình không
được giết người, không được gây thù nhưng phải bảo vệ được những tinh hoa của
Bái hoả giáo bởi vì họ là những người yêu nước, kháng Nguyên Mùa xuân là mùa
hoa mai nở. Hoa mai trên Thiên Sơn thích nghi với khí hậu giá lạnh quanh năm, đến
tháng 3, tháng 4 Dương lịch vẫn còn mãn khai. Trong tư duy lãng mạn đậm màu sắc
phương đông, tác giả Kim Dung đã để cho nhân vật của mình bẻ một
“cành mai trên núi Thiên Sơn” làm vũ khí chống lại
song đao, song kiếm. Vợ chồng Hà Thái Xung – Ban Thục Nhàn của phái Côn Lôn sử
Chính Lưỡng nghi kiếm pháp. Hai trưởng lão của phái Hoa Sơn sử Phản Lưỡng nghi
đao pháp. Chính và phản là hai mặt đối lập triệt để nhưng khi đã hợp bích thì
oai lực mạnh vô song, bởi nguyên tắc Âm Dương tương điều, thủy hoả tương chế.
Chính biến của kiếm pháp có 64 thế, kỳ biến của đao pháp có 64 thế; 64 nhân cho
64 thành ra 4096 thế liên miên bất tuyệt. Bốn địch thủ của Trương Vô Kỵ cụ thể
hoá triết học phương Đông thành bài bản chiến đấu: phía Nam quẻ Càn, phía Bắc
quẻ Khôn, phía Đông quẻ Ly, phía Tây quẻ Khảm. Ngoài bốn chính phương còn bốn
bàng phương: Đông Bắc quẻ Chấn, Đông Nam quẻ Đoài, Tây Nam quẻ Tốn, Tây Bắc quẻ
Cấn. Chính lưỡng nghi kiếm pháp của phái Côn Lôn đi từ Chấn vị tới Càn vị; phản
Lưỡng nghi đao pháp của phái Hoa Sơn đi từ Tốn vị tới Khôn vị. Chính đi thuận,
phản đi nghịch; ai rơi vào thế liên thủ giáp công của họ thì khó tránh được cái
vòng biến ảo huyền diệu của nguyên lý Âm Dương. Vô Kỵ biết rằng mình không đơn
giản chỉ đấu với chính – phản Lưỡng nghi mà đang đấu với một triết lý thực chứng
của Đông phương. Anh đã nhớ lại những lời đã học trong Cửu dương kinh: “Gió thổi
qua mỏn núi mặc cho nó ngang tàng, ánh trăng vẫn chiếu trên sông lớn” và “Quý hồ
ta vẫn giữ được một hơi chân khí sung mãn”. Đó chính là nguyên lý “Dĩ bất biến ứng
vạn biến” trong tư duy Đông phương. Anh cũng nhận ra rằng chính – phản Lưỡng
nghi thể hiện được là do gốc ở bộ pháp. Bước chân của bốn đại cao thủ sẽ đi từ
Qui Muội qua Vô Vọng, Vô Vọng qua Đồng Nhân, Đồng Nhân qua Đại Hữu… Anh khéo
léo sử phương pháp bốn lạng chống ngàn cân, lấy cái nhẹ nhàng bay bướm để hoá
giải cái cường mạnh, lấy chậm để chế nhanh, lấy cái vụng về chế cái tinh xảo, lấy
chiêu thức của người đẩy về phá người. Trương Vô Kỵ sử dụng một cành mai tươi đẹp
dịu dàng bay nhảy trong rừng đao kiếm. Ấy thế mà cành mai không rụng lấy một
bông! Vận dụng tư duy Đông phương và tiểu thuyết một cách lãng mạn đến thế là
cùng. Trong văn chương và triết học Trung Hoa, mai được nâng lên bạn hữu của
con người, đứng đầu mai, lan, cúc, trúc. Chưa thấy tác phẩm nào nói chuyện con
người sử cành mai làm vũ khí để chiến đấu và chiến thắng, trừ bộ Ỷ thiên Đồ
long ký của Kim Dung. Tôi nghĩ tới một ý đồ khác của nhà văn. Ông cho cái đẹp
chiến thắng cái thô bạo; cái nhân tính tiềm ẩn trong cành mai chiến thắng cái
tàn bạo tiềm ẩn trong đao, kiếm; cái hồn hậu của tự nhiên chiến thắng cái cơ
tâm của con người! Quả thật lãng mạn khi nhà văn cho phép cành mai đấu với đao
kiếm. Tôi cho rằng tư duy lãng mạn đó chỉ có thể có trong tiểu thuyết phương
Đông, trong triết học phương Đông. Cả ba thứ cành mai, chính Lưỡng nghi kiếm
pháp, phản Lưỡng nghi đao pháp là những hình tượng mang nặng tính ẩn dụ. Văn
chương cho phép người ta bay bổng tuyệt vời mặc dù cả tác giả và độc giả đều sống
trên mặt đất. Tôi đọc hai thiên Tiêu dao du và Tề vật luận trong Nam hoa kinh của
Trang Tử rồi so sánh với cành mai dịu dàng thanh thoát trong Ỷ thiên Đồ long ký
và cảm thấy hạnh phúc vì cái đẹp còn tồn tại mãi bên đời chúng ta.
Thư pháp và Võ công
Hiểu một cách đơn giản, thư pháp là cách viết
chữ của người Trung Quốc. Hiểu một cách sâu hơn, thư pháp là những phép viết chữ
để đạt đến 1 trình độ mỹ thuật riêng của người Trung Quốc. Không sử dụng tự dạng
Latin, Hán tự của người TrungQuốc có một lối cấu tạo chữ viết đặc thù mà bản
thân mỗi chữ có thể xem là một bức đồ họa riêng biệt bởi các đường nét, độ đậm
nhạt và phương pháp phóng bút của nó. Chính vì thế về tự dạng đã là động lực cơ
bản đưa những danh gia đến tham vọng hình thành một thư pháp cho mình. Theo sự
phát triển của chữ viết Trung Quốc, thư pháp có 5 loại: Triện thư, Lệ thư, Khải
thư, Hành thư và Thảo thư. Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung thường nhắc đến thư
pháp của bốn nhà Tô, Huỳnh, Mễ, Xái. Nhưng điểm đặc biệt trong tiểu thuyết võ
hiệp Kim Dung là tác giả luôn luôn kết hợp với thư pháp với võ công và chính sự
kết hợp đó đã tạo ra một chiều sâu trí tuệ cho những tác phẩm, đem lại sự thích
thú cho người đọc. Một trong những vũ khí chuyên sử dụng để điểm huyệt được nhắc
đến thường xuyên trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung là cây Phán quan bút (cây
bút của viên quan chấp pháp, xử kiện). Phán quan bút cũng có hình dạng như cây
bút lông nhưng đầu của nó bắng kim loại, nhọn, nhắm đánh vào các huyệt đạo trên
người địch thủ. Lãng mạn hơn, Kim Dung cho những nhân vật của mìnhsử dụng phán
quang bút đánh theo từng nét trong từng chữ của những bài thơ, bài từ trong khi
lâm địch như một đường kiếm pháp hay đao pháp. Thư pháp gắn liền với võ côngđến
ỗi chúng tạo cho ta cái cảm giác không thể phân biệt đâu là thư pháp, đâu là võ
công. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, chưởng môn phái Võ Đang Trương Tam Phong có kỹ
thuật sử dụng ngón tay (chỉ) viết chữ vào khoảng không. Trương Tam Phong mô phỏng
thư pháp của Vương Hy Chi đời Đông Tấn để viết Tán Loạn thiếp để giải toả toàn
bộ mối lo lắng của mình khi một người học trò cưng bị kẻ địch đánh gãy hết các
khớp xương. Trương Tam Phong viết vào khoảng không 24 chữ của bài ca Ỷ Thiên Đồ
Long: Võ lâm chí tôn Bảo Đao Đồ Long Hiệu lệnh thiên hạ Mạc cảm bất tòng Ỷ
thiên bất xuất Thuỳ dữ tranh phong Người đệ tử thứ năm là Trương Thuý Sơn cố gắng
học và ghi nhớ thư pháp Tán loạn của thầy. Anh biết trong ngón tay biến hoá kỳ ảo
đó ẩn tàng một môn võ công vi diệu. Và anh gọi tên nó là Đồ Long công. Về sau
khi xuống núi Trương Thuý Sơn sử dụng Đồ Long công chuyển thành quyền pháp đánh
nhau với các vị sư chùa Thiếu Lâm tại phủ Lâm An, Giang Nam và đã chiến thắng.
Trương Thuý Sơn là một hào kiệt nho nhã, say mê thư pháp. Bên sông trong cơn
mưa, Trương Thuý Sơn đã gặp được Hân Tố Tố, con gái của giáo chủ Bạch Mi giáo,
được Tố Tố cho mượn chiếc dù che mưa. Trên chiếc dù ấy, Tố Tố đã viết 7 chữ “Tà
phong tế vũ bất tu quy” (gió nghiêng mưa nhẹ chẳng nên về) và Tố Tố đề nghị
Thuý Sơn nhận xét cho chữ “bất” vì theo cô chỉ có chữ này là cô viết tệ nhất.
Thuý Sơn khen chữ “Bất” ấy là dư vận bất tận, càng xem càng quên cả mỏi mệt.
Chính nhận xét ấy lại rất hợp ý Hân Tố Tố. Và họ thương yêu nhau, đơn giản qua
nét bút của thư pháp viết trên chiếc dù. Trên Vương Bàn Sơn sông Tiền Đường.
Trương Thuý Sơn phải đối đầu với một địch thủ hùng mạnh là Tạ Tốn. Để tự cứu
mình, Trương Thuý Sơn đề nghị Tạ Tốn thi... viết chữ. Dùng phán quan bút, Thúy
Sơn đã viết lên đá 24 chữ của Đồ Long công theo bút pháp Tán loạn đã học được của
thầy. Hai mươi bốn chữ ấy là một môn võ công bao gồm âm dương, cương nhu, tinh
thần, khí thế; hùng biện, sắc bén như dao như kiếm. Thấy chàng thư sinh biểu diễn
thư pháp Tán loạn, Tạ Tốn phải gật đầu công nhận mình thua. Tiếu ngạo giang hồ
ký thuật lại câu chuyện thú vị của Hướng Vân Thiên, Quang Minh tả sứ của Triêu
Dương thần giáo, dẫn Lệnh Hồ Xung đến Cô Mai sơn trang khiêu khích bọn Giang
Nam tứ hữu. Hướng Vân Thiên đã khoe bức tranh “Bắc Tống Phạm Trung Lập khê sơn
hành lữ đồ" trong đó vẽ toà núi cao ngất trời, thanh thế mười phần hiểm
tuân; một bức thảo thư mà mỗi chữ nột nét như rồng bay phượng múa. Ở đây Phạm
Trung Lập đã mô phỏngbút pháp của Trương Húc đời Đường. Bức thảo thư có khí tượng
của một môn khinh công của một võ lâm cao thủ. Trong Giang Nam tứ hữu có nhân vật
Ngốc Bút Ông là một danh gia sử phán quan bút. Khác với những người sử phán
quan bút bình thường, Ngốc Bút Ông dùng đầu bút là loại lông dê mềm, tự hoà một
loại mực rất lạ, hễ thấm vào da thịt ai là ăn luôn, không tẩy rửa được. Công lực
của lão thượng thừa nên khi lão phóng bút viết vào khoảng không, kình lực tuôn
ra đầu ngòi bút veo véo. Đấu với Độc cô cửu kiếm của Lệnh Hồ Xung, Ngốc Bút Ông
viết bài " Bùi tướng quân thi " theo thư pháp Nhan Châu Khanh: Đại
quân chế lực hợp Mãnh tướng thanh cửu cai Chiến mã như long hổ Đằng lăng hà
tráng tai Lệnh Hồ Xung sử Độc Cô cửu kiếm, kiếm ý đi trước bút pháp của Ngốc
Bút Ông, phong toả toàn bộ bút pháp đắc ý của lão khiến lão đâm ra bực bội. Mà
đại phàm, khi cầm bút viết chữ mà lòng bực bội thì chữ nghĩa chẳng ra làm sao cả.
Ngốc Bút Ông chuyển sang thư pháp Đại Thảo, một dạng thư pháp đặc biệt của
Trương Phi (Trương Dực Đức) đại tướng của Tây Thục. Lão viết liền 4 chữ Bát
mông sơn minh, khí thế Đại thảo liên hoàn như tuốt kiếm giương cung. Rồi lão lại
chuyển sang Đại thảo theo phong cách của Hoài Tố viết tự sự thiếp, bút pháp cực
kỳ phức tạp. Mặc cho lão biến đổi bút pháp, Lệnh Hồ Xung cứ lựa chỗ sơ hở của
lão mà phát chiêu, kiếm thế nhẹ nhàng nhưng cực kỳ thần tốc. Ngốc Bút Ông bị
phá sản bút pháp, sinh ra uất hận. Lão đổ 1 hũ rượu Bồ đào xuống đất, chấm rượu
viết lên tấm vách 23 chữ của bài Bùi Tướng Quân thi (trong đó có 3 chữ tên tác
giả). Kim Dung mô tả 23 chữ ấy đẹp và dũng mãnh như muốn xé tấm vách mà bay đi.
Nét chữ thể hiện tính cách riêng của từng con người, trở thành vốn liếng riêng,
đặc điểm riêng giúp ta xác định được chính người này chứ không phải người kia
viết. Từ sự xác định ấy, người ta khám phá ra những bí mật đằng sau cuộc sống,
đặc biệt là cuộc sống tâm linh. Đã có 2 trường hợp như vậyđược Kim Dung xây dựng
trong tác phẩm của mình. Trong Tiếu ngạo giang hồ ký, khi Nhạc Linh San đã chết,
Lệnh Hồ Xung trở lại Hoa Sơn, tìm vào thăm căn phòng xưa của Nhạc Linh San. Anh
chợt nhìn bức thiếp thư do chính Nhạc Linh San viết, nội dung là bài thơ của Lý
Thương Ẩn: ...Nhớ xưa luyến ái Hàn công tử Xương trắng thành tro hận chửa tan
Và Lệnh Hồ Xung chợt hiểu ra rằng sau đám cưới với Lâm Bình Chi, Nhạc Linh San
vẫn yêu mình. “Hàn công tử” đây chính là Lệnh Hồ Xung! Và từ đó, Lệnh Hồ Xung
càng cảm thấy thương yêu người sư muội bạc phận hơn. Thư pháp đã thể hiện tâm
tình, trở thành một thứ giác thư của tình yêu đôi lứa mà người nào không có tâm
tình thì vĩnh viễn không nhận ra được. Trường hợp thứ 2 được thuật lại trong
Thiên Long bát bộ, khi Tiêu Phong về ngồi trong căn phòng riêng của Nguyễn Tinh
Trúc (mẹ của người tình A Châu) ở Tiểu Kính hồ, Giang Nam. Ông đọc bức thiếp
thư trên vách và khám phá ra thủ bút mềm mại, uyển chuyển của Đoàn Chính Thuần,
khác hẳn nét chữ của “thủ lĩnh đại ca" viết thư gửi cho Uông Kiếm Thông
bàn chuyện về cái chết của cha mẹ Tiêu Phong và số phận Tiêu Phong. Lập tức
Tiêu Phong hiểu ra mình bị Ôn Khang lừa, Đoàn Chính Thuần không phải là “thủ
lĩnh đại ca”; Tiêu Phong đã giết oan người tình Đoàn A Châu rồi. Chính từ sự tỉnh
ngộ này mà Tiêu Phong bỏ ý định tự vẫn, quyết sống để tìm ra gã “thủ lĩnh đại
ca” giấu mặt ấy, trả hờn cho cha mẹ và cho cả A Châu. Bức thiếp thư trở thành một
bằng chứng giúp Tiêu Phong phá án. Và ông đã tìm ra kẻ đại cừu của mình Cũng
trên cơ sở thư pháp, Kim Dung đã xây dựng 2 nhân vật dốt nát chơi thư pháp. Vi
Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh ký đã đọc văn bia viết bằng Giáp cốt văn, thứ văn tự tối
cổ của Trung Quốc để đánh lừa Lục Cao Hiên và Ủy tôn giả, và qua 2 nhân vật này
lừa luôn giáo chủ Thần long giáo Hồng An Thông. Thật ra đến Khải thư, tức chữ
chân phương, Vi Tiểu Bảo còn đọc không ra, huống chi nói đến Giáp cốt văn, Khoa
đẩu văn tối cổ. Chẳng qua là khi bị bắt, Vi Tiểu Bảo phải dùng đến thói lưu
manh để đánh lừa Thần long giáo và những trò bịp bợm đó đã được những kẻ nịnh bợ
giáo chủ biết nhưng lỡ nịnh bợ rồi cứ phải gọi đó là chuyện có thật. Đó là một
thứ “thắng lợi tinh thần” hiện đại; phải lừa nhau như thế mới giữ được ngôi vị,
giữ được cái đầu trên cổ. Thạch Phá Thiên trong Hiệp khách hành là 1 chàng trai
thất học, không biết 1 chữ nào. Ấy thế mà trên đảo Long Mộc, chàng trai phải đối
diện với Khoa đẩu văn. Không cần biết hàng chữ Khoa đẩu văn ấy viết nội dung
gì, chàng trai chỉ quan tâm đến tự dạng. Khoa đẩu văn tức chữ con nòng nọc, rất
gần gũi với tuổi thơ của Thạch Phá Thiên ở vùng hoang sơn dã lĩnh. Cứ xem tới
nét nào thì huyệt đạo của Thạch Phá Thiên tự vận động tới đó và chỉ cần làm như
thế, chàng trai dốt nát đã khám phá ra được toàn bộ bí quyết của võ công Hiệp
khách hành. Nếu Lý Bạch sống lại được, chắc hẳn ông phải khen hậu bối Kim Dung
lỗi lạc hơn ông rất nhiều: chẳng cần biết Hiệp khách hành viết cái gì, chỉ cần
biết Hiệp khách hành viết như thế nào, nghĩa là chỉ dừng lại ở ngoại quan thư
pháp mà không cần đi vào nội hàm tư tưởng, là đủ. Nhân loại đã khổ quá nhiều vì
những cái lưỡi dối trá, những suy diễn dài dòng văn tự. Thế mạnh của văn tự
Trung Quốc là đã hình thànhđược những trường phái thư pháp đặc dị, mở ra 1
khuynh hướng mỹ thuật lạ lùng. Kim Dung đã lợi dụng thế mạnh ấy và lãng mạn
hơn, đem thế mạnh ấy kết hợp với võ công. Hai phạm trù, một võ, một văn, tưởng
như mâu thuẩn nhau tột cùng, lại được kết hợp một cách hài hoà, tài hoa. Văn
chương của các bậc tiền bối Trung Quốc chưa làm được điều ấy; chỉ đến Kim Dung
mới có thể làm được. Đó chính là sự sáng tạo độc đáo trong văn chương tiểu thuyết
võ hiệp Kim Dung. Suy niệm ký tiểu hữu
Tôi đang ngồi trên bãi biển
Nha Trang. Mùa xuân, trời thật đẹp nhưng biển chiều vẫn mang theo cái vẻ u uất,
trầm tư ngàn đời của nó. Bỗng dưng, tôi chợt nhớ đến đoạn Tiểu Siêu chia tay
Trương Vô Kỵ trên biển, đoạn văn mà tôi cho là đẹp nhất, xúc động nhất trong Ỷ
thiên Đồ long ký. Mối tình thơ ngây ấy của Tiểu Siêu đã bị ngăn trở bởi hàng
rào tôn giáo, cô phải hy sinh để cứu mạng sống và chuộc lại lỗi lầm cho mẹ
mình. Ngôi vị dành cho cô tại Ba Tư là giáo chủ Bái hỏa giáo, biểu tượng của một
thứ quyền lực và vinh quang tột đỉnh mà mọi cô gái đồng trinh đều mơ ước. Nhưng
thực chất, làm giáo chủ Bái hỏa giáo Ba Tư hạnh phúc hơn hay làm người tình nhỏ
của Trương Vô Kỵ ở Trung Hoa để suốt đời được cùng nhau phiêu bạt giang hồ là hạnh
phúc hơn? Tiểu Siệu thích cái thứ hai nhưng bắt buộc phải chọn cái thứ nhất. Sự
mâu thuẫn giữa tình yêu và tôn giáo, giữa tình yêu và bổn phận làm con đã được
đẩy lên đến đỉnh điểm. Điều đau sót nhất trong mối tình đầu đã có thể làm Tiểu
Siêu nổ tung ra được, chết đi tức khắc được. Có hiểu được cái uyên nguyên sâu
xa ấy chăng, hỡi biển của đời tôi? Có một lần, tôi lên Gia Lai, dừng chân lại
trên đỉnh đèo Krong Buk giữa biển sương khói mênh mông, lạnh buốt của một sáng
cuối đông. Tôi đứng dưới những cụm sơn tùng và chợt nhớ đến nỗi cô đơn của Hà
Túc Đạo, được Kim Dung viết trong đoạn lung của Ỷ thiên Đồ long ký. Từ đỉnh
Kinh Thần Phong trên Thiên Sơn, Hà Túc Đạo với một cây đàn, một thanh kiếm lãng
du về Trung Nguyên. Dừng chân giữa rừng bách ở ngoại vi chùa Thiếu Lâm, tỉnh Hồ
Nam, Hà đánh đàn một mình cho chim nghe, chống kiếm than thở một mình về tình
yêu, về cuộc sống. “Hỡi ơi, nước xanh, đá trắng sao rời rạc nhau đến như vậy”
– đó không chỉ là tiếu kêu thương cô đơn của riêng Hà Túc Đạo, của riêng Kim
Dung mà là của tất cả mọi con người cô độc trên thế gian. Nước xanh chảy mãi,
ra đi; đá cuội trắng vẫn còn ở lại. Tình yêu là như thế, chỉ đơn giản là nguồn
suối đem lại cho đời nỗi ngậm ngùi vì rời rạc nhau. Hà Túc Đạo đánh cờ một
mình, bán cầu não bên trái đánh với bán cầu não bên phải. Cho đến khi thế cờ ở
vào chỗ bế tắc, tiến thoái lưỡng nan, Hà như rơi vào một mê hồn trận. Mê hồn trận
ấy chính là nghiệp chướng do Hà Túc Đạo tạo ra và bước vào. Để cứu người anh
hùng đơn độc, Quách Tương đã mách nước: “Sao tiên sinh không bỏ Trung Nguyên mà
quay về Tây Vực?”. Một lời chỉ điểm đơn giản đã giúp Hà Túc Đạo nhận ra biện
pháp giải tỏa bế tắc trong đại cục của đời mình, của tư tưởng mình. Chàng trung
niên khen hay và cám ơn người bạn mới nhỏ tuổi. Năm ấy, Quách Tương mới 16 và
Hà đã gần 40. Phiêu bạt một đời mới tìm ra bạn ngọc, anh chàng sáng tác một bản
đàn để đàn cho Quách Tương nghe lòng thương nhớ cảm phục của mình. Bản đàn ấy
vang lên trong một trận đấu tranh dữ dội; Quách Tương nghe và đỏ mặt lên vì nhận
ra tiếng nỉ non của tình yêu. Hà Túc Đạo nhớ thương cô nhưng cô chỉ nhớ thương
Dương Qua. Cuộc gặp gỡ giữa cô và Hà chỉ là cái duyên không hẹn trước, chỉ như
là nước xanh và đá trắng rời rạc nhau. Cô bỏ đi tu, còn Hà quay về đỉnh Kinh Thần
Phong, bỏ Trung Nguyên về Tây Vực đúng như thế cờ dang dở. Đêm ngồi ở Rạch Giá,
Kiên Giang, trông ngàn sao lấp lánh trên biển, tôi chợt nhớ đến Nghi Lâm cởi rồi
thắt lại giải áo để cầu nguyện cho mình được sống bên cạnh Lệnh Hồ Xung (Tiếu
ngạo giang hồ). Nghi Lâm, cô sư nữ lỡ vướng vào ma chướng của tình yêu nhưng vẫn
một lòng thủy chung cùng Bồ Tát. Mâu thuẫn tình yêu và tôn giáo đã xé nát lòng
cô sư nữ ấy. Cho nên mới có một sự dung hoà hi hữu trên đời: tiếng kinh tụng niệm
Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn lại mang theo âm hưởng dịu dàng, trữ tình,
say đắm của tình yêu. Có một cái gì đó đã không thể gặp gỡ và Nghi Lâm cố gắng
biến nó thành ra cái có thể gặp gỡ được. Nội dung lời kinh là tôn giáo mà âm hưởng
tụng niệm, diễn đạt lại là tình ca. Tôi yêu hệ thống tư tưởng của đạo Phật. Một
lần lên Thiền Lâm, tôi ngồi với vị sư già, ngỏ ý xin ngài chỉ cho tôi một con
đường đi để được xa cuộc sống mà vẫn rất gần với cuộc sống. Tôi nhớ đoạn Kiều
Phong lên núi Thiên Thai, tìm nhà sư Trí Quan để xin cho ông biết chân diện mục
của mình. Trí Quan cho Kiều Phong biết Kiều Phong là người Khất Đan, không phải
họ Kiều mà là họ Tiêu – Tiêu Phong. Nhà sư đọc:
Khất Đan với Hán nhân
Bất luận giả hay chân
Ân oán cùng vinh nhục
Không hơn đám bụi trần
Rồi nhắm mắt nhập định và viên tịch. Tôi chọn
hai câu thơ sau trong bài thơ này để làm huớng xuất xử cho cuộc đời. Thượng toạ
dạy tôi: “Nghiệp duyên của đạo hữu với cuộc đời còn nặng lắm. Đạo hữu cứ sống
an nhiên, là, hết các công việc của mình, đem hết trí tuệ tuôn ra ngòi bút để
phục vụ cho cuộc sống. Đạo Phật chủ trương “Duy tuệ thị nghiệp”. Phật tính nằm
ngay trong công việc, trong lối sống chứ không hẳn là nằm trong Thiền viện,
trong cuộc thanh tu. Còn khi nào tâm hồn xót xa, trí lực mệt mỏi, đạo hữu hãy
tìm đến với thầy”.
Khi tôi bạch Thượng toạ
xin phép ra về, ngài còn dặn: “Ai cũng có thể nói tu là cõi phúc, tình là dây
oan. Nhưng tu sẽ không phải là cõi phúc nếu người ta còn sân si trong đường tu,
tình sẽ không là dây oan nếu người ta không tạo ra những oan trái. Cả tu với
tình đều có thể là cõi phúc, đều có thề là dây oan. Thầy đã đọc gần như đầy đủ
cả ngàn bài viết của đạo hữu và nhận ra chất nhân hậu trong từng bài, từng câu.
Hãy phát triển hơn nữa cái tâm từ bi trong ngòi bút”. Lời dạy của vị Thượng
toạ 87 tuổi quả thật là dòng nước cam lồ tưới mát lòng tôi. Một đêm tháng 7,
tôi lên rừng Phước Sơn (Lâm Hà, Đà Lạt), đúng 12 giờ khuya. Đêm nằm trong lán
tranh nghe mưa rơi tầm tã ngoài trời, lạnh quá không ngủ được, tôi chong đèn và
đọc Kim Dung. Lần này tôi mang theo Liên thành quyết, giở ra đúng đoạn Thủy
Sinh một mình ra Quan ngoại, sống trong sơn cốc bốn bề mênh mông tuyết phủ, chờ
Địch Vân trở lại. Những nhân vật nữ của Kim Dung thật thông minh và cũng thật
lãng mạn. Họ sẵn sàng đi mấy ngàn dặm ra ngoài quan ải – bây giờ thuộc Đông bắc
Trung Quốc, sống một mình trong hang đá lạnh lẽo đợi tình quân về từ sự suy
đoán riêng của họ, Thủy Sinh trong Liên thành quyết, A Châu trong Thiên Long
bát bộ suy đoán thế nào chàng Địch Vân, chàng Kiều Phong cũng sẽ trở lại. Và
cám ơn trời, cái hạnh phúc ấy đã thực sự xảy ra. Hay nói ngược lại, nếu Thủy
Sinh, A Châu đi mấy ngàn dặm ra Quan ngoại chờ mà tình quân không trở lại, chắc
họ sẽ đau đớn, sẽ ngậm ngùi mà chết đi trong nỗi tuyệt vọng. Tác giả đã để cho
Địch Vân, Kiều Phong trở lại. Giữa tuyết trắng mênh mông lạnh buốt của thảo
nguyên, bóng người về trở thành ngọn lửa sưởi ấm trái tim những người khao khát
tình yêu. Người về Quan ngoại chính là bản tình ca, là chủ nghĩa nhân đạo
phương Đông. Có lứa đôi đoàn viên hạnh phúc như Thủy Sinh - Địch Vân. Có lứa
đôi tan nát, bất hạnh như Kiều Phong – A Châu. Nhưng bản tình ca nào cũng sáng
lên rực rỡ cái đẹp phẩm giá con người, của sự thủy chung, của lòng chân thật.
Đêm Đà Lạt lạnh buốt mà lòng tôi vẫn cảm thấy ấm áp khi Thủy Sinh choàng tay ôm
lấy Địch Vân. “Huyền tẫn” là một khái niệm sâu xa trong triết lý của Lão giáo.
“Huyền tẫn” có nghĩa là nguyên lý mẹ, nguyên lý tìm về giống cái, cội nguồn của
sự sinh nở, của đời sống. Hãy nhìn lại mà xem, các dân tộc phương Đông tôn thờ
và kính trọng các nữ thần biết bao nhiêu: Tây Vương Mẫu, Nữ Oa ở Trung Hoa;
Thái Dương thần nữ ở Nhật Bản; Shiva ở Ấn Độ; mẹ Âu Cơ ở Việt Nam. Bởi vì họ là
Me của muôn loài, là chất ngọc của giống cái, là biểu trưng của văn minh phồn
thực. Yoni – hình ảnh bộ phận sinh dục nữ, đã được tạc thành totem để thờ phượng,
kính nguỡng. Thông qua các nhân vật nữ xinh đẹp, tài hoa và lãng mạn của Kim
Dung, thông qua những hình bóng phụ nữ cụ thể trên đời, tôi cũng cất công đi
tìm chất ngọc, đi tìm “Huyền tẫn” của chính mình. Mười hai năm trước, mẹ tôi
qua đời, tôi cảm thấy bơ vơ như đứa trẻ lên ba dù tuổi tôi đã 40. Cái quyết định
tâm linh một người đàn ông chính là người phụ nữ mà người đàn ông ấy tôn thờ,
thương yêu, kính trọng nhất. Mẹ tôi chính là người phụ nữ như thế. Và tôi đọc
Kim Dung, bàn về những khía cạnh khác nhau trong tiểu thuyết của nhà văn phương
Đông tầm cỡ này cũng là đi tìm “Huyền tẫn” của mình. Truơng Vô Kỵ và Triệu Mẫn
cùng vào một tiệm cơm nhỏ, lựa một chiếc bàn khiêm tốn và gọi mấy món thức ăn với
một bình rượu đối ẩm. Sau đó, Trương Vô Kỵ đưa quần hùng Minh giáo đến tấn công
chùa Vạn Pháp do Triệu Mẫn chỉ huy để cứu các hào kiệt Trung Nguyên đang bị Triệu
Mẫn giam giữ. Cuộc chiến đấu thành công, Triệu Mẫn phải gánh chịu sự thảm bại lớn
nhất trong đời cô. Đêm ấy, Triệu Mẫn tìm vào quán cơm xưa, chọn đúng chiếc bàn
cũ, cũng kêu đúng các món ăn cũ, bình rượu, hai cái cốc, hai cái chén và hai
đôi đũa. Cô rót rượu ra hai cốc thì bỗng dưng… Trương Vô Kỵ xuất hiện. Họ lặng
lẽ đối ẩm như ngày nào mà không hề nói đến cuộc chiến một mất một còn ở chùa Vạn
Pháp. Tôi cũng mong những lứa đôi trên đời này có được những bữa ăn ấm cúng
tình yêu như vậy.
Tiếu ngạo giang hồ
Cách đây trên 30 năm, Tiếu ngạo giang hồ đã đến
với bạn đọc miền Nam (1967). Nhưng đó là một Kim Dung feuilleton, một Kim Dung
tác chiến mỗi ngày khoảng 1.500 chữ để đăng trên Minh báo, một Kim Dung đi máy
bay từ Hongkong qua Việt Nam mỗi ngày, được dịch ra Việt ngữ đăng đại trà trên
những nhật báo Sài Gòn. Luật sư Nguyễn Văn Tầm, Đoàn Luật sư tỉnh An Giang, nhớ
lại: ngày ấy, ông còn học ở đại học Luật khoa và chính ông là thư ký giúp dịch
giả Hàn Giang Nhạn dịch những tác phẩm của Kim Dung. Trong căn gác nghèo trên
đường Vườn Chuối, dịch giả Hàn Giang Nhạn đọc tờ báo đến đâu, dịch ra đến đó.
Chàng sinh viên Nguyễn Văn Tầm lót 10 tờ pelure và 9 tờ giấy than, viết lời dịch
của Hàn tiên sinh bằng một cây bút bic. Ở phía dưới căn gác, hàng chục ông tuỳ phái
của hàng chục tờ báo ngồi đợi… Tiếu ngạo giang hồ. Viết xong bản dịch, chàng
sinh viên Nguyễn Văn Tầm đem xuống phân phát cho từng người. Ai may mắn lấy được
những bản phía trên còn đọc ra chữ, ai lãnh những bản phía sau chỉ còn cách xem
chữ đoán ý. Trên cơ sở tập đại thành những hồi, những đoạn đã được đăng báo, Tiếu
ngạo giang hồ được in lại thành sách - một Kim Dung feuilleton. Nguyên tác Tiếu
ngạo giang hồ của Kim Dung do Minh Hà xã in năm 1997 hoàn toàn mới lạ, khác hẳn
Tiếu ngạo giang hồ đã từng có trên báo chí Sài Gòn trước đây. Kim Dung đã mạnh
dạn cắt bỏ một số đoạn mà ông xét thấy là không cần thiết. Thí dụ như ông đã cắt
bỏ khoảng 3.000 từ ngày trong hồi đầu có nội dung giới thiệu về quan hệ gia tộc,
võ công, sự nghiệp kinh doanh và oai lực của Phước Oai tiêu cục thành Phúc
Châu. Ông cũng bỏ hẳn đoạn Nhạc Linh San trong vai cô gái bán rượu xấu xí cứu
Lâm Bình Chi bằng cách cho chàng uống rượu pha thuốc có dược tính thật mạnh mà
thay vào bằng một đoạn mới với những tình tiết hợp lý hơn, hấp dẫn hơn. Ngày
trước, ông đã để cho Đại tung dương thủ Phí Bân phái Tung Sơn chết đi rồi sống
lại, bây giờ tình huống đáng tiếc đó không còn nữa. Ông thận trọng ra từ câu,
chỉnh từng ý, xem lại từng tình huống tiểu thuyết. Cho nên, bản dịch mới trên nền
tảng bản chỉnh lý năm 1997 là một bản dịch mới lạ. Chúng tôi xin dịch lại Tiếu
ngạo giang hồ với tham vọng giới thiệu cùng bạn đọc Việt Nam yêu tài năng Kim
Dung, một Kim Dung văn học. Khái niệm văn học ở đây gói gọn trong ngữ nghĩa văn
học tiểu thuyết võ hiệp. Trong sự nghiệp trước tác đồ sộ của Kim Dung, chúng
tôi gọi Tiếu ngạo giang hồ là một siêu phẩm. Toàn bộ tác phẩm gồm 40 chương hồi.
Tuy nhiên, tác phẩm lớn không phải ở chỗ dài hơi đó. Nó lớn vì chiều sâu kiến
thức hàm chứa ngay trong tác phẩm. Hai trong ba nguồn tư tưởng lớn của triết học
phương Đông - Phật giáo và Lão giáo – đã được Kim Dung hình tượng hoá và cụ thể
hoá qua những hình tượng văn học. Phương Chứng đại sư chùa Thiếu Lâm là con người
tiêu biểu của tư duy Thiền tông Phật giáo. Với một căn bản võ công trác tuyệt,
một tâm địa từ bi, nhà sư gần như đã góp phần hoá giải những hận thù, chia rẻ,
sân si. Định Nhàn, Định Dật phái Hằng Sơn là một dạng Phật giáo khác, một Phật
giáo nhập thể và nhập thế. Họ hàng phục yêu ma bằng chính cáo tâm hoà bình trung
chính của người đi tu. Họ áp dụng nguyên tắc Miên lý tàng châm (Trong cái gối
bông mềm có chứa cây kim). Họ không đánh ai nhưng ai đánh họ thì bị kim đâm,
càng đánh mạnh thì vết thương càng nặng. Họ lập ra kiếm trận là để tự giữ mình,
chống cự ngoại địch chứ chẳng để bao vây ai, tiêu diệt ai. Nhưng điểm đặc sắc
nhất vẫn là tư duy Lão – Trang qua đường Độc Cô cửu kiếm. Phong Thanh Dương đã
dạy Lệnh Hồ Xung “Dĩ vô chiêu thắng hữu chiêu”. Trong thế kiếm hữu chiêu, vì có
chiêu thức cho nên để phát ra được chiêu thức ấy, con người phải có bộ vị, có
ni tấc. Và quan điểm của Phong Thanh Dương là nên đánh ngay vào thời điểm chuẩn
bị bộ vị, ni tấc đó. Kiếm phải phát theo ý và kiếm sĩ phát triển kiếm ý chứ
không sử dụng kiếm chiêu. Nói cách khác, người sử kiếm chứ không phải kiếm sử
người và cần đến một phong thái ung dung, liên tục như nước chảy mây trôi trong
khi giao đấu với địch thủ. Cách dạy của Phong Thanh Dương lại vô cùng phù hợp với
tâm tính lãng mạn của Lệnh Hồ Xung. Điều này làm ta nhớ đền chương “Thuyết kiếm”
của Trang Tử. Lão – Trang chủ trương Vô vi (không làm). Không làm nhưng không
có gì là không làm (Vô vi nhi vô bất vi). Chính trên nền tảng đó, đạo trưởng
Xung Hư, chưởng môn phái Võ Đang, nhân vật đại biểu của tư tưởng Lão – Trang,
đã gắn bó cuộc đời mình với sự thịnh suy, hưng vong của võ lâm Trung Hoa. Cũng
chính trên nền tảng đó đã có một cuộc đấu kiếm kỳ lạ xảy ra: Lệnh Hồ Xung và
Xung Hư đấu kiếm mà không dùng đến kiếm, chỉ lấy mắt ngó nhau, cuối cùng, Xung
Hư đành nhượng bộ. Tiếu ngạo giang hồ lặng lẽ đưa người đọc đi vào cuộc hành
trình tìm về những suối nguồn tư tưởng phương Đông, một phương Đông lãng mạn
bay bổng “khi lên cao chính ngàn dăm, nương mây cưỡi gió mà bay” như Trang Tử
đã viết trong Nam hoa kinh. Tiếu ngạo giang hồ có cái u uẩn trầm mặc đầy suy niệm
của những ngôi chùa, những đạo quan, những rừng tùng bách, bóng trăng sáng trên
Trường Giang, cơn mưa tuyết mùa đông trên Ngọc Nữ phong. Xuyên suốt tác phẩm là
tiếng đàn, tiếng sao của khúc Tiếu ngạo giang hồ, tiếng ca buồn của Mạc Đại
tiên sinh trong khúc Tiêu Tương dạ vũ. Tác phẩm còn là sự tập hợp của nhiều kiến
thức về y học, dược học, địa lý học, tửu học, giải phẫu học, võ học, xã hội học…
Chính nhờ tác phẩm này, tôi mới biết người Tứ Xuyên luôn luôn bịt khắn trắng
trên đầu - tục lệ có từ 2.000 năm trước khi để tang con người huyền thoại Khổng
Minh. Trong kỹ thuật kết cấu tiểu thuyết, có thể coi Tiếu ngạo giang hồ như một
kịch bản phim với những đoạn chuyển cảnh rất nhanh và rất hợp lý. Những mâu thuẫn
chiều sâu trong nội tâm của các nhân vật kết hợp với những mâu thuẫn chiều dài
trong sự đấu tranh, trong âm mưu, trong thủ đoạn của các môn phái tạo cho cốt
truyện những tình huống nghẹt thở, khiến cho người đọc càng đọc càng cảm thấy
cuốn hút, say sưa. Kim Dung đã giải quyết hợp ký các mâu thuẫn đó khiến cho người
đọc thở phào, nhẹ nhõm và cảm thấy hạnh phúc. Có những điều mà ta nghĩ rằng
không bao giờ có thật trên đời lại xảy ra trong tác phẩm của Kim Dung một cách
hợp lý và tràn đầy đạo lý. Cơ duyên nào đã đưa một cô nữ ni thánh thiện, trong
như ngọc mới 16 tuổi, dấn thân vào nơi ô uế, phức tạp nhất là động điếm Quần Ngọc
dưới chân núi Hằng Sơn để cứu mạng Lệnh Hồ Xung? Cô đã bồng chàng lãng tử thanh
danh tàn tạ ấy ra vùng hoang sơn dã lĩnh, chấp nhân phạm giới cấm khi ăn trộm
dưa hầu có thức ăn cho chàng, tụng kinh Cứu khổ cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát cầu
xin cho chàng tai qua nạn khỏi. Lạ thay, lời kinh trang nghiêm của Phật giáo lại
được đọc với hơi thở từ một trái tim tràn đầy tình yêu và đức hy sinh. Cơ duyên
nào đã đưa đẩy một nàng Nhạc Linh Sanh mới 16 tuổi, say mê cái mã đẹp trai của
Lâm Bình Chi và dễ dàng phụ rẫy mối thâm tình ban đầu mà cô đã dành cho Lệnh Hồ
Xung? Cho đến khi lấy Lâm Bình Chi, nhận ra bản chất tàn bạo của gã, cô mới hối
hận vì đã đánh mất một báu vật trên đời: “Nhớ xưa luyến ái Hàn công tử. Xương
trắng thành tro hận chửa tan.”. Cơ duyên nào đã đến với thánh cô Nhậm Doanh
Doanh, ở ẩn trong ngũ Lục Trúc thành Lạc Dương mà “nhặt” được một chàng Lệnh Hồ
Xung ốm o bệnh hoạn và khám phá ra được đó là người đàn ông anh hùng, trung thực,
có bản sắc nhất giữa cuộc đời này? Từ bỏ ngôi vị cao quý, cô gái tươi đẹp,
thông minh 17 tuổi ấy đi theo chàng trai, bắt ếch nuôi chàng, đánh đàn ru cho
chàng ngủ và khi chàng kiệt sức thì cõng chàng lên chùa Thiếu Lâm, chấp nhận
cho phái Thiếu Lâm cầm tù để đổi lấy sự sống cho người yêu dấu. Đó là 3 dạng
tình yêu trên đời: một tình yêu không nói thành lới do sự mâu thuẫn giữa tôn
giáo và thế tục, một tình yêu thực dụng vì say mê hào nhoáng bên ngoài mà không
thấy được rõ phẩm chất bên trong, một tình yêu chân chính vì khám phá được chất
ngọc bên trong mà không cần chú ý đến vẻ bên ngoài của một con người ốm o tàn tạ.
Kim Dung không lên gân bình luận, phê phán; ông chỉ tường thuật và chúng ta hiểu.
Thế thôi!
Những suy niệm siêu hình học
Lai như lưu thủy hề, thệ như phong Bất tri hà
xứ lai hề, hà sở chung Từ khi con người xuất hiện trên trái đất, đã có những
suy niệm về số phận con người. Lịch sử triết học, văn chương quan nhiều thời đại
đã trăn trở đi tìm lời giải cho những vấn nạn: con người là ai, con người từ đầu
đến và con người sẽ về đâu. Một tác phẩm văn chương, triết học nhằm cắt nghĩa một
trong các vấn nạn ấy được gọi là tác phẩm có giá trị nhân bản, nhân văn. Ba
mươi mấy năm đọc tác phẩm Kim Dung, càng lúc tôi càng nhận ra sự trăn trở của
ông trong quá trình tìm cách cắt nghĩa số phận con người. Thời còn đi học, tôi
đọc Kim Dung như một cách giải trí, một cách lãng quên cuộc sống thực tại để đi
tìm một cuộc sống viễn mộng lí tưởng. Đến tuổi chững chạc, tôi đọc Kim Dung như
một cách học tập: học cách viết văn, học phương pháp tiểu thuyết, học những kiến
thức Trung Quốc học, học làm người. Thuở đó, tính tôi rất nóng nảy, tâm hồn đầy
sự hoài nghi, trí óc đầy niềm căm giận. Gần như, tôi nghi ngờ tất cả mội giá trị
trên đời, tôi sẵn sàng căm hận những ngaỳ tháng cũ đau thương và những ngày
đang sống đầy trắc trở. Ai gây cho tôi một sự đau khổ, nói với tôi một lời thiếu
thiện cảm, thể hiện trước tôi một hành động xúc phạm; tôi đã nghĩ đến chuyện mắt
đổi mắt, răng đổi răng. May mắn thay, đọc Kim Dung và các loại sách kinh điển của
Nho,Phật, Lão; tôi biết đến sự kìm giữ trái tim và khối óc của mình, tôi biết đến
sự tha thứ, vì rằng tha thứ cho người khác chính là tha thứ cho mình, tôi biết
quên những đau thương của chính mình để có thế làm một điều có lợi cho người
khác hoặc không làm một điều có thể tổn thương cho người khác. Còn bây giờ,
hoàng hôn của thế kỉ 20, mùa thu bắt đầu về trên đời, tôi đọc Kim Dung như một
cách chiêm nghiệm, suy tưởng. Lai như lưu thủy hề... (Chợt đến như dòng nước chảy)
Phải đợi đến tuổi 50, câu hát Tiểu Siêu thường hát cho Vô Kỵ nghe rút từ kinh
điển Bái hoả giáo mới cho tôi nhận ra được là câu hát góp phần cắt nghĩa nguồn
gốc con người! Darwin nói con người đã đi qua một quá trình tiến hoá, phát triển
từ khỉ vượn thành người. Thánh Kinh Thiên chúa giáo nói con người là do Thượng
đế sinh ra. Nhà Nho điềm nhiên phát biểu mà như không hề phát biểu điều gì:
"Chuyện ngoài trời đất, bực thánh nhân biết đấy nhưng không nghĩ đến"
(Lục hợp chi ngoại, thánh nhân tồn nhi bất nghị). Lão - Trang hiền triết một
cách khôn khéo: "Trong cái không đẻ ra cái có" (Vô trung sinh hữu).
Chỉ có Tiểu Siêu hát: "Chợt đến như dòng nước chảy" (Lai như lưu thủy...)
Lai như lưu thủy hề... không trực tiếp trả lời cho hai câu hỏi con người là ai và
con người là từ đâu đến. Đúng hơn, nó trực tiếp trả lời cách thế có mặt của con
người trước cuộc sống: "Chợt đến như dòng nước chảy". Dòng nước luôn
luôn có một khởi nguyên ban sơ, thí dụ như một cơn mưa, một núi băng tan, một hồ
chứa, một đập tràn. "Chợt đến như dòng nước chảy" không cắt nghĩa cái
khởi nguyên ban sơ đó; nó chỉ nói đến cách thế có mặt; "chợt đến"
không cắt nghĩa khởi nguyên, cũng không phủ nhận khởi nguyên. Nguồn gốc và đời
sống con người đơn giản chỉ là sự chợt đến; có nguồn có cội đấy nhưng nguồn cội
là gì, ở đâu thì đó là chuyện để mỗi con người tự chiêm nghiệm. Bản thân
"chợt đến" đã có một quá trình chuẩn bị, không hề tình cờ, không hề tự
nhiên mà có. Thệ như phong (Và tàn như gió qua mau) Con người sống ở trên đời
bao nhiêu năm? Không ai trả lời được câu hỏi đó. Phương Đông thường đưa ra khái
niệm "trăm năm": "Trăm năm nào có gì đâu, chẳng qua một nấm cỏ
khâu xanh rì". Bản thân chữ "Trăm năm" đó hoàn toàn mang tính chất
tượng trưng, để chỉ số nhiều. Anh may mắn sinh ra trong một gia đình giàu sang,
lớn lên khoẻ mạnh, nhiều hạnh phúc... có thể sống được 98 tuổi. Cô gái nghèo
kia bỏ ruộng đồng đi bán bia ôm, đem tấm thân trinh trằng cho đám đàn ông thành
phố bỡn cợt, đêm trở về căn phòng trọ bị cướp của, hãm hiếp rồi bị giết, chỉ hưởng
dương được 23 tuổi. Tôi một đời ưu tư sầu khổ, năm mươi năm chưa thực sự có được
một ngày là hạnh phúc, những nếp gấp trên vừng trán càng lúc càng đậm, giọt lệ
vĩnh viễn ở cuối mi mắt trái không bao giờ tan được trong cuộc đời làm sao sống
được 60 tuổi? Nhưng dù có sống được bao lâu, 23 hay 60, 98 hay 100 tuổi thì thời
gian ấy có là gì so với thời gian miên viễn là trường tồn hằng nhiên? Tất cả chỉ
là một cái chớp mắt của tạo hoá. Tôi không ngờ từ một thằng bé nghèo sinh ra
trong bom đạn chiến tranh giữa núi rừng Quảng Nam đã trở thành một anh trung
niên đang lắng nghe mùa thu về, trí tuệ luôn luôn bị cưỡng bách, không một đêm
nào ngủ được quá bảy tiếng, thân xác đau rã rời bởi chứng thoát vị đĩa đệm cột
sống và đầu óc luôn bị choáng váng với chứng thiểu năng tuần hoàn não. Ai nói sống
trên đời là hạnh phúc? Tôi sống trên năm mươi năm, mong được hưởng một ngày gọi
là hạnh phúc để nếm xem mùi vị hạnh phúc là thế nào nhưng vẫn chưa có hân hạnh
được nếm thử. Thì thôi, thà mua một đôi giày chật mang dính vào chân suốt ngày,
buổi chiều cởi được nó ra lắng nghe hai bàn chân không còn cảm giác đau đớn để
cứ gọi đó là hạnh phúc. Vâng, hạnh phúc là sự cởi bỏ được đôi giày quá chật ra
khỏi hai bàn chân của bạn. Thệ như phong Cuộc sống con người ngắn ngủi lắm, tàn
mau như gió. Nào có ai thấy được gió, chỉ thấy lá cây rung động, cỏ dợn thành
sóng, ta mới biết có gió thổi qua. Gió thổi qua là có thật đấy, ta biết nhưng
không thể biết được nó đến khi nào và đi khi nào. Rồi tàn như gió qua mau -
danh sĩ hay kẻ ngu đần, mỹ nhân hay ác quỷ, cao quý hay đê hèn, hiền thục hay
điêu ngoa - tất cả đều tàn như gió qua mau. Đây không phải đường về của chủ
nghĩa hư vô. Ở cuối đời sống chúng ta là cái chết, là sự suy tàn lụn bại tất yếu
của cuộc sống. Sống một ngày là gần gũi với cái chết một ngày, bên nhau một
ngày là gần gũi với lâm biệt một ngày - quy luật ấy nhân loại đều đã ý thức rõ
rệt. Có hiểu chăng, hỡi bạn đời của tôi? Bất tri hà xứ lai hề (Chẳng biết từ
đâu mà tới) Bây giờ câu hát mới đi thẳng vào vấn nạn từ đâu tới. Ta biết ta có
nguồn gốc nhưng nguồn gốc đó ở đâu thì đó là cái mà ta không thể biết được. Ta
biết con chim thì nó bay, con cá thì nó lội, nhưng khởi nguyên của khả năng
bay, của khả năng lội thì đó là cái mà ta không thể biết được. Ngay cả đến lý
do tại sao không biết ta cũng đã không biết rồi. Ta chỉ biết rằng ta không biết
và tại sao ta không biết thì đó là điều ta không biết vậy. Giữa cái biết và cái
không biết có một biên giới tuyệt đối về mặt ý thức. Biết là ban ngày, không biết
là ban đêm; biết là ý thức, không biết là chiều sâu trong vô thức. Phương Đông
nói một cách triết lý: Tri chi vi tri chi Bất tri vi bất tri Thị tri giả (Biết
cái gì thì làm cái đó Không biết thì làm cái không biết Ấy là biết vậy) Ta biết
cái ta không biết - khởi nguyên của loài người - đó là biết vậy chăng? Ngay khi
cả ta biết rằng ta không hề biết gì cả cũng là biết vậy chăng? Triết học quả là
rất nhân hậu và nhân bản, sẵn sàng tha thứ cho thái độ ngu muội của con người,
vẫn cho đó là một thái độ hiểu biết. Hà sở chung (Và chẳng biết về nơi đâu) Cái
gì cũng có một chung cuộc. Nhưng chung cuộc của con người ở đâu thì con người
không biết được. Đạo Thiên Chúa nói con người công chính được về với cõi vĩnh hằng,
về với nước Chúa, với Thiên đàng, Đạo Phật nghĩ đến một quá trình luôn hồi,
trong đó sự đầu thai là một quy luật sẽ diễn ra ở kiếp sau. Đạo Phật dẫn những
con gnười đạo hạnh từ bi đi về miền Cực lạc. Cực lạc ở đâu? - Cõi Tây Phương.
Tây phương là Tây phương nào? - Không biết. Hà sở chung - nước chảy về đâu, gió
tàn về đâu? Cuộc sống hữu hạn ngắn ngủi của con người như nước chảy, như gió thổi.
Nước chảy về đâu là chung cuộc, gió thổi về đâu là chung cuộc - đó là điều ta
không biết. Lai như lưu thủy hề, thệ như phong Bất tri hà xứ lai hề, hà sở
chung. Câu hát nói về số phận con người sao mà buồn lắm vậy. Trong số phận của
con người, có số phận tình yêu. Tình yêu của con người sao mà buồn lắm vậy. Đạo
Phật tôn trọng chữ duyên, mọi việc diễn ra hôm nay đều bắt nguồn từ cơ duyên đã
được định trước của ngày hôm qua. Nhưng tìm đâu cho ra cơ duyên ấy thì đó là điều
mà ta không thể biết được. Thế giới có đến sáu tỉ người, tại sao em chỉ yêu
mình ta? Đã bao lần qua núi đồi thanh xuân, cúi xuống, kính cẩn hôn ngọn Ngọc Nữ
phong bát ngát tình yêu và hạnh phúc, uống dòng nứớc ngọt ngào từ nguyên khê đổ
lại. Ta như không còn có mặt trên đời, ta tan biến vào người, người tan biến
vào ta. Bản ngã (Moi) không còn nữa, chỉ còn Đại ngã (Grand Moi). Khi ta cao tới
mây xanh, vươn tay ra là chạm tới hạnh phúc, Đại Ngã không còn nữa; ta đang
vươn tới Siêu ngã (Sur-Moi). Nhưng siêu ngã chỉ là giây phút thoáng qua. Rồi ta
trở lại cuộc đời trần tục, xót xa, đau đớn nhìn nước trôi, ngậm ngùi nghe gió
tàn. Lai như lưu thủy hề, thệ như phong Bất tri hà xứ lai hề, hà sở chung. Một
thoáng hạnh phúc chợt đến rồi chợt tan biến khỏi đời sống con người. Và chỉ còn
ta ở lại, đối diện với hư vô. Sự suy tàn của chủ nghĩa bạo lực
Bao giờ cũng như bao giờ,
bạo lực luôn luôn có giữa cuộc sống loài người. Có thứ bạo lực chân chính nhằm
duy trì trật tự xã hội, bảo vệ công lý, bảo vệ mạng sống và quyền lợi chính
đáng của những con người lương thiện. Có thứ bạo lực phản động nhằm làm náo loạn
cuộc sống, gây cảnh can qua cho trăm họ lầm than để thừa cơ hưởng lợi hoặc để
cai trị, nô dịch người khác. Loại bạo lực phản động ấy không thiếu trong tác phẩm
võ hiệp tiểu thuyết Kim Dung. Khi xử lý tác phẩm, tác giả thường để cho chủ
nghĩa bạo lực tự nó suy tàn đúng như định đề "Gieo nhân nào, hưởng quả ấy"
của phương Đông hay "Ai gieo gió phải gặt bão" của phương Tây. Đoạn
lung mở đầu cho Lộc Đỉnh ký có lẽ là đoạn triết luận hay nhất, tài hoa nhất
trong sự nghiệp trước tác của Kim Dung. Ông luận về chủ nghĩa duy bạo lực của
các thế lực quân chủ mấy ngàn năm ở Trung Quốc qua hai từ "Trục lộc"
(đuổi hươu). Mượn lời nhà văn Lữ Lưu Lương dạy con trai, Kim Dung nhắc lại câu
nói của Khương Thái Công với Chu Văn Vương: "Lấy thiên hạ như đuổi bắt con
hươu để làm thịt chia nhau mà ăn. Con hươu dù có trốn chui trốn nhủi nhưng rốt
cuộc vẫn bị bắt. Có khi nó bị nhiều người ăn thịt, có khi một người giành ăn hết".
Con hươu (lộc) ở đây có nghĩa là thiên hạ, mà thiên hạ có nghĩa là đất Trung
Hoa. Hán thư có câu: "Nhà Tần để sổng con hươu, thiên hạ tranh nhau đuổi bắt".
Hán vương Lưu Bang và Tây Sở Bá vương Hạng Võ cùng đánh nhà Tần, sau cùng Hán
vương diệt được Tây Sở Bá vương, chiếm được thiên hạ, bắt được cả con hươu béo
mập. Để có thể nấu thịt hươu lên ăn, người ta phải dùng đến cái vạc to, có ba
chân, đốt lửa ở dưới. Cái vạc ấy đồng thời cũng là hình cụ tàn khốc để đốt, để
nấu những người phạm trọng tội. Chữ "đỉnh" trong Hán văn tức là cái vạc
lớn. Lộc đỉnh có nghĩa là cái vạc lớn để nấu thịt hươu. Tranh nhau "lộc đỉnh"
có nghĩa là tranh nhau giành lấy thiên hạ. Các thế lực quân chủ là dao là thớt,
muôn triệu dân lành trở thành cá thành thịt. Để có thể giành lấy thiên hạ, đạt
được quyền lực, người ta phải dùng đến bạo lực phi nhân tính nhất. Các thế lực
quân chủ dùng bạo lực phi nhân để trục lợi còn các thế lực giang hồ trong các
tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung cũng dùng bạo lực phi nhân để đô hộ,
chế ngự, nô dịch người khác. Trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung, chủ nghĩa
duy bạo lực luôn luôn gắn liền với các bọn tac đạo muôi tham vọng thống nhất
giang hồ, đè đầu cưỡi cổ thiên hạ. Trong Lộc Đỉnh ký, tà đạo Thần Long giáo ở
biển Liêu Đông do Hồng An Thông làm giáo chủ nuôi một thứ tham vọng như vậy. Tà
giáo này chủ trương xây dựng các hầm rắn để trừng trị những kẻ không trung
thành, buộc bọn thuộc hạ uống loại độc dược Độc long dịch cân hoàn để họ phải
trung thành với giáo chủ. Họ gọi con rắn (xà) là thần long. Họ cũng có một thứ
"kinh điển" nhằm đầu độc trí óc bọn giáo chúng thanh niên, sùng bái
cá nhân giáo chủ: Hồng giáo chủ ra oai sấm sét Chúng đồ nhi sức mạnh phi thường...
...Hồng giáo chủ thần kinh như điện Chiếu nhãn quan ra khắp muôn phương... Tà
giáo này có tham vọng tranh đoạt tấm bản đồ chỉ dẫn đi tìm kho báu được giấu
trong bộ Tứ thập nhị chương kinh của nhà Thanh. Họ cấy người vào nội cung triều
Khang Hy nằm vùng, khuynh loát chính trị và dọ dẫm tìm bảo vật. Thực hiện không
được âm mưu ấy, họ định liên minh với các thế lực biên phòng của Sa hoang Nga
La Tư để chống lại Trung Quốc. Điều buồn cười là giáo chủ Hồng An Thông tuy
danh vọng to lớn, võ công cao cường nhưng chỉ là một lão liệt dương. Khang Hy
đã ra lệnh cho hải quân nhà Thanh bắn phá tan tành đảo Thần Long, cuối cùng bọn
thuộc hạ quần công Hồng An Thông, giết giáo chủ. Thần Long giáo tự diệt, đơn giản
chỉ vì nó là một tà đạo duy bạo lực. Trong Thiên Long bát bộ lại có một tà phái
khác là phái Tinh Tú, do Tinh Tú hải lão ma Đinh Xuân Thu làm chưởng môn. Đinh
Xuân Thu là kẻ lừa thầy phản bạn, từng đánh lại thầy mình là Vô Nhai Tử rồi tự
mình tách ra khỏi phái Tiêu Dao để lập thành phái Tinh Tú. Vì đã từng lừa thầy
nên bản tâm vẫn sợ bọn đồ đệ đánh nổi lên làm loạn chống mình, Đinh Xuân Thu chủ
trương dùng thuốc độc và đạn lân tinh để trừng phạt đệ tử. Lão cho phép các đệ
tử đánh nhau thoải mái để giành chức đại đệ tử. Lão chiêu nạp một đám bàng môn
tả đạo làm đệ tử và đặt ra những ca quyết để đệ tử tâng bốc mình:
Tinh Tú lão tiên
Danh lừng Trung thổ
Đức sánh cửu thiên
Đánh đâu thắng đó
Ngày Đinh Xuân Thu trở lại Trung Nguyên, gần
như lão khống chế được toàn bộ phái Tiêu Dao. Thế nhưng, như một kịch bản hoàn
hảo nhất của công lý trên đời, Đinh Xuân Thu đã bị Hư Trúc, Cung chủ cung Linh
Thứu, trừng phạt. Bằng nội công Bắc minh chân khí chính tông, mượn giọt rượu của
đệ tử tung lên không gian, Hư Trúc biến các giọt rượu trở thành băng và cấy vào
trong các huyệt đạo trọng yếu của Đinh Xuân Thu. Miếng băng lạnh tiếp xúc với
da thịt nóng, tan ngay vào các huyệt đạo, hoá thành một thứ bùa gọi là Sinh tử
phù. Sinh tử phù chạy vào người Đinh Xuân Thu, trở thành một chất kháng nguyên,
khiến lão có cảm giác ngứa ngáy như bị hàng vạn con kiến đốt. Đinh Xuân Thu phải
chịu thua, đầu hàng, bị phái Thiếu Lâm nhốt lại. Toàn bộ phái Tinh Tú bị giải
tán, bạo lực của Tinh Tú hải lão ma tự diệt vong. Chủ nghĩa duy bạo lực nhìn vấn
đề dưới một nhãn quan đơn giản: có sức mạnh là có thể cai trị, khống chế được
người khác. Và để có một sức mạnh thì phải leo lên được đỉnh cao của quyền lực,
phải nắm quyền lực trong tay. Khát vọng quyền lực khiến các loại nhân vật giang
hồ rình mò nhau, ngấm ngầm hại nhau. Điều đáng xấu hổ là những âm mưu đó lại được
nấp sau bộ mặt của người quân tử, kẻ chính nhân - tất nhiên là quân tử, chính
nhân giả hiệu. Tiếu ngạo giang hồ xây dựng một bộ ba chưởng môn khả kính: Dư
Thương Hải - chưởng môn phái Thanh Thành; Tả Lãnh Thiền - chưởng môn phái Tung
Sơn; Nhạc Bất Quần - chưởng môn phái Hoa Sơn. Dư Thương Hải đánh Phước Oai tiêu
cuc để tìm lấy kiếm pháp Tịch tà; Tả Lãnh Thiền định triệt hạ bốn phái để leo
lên chức chưởng môn Ngũ Nhạc Phái; Nhạc Bất Quần vừa rình mò Dư Thương Hải để
chiếm kiếm pháp Tịch tà, vừa tháu cáy Tả Lãnh Thiền để tranh đoạt chức chưởng
môn Ngũ Nhạc phái. Họ là những người quân tử chính nhân giả hiệu, mở miệng ra
là nói đạo đức, lòng nhân, sự khiêm ái... Cuối cùng Dư Thương Hải bị giết; Tả
Lãnh Thiền bị đui mắt; Nhạc Bất Quần cũng bi giết. Quy luật tự nhiên thật công
bằng: những kẻ gian ác, nguỵ quân tử, duy bạo lực bị đền tội bởi chính những mưu đồ và hành vi độc ác của họ
đã gây ra. Sự trừng phạt của cuộc sống khá nghiêm minh: gieo nhân nào hưởng quả
ấy, mức độ trừng phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm của hành vi. Tất nhiên, để
có thể tiêu diệt chủ nghĩa duy bạo lực này, phải có một thứ bạo lực chính nghĩa
đi tiên phong. Đó là bạo lực của những người anh hùng chân chính, trung thực.
Tác phẩm của Kim Dung cũng đi theo con đường "có hậu" của nhiều tác
phẩm văn học trên thế giới đã đi: chính nghĩa thắng gian tà. Trong Ỷ thiên Đồ
long ký, Xạ điêu anh hùng truyện, Thần điêu hiệp lữ, bạo lực phi nghĩa của người
Trung Quốc yêu nước đã chiến thắng bạo lực phi nhân nghĩa của các thứ giặc xâm
lược Kim Quốc và Mông Cổ. Chủ nghĩa yêu nước lấp lánh phía sau những tình huống
tiểu thuyết vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính thoại sử đem lại cho ngừơi đọc
sự thú vị tuyệt vời. Bạo lực phi nghĩa nào cũng có ngày tàn lụi; nếu người ta
không sử dụng bạo lực chính nghĩa để tiêu diệt nó thì tự nó cũng có ngày tàn lụi.
Đưa ra cái trắng, cái đen, cái thiện và cái ác, cái đúng là cái sai, cái tốt và
cái xấu là Kim Dung đã khẳng định quy luật trên. Cho nên, đọc tiểu thuyết của
ông, người ta có cảm giác thoả mãn khi thấy công lí thắng lợi, cái ác bị trừng
phạt nặng nề. Điều này cũng chính là khát vọng ngàn đời của loài người! Ngay đến
những âm mưu sử dụng bạo lực để khuấy đảo thiên hạ, âm mưu "Toạ sơn quan hổ
đấu" cũng tàn lụi từ trong trứng nước. Trong Thiên Long bát bộ, cha con Mộ
Dung Bác - Mộ Dung Phục âm mưu phục hồi đế hiệu nước Đại Yên. Để có thể làm việc
đó, Mộ Dung Bác phao ngôn rằng quân Khiết Đan sắp tấn công qua Nhạn Môn Quan. Bọn
quần hùng Trung Quốc nóng lòng bảo vệ đất nước, ra ải Nhạn Môn Quan đánh giết lầm
gia đình Tiêu Viễn Sơn. Không khuấy đảo được cho hai nước Tống - Liêu đánh
nhau, Mộ Dung Bác khích cho quốc sư Cưu Ma Trí nước Thổ Phồn nhập Trung Nguyên
- Trung Quốc. Làm xong mấy việc đó, Mộ Dung Bác giả chết, vào nằm cùng trong
Tàng kinh các chùa Thiếu Lâm, học lén võ công Thiếu Lâm mơ làm anh hùng thiên hạ.
Mộ Dung Phục lại là một tay cơ hội chủ nghĩa ghê gớm. Tưởng cha chết thật, Mộ
Dung Phục vẫn âm thầm nuôi giấc mộng Đại Yên. Gã hoá thân thành một cao thủ nước
Tây Hạ có cái tên lạ hoắc là Lý Diên Tông, đầu quân vào dưới trướng Hách Liên
Thiết Thụ sang đánh Trung Quốc. Việc đánh đấm không thành sự, gã phụ rẫy mối
tình của biểu muội Vương Ngữ Yên, sang Tây Hạ dự lễ tuyển phu với một hy vọng hết
sức bệnh hoạn: được cưới công chúa Tây Hạ làm vợ, trở thành phò mã Tây Hạ, đem
binh lực Tây Hạ về đánh Trung Quốc. Việc lại không thành, gã trở về Trung Quốc,
lạy tôn thế tử Đoàn Diên Khánh của nước Đại Lý để hoàng gia nước Đại Lý không
còn ai, Đoàn Diên Khánh sẽ lên ngôi, gã là Thái tử. Rồi gã sẽ phế người cha
nuôi để lên làm vua nước Đại Lý, đem quân về đánh Trung Quốc. Cha con Mộ Dung
Bác - Mộ Dung Phục, mỗi người một âm mưu, muốn quay cho Trung Quốc đại loạn để
phục hưng nước Đại Yên. Mộ Dung Bác còn khích Kiều Phong - Nam viện đại vương nắm
giữ binh quyền nước Khiết Đan - rằng lão sẵn sàng tự tử để tạ tội phao ngôn, chỉ
mong Kiều Phong đưa quân Khiết Đan qua Nhạn Môn Quan đánh Tống triều! Hai cha
con này ăn chén cơm Trung Quốc mà kịch liệt chống đối lại trăm họ Trung Quốc.
Kim Dung giải quyết khá công bằng: ông để cho Mộ Dung Bác tự ngộ ra rằng âm mưu
phục hồi nước Đại Yên chỉ là mây trắng, rằng không thể lấy thiên hạ để phục hồi
đế vị cho một dòng tộc. Mộ Dung Bác xin ở lại chùa Thiếu Lâm đi tu. Mộ Dung Phục
giết hết những bằng hữu trung thành của mình, bị Lục mạch thần kiếm của Đoàn Dự
đánh cho tơi tả. Gã phát bệnh tâm thần, đi chằm mũ lá đội, mua kẹo bánh bỏ sẵn
trong túi để ...làm vua với các trẻ em chăn trâu. Giấc mơ bạo lực tự nó suy tàn
mà không cần đến một tác động ngoại lai. Thanh kiếm và Cây đàn
Thanh kiếm và cây đàn là
hai hình ảnh mà ta thường gặp trong thế giới tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung. Từ Ỷ
thiên Đồ long ký, Thiên Long bát bộ đến Tiếu ngạo giang hồ. Trong những giai đoạn
lịch sử mà các chế độ phong kiến cầm quyền nhân danh một thứ “vương pháp” tràn
đầy bất công và bạo lực áp dụng để cai trị hàng triệu triệu con người, những kẻ
có tiền, có quyền, có thế lực ra sức hà hiếp, hãm hại dân đen thì thanh kiếm của
người hiệp sĩ trở thành biểu tượng của công lý, một thứ công lý của nhân dân.
Thanh kiếm là một vũ khí trừ gian, diệt bạo, tế khổn, phò nguy. Ngược lại cây
đàn là một dụng cụ nhằm thể hiện tình cảm, cảm xúc, thể hiện những khát vọng
hoà bình, trung chính trước cuộc sống… Nhìn một cách nào đó thì thanh kiếm và
cây đàn khó có thể gặp gỡ nhau, khó có thể dung hoà với nhau. Nhưng trong các
tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung đã tạo ra sự gặp gỡ dung hoà và tương tác giữa hai
hình ảnh đó một cách kỳ thú lạ lùng. Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Côn Lôn Tam
Thánh Hà Túc Đạo từ dãy Thiên Sơn đi về tỉnh Hồ Nam, đem theo một cây thất huyền
cầm và một thanh trường kiếm. “Hỡi ơi, nước xanh và đá trắng sao rời rạc nhau đến
như vậy” - lời than thở của Hà Túc Đạo giữa rừng sâu là lời than chưa tìm được
một người tri kỷ hồng nhan, như nước xanh cứ mãi trôi mà đá trắng vẫn trơ vơ đứng
lại bên đời. Cho đến khi gặp được cô gái Quách Tương, Hà Túc Đạo đã cảm hứng
sáng tác ra được một nhạc khúc để chờ có dịp là đàn cho cô nghe. Và trong một
trận chiến với 3 cao thủ Thiếu Lâm Tây Vực, Hà Túc Đạo đã ngồi tại chỗ, sử dụng
một tay kiếm đánh với đối thủ, tay kia vẫn tiếp tục đánh đàn. Nghe tiếng đàn
phơi phới xuân tình, tràn đầy niềm nhớ thương u ẩn, Quách Tương đỏ mặt lên, biết
Hà Túc Đạo muốn tỏ tình với mình. Năm ấy cô mới 16 tuổi. Tiếc thay tuy thắng
trong trận này nhưng sau đó Hà Túc Đạo đánh thua sư Giác Viễn và Trương Quân Bảo
(chính là Trương Tam Phong sau này) ở chùa Thiếu Lâm nên lặng lẽ bỏ Trung
Nguyên trở về Thiên Sơn, khiến khát vọng phối hợp thanh kiếm và cây đàn của
chàng không thực hiện được. Kim Dung đã để cho Cầm điên Khang Quảng Lăng, nhân
vật trong Thiên Long bát bộ thực hiện khát vọng ấy. Khang Quảng Lăng có ngoại
hiệu là Cầm điên, một nhân vật chơi hồ cầm rất tài hoa. Lão dùng tiếng đàn làm
vũ khí, đấu nhau với kiếm kích đao thương của người khác. Nghe tiếng đàn của
lão, trái tim người ta dội ngược, kinh mạch loạn lên, người không có nội công
thâm hậu khó chống chọi được điệu đàn của lão, tiếng đàn thoạt đông thoạt tây,
thoạt trên thoạt dưới, thoạt gần thoạt xa. Khang Quảng Lăng thuộc phái Tiêu Dao
tức là tu theo Lão - Trang. Thế nhưng lão vẫn chưa thoát tục được, giai điệu vẫn
chưa đạt đến mức thượng thừa của âm nhạc hoà bình trung chính. Có lẽ điều chưa
đạt được đó đã được tác giả Kim Dung thử nghiệm lại trong Tiếu ngạo giang hồ.Trong
tác phẩm này, tác giả xây dựng một nhân vật cổ quái là Tiêu Tương dạ vũ Mạc Đại
tiên sinh, chưởng môn phái Hành Sơn. Mạc Đại tiên sinh cất một thanh kiếm ngắn,
lưỡi mềm và mỏng như lá lúa trong đáy cây hồ cầm. Tiên sinh được ca ngợi với 8
chữ “cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm âm” (trong đàn giấu kiếm, kiếm phát tiếng
đàn). Kiếm pháp “Bách biến thiên ảo, Hành Sơn vân vụ thập tam thức “ của lão nhằm
cứu người trong cơn hoạn nạn, tế khốn phò nguy. Nhưng tiếng hồ cầm của lão chưa
thoát tục, cứ đi mãi trên con đường bi ai sầu thảm; lại thêm lời ca của bài
Tiêu Tương dạ vũ (mưa đêm trên sông Tiêu Tương) nghe ra đau xót như những giọt
mưa rơi xuống lá cây. Mạc Đại tiên sinh là hình ảnh của một trích tiên bị đoạ.
Một nhân vật khác của Tiếu ngạo giang hồ là Khúc Dương đã nhận ra chỗ thiếu sót
đó của Mạc Đại. Khúc Dương là trưởng lão của Triêu Dương thần giáo (Ma giáo). Khúc
Dương là 1 nhạc sĩ tài ba, do không phục một câu nói của Kê Khang, 1 nhạc sĩ đời
Tây Tấn đã đàn khúc Quảng lăng tán trước khi bị Tư Mã Chiêu giết, rằng: “ta chết
đi từ nay trên đời không còn khúc Quảng lăng tán nữa”. Khúc Dương đã bỏ công ra
đi đào 29 ngôi mộ của các vua chúa và đại thần thời Đông Hán và Tây Hán và đến
ngôi mộ thứ 29 ở đất Thái Ung thì lão tìm ra khúc phổ Quảng lăng tán, Khúc
Dương đã cải biên thành nhạc khúc dành cho đàn thất huyền cầm và gọi tên khúc
đó là Tiếu ngạo giang hồ. Lão chơi thân với Lưu Chính Phong, nhạc sĩ thổi sáo của
phái Hành Sơn. Lưu Chính Phong dựa vào cung đàn của Khúc Dương để viết 1 phần
tiêu phổ cho ống sáo. Cầm tiêu song tấu, họ có được nhạc khúc Tiếu ngạo giang hồ
hoà bình, trung chính; thể hiện được khát vọng được sống tự tại tiêu dao của một
kiếp người. Nhưng cả Lưu Chính Phong và Khúc Dương đều bị lên án bởi phái Tung
Sơn. Với tham vọng lên ngôi minh chủ Ngũ Nhạc kiếm phái, chưởng môn phái Tung
Sơn là Tả Lãnh Thiền đã sai thủ hạ sát hại Lưu Chính Phong, định tiêu diệt phái
Hành Sơn trước. Thế nhưng trên cả âm mưu của phái Tung Sơn, Nhạc Bất Quần, chưởng
môn đã nuôi mộng lên ngôi Ngũ Nhạc phái (bỏ chữ kiếm) bằng chính một đường kiếm
tàn ác - Tịch tà kiếm pháp - mà lão ăn cắp được. Cũng với thanh kiếm, Lệnh Hồ
Xung đã học được Độc Cô cửu kiếm để trị Tịch tà. Tác giả Kim Dung đã để cho Độc
Cô thắng Tịch tà, lấy cái ngay thẳng để chế ngự cái tà ma, lấy cái chính nhân để
trị cái nguỵ quân tử. Và khi thanh kiếm chính nghĩa đã toàn thắng thì khúc hợp
tấu cầm tiêu Tiếu ngạo giang hồ lại ung dung trổi lên, hoà bình trung chính làm
say đắm lòng người nghe. Lưỡi kiếm là bạo lực, có cái bạo lực phản động, có cái
bạo lực để chống bạo lực phản động. Tiếng đàn là tiếng lòng, là âm điệu của hoà
bình nhân ái. Lưỡi kiếm ngay thẳng chống bạo lực phản động, lập lại công lý cho
cuộc sống để tiếng đàn hoà bình, nhân ái được cất lên. Toàn bộ khát vọng của
Kim Dung được thể hiện qua Ỷ thiên Đồ long ký, Thiên Long bát bộ giữa sự giao
thoa của kiếm và đàn chưa hoàn thành. Và ông viết tiếp Tiếu ngạo giang hồ để
hoàn thành ước mơ đó. Chàng kiếm sĩ Lệnh Hồ Xung với đường Độc Cô cửu kiếm cuối
cùng cũng buông lưỡi kiếm xuống, cầm lấy cây đàn cùng người yêu thổi tiêu hợp tấu
Tiếu ngạo giang hồ. Vì vậy mà trên cuộc sống này vẫn tồn tại câu nói “Hoà bình
là hiệu quả của chân lý”. Ở một chừng mực nào đó Kim Dung đã thể hiện tư tưởng
có trước đây hơn 2000 năm của Socrate “Hoà bình chỉ thực sự có khi công lý được
xác lập”.
Huyền thoại Thủ cung sa
Thủ cung sa () có lẽ là một
khái niệm khá mới trong hệ thống từ Hán - Việt của ngôn ngữ Việt Nam. Tôi đã
tra 6 cuốn từ điển Hán - Việt hoặc Việt – Hán mà không tìm ra được từ ghép này,
có lẽ vì nó cổ quá và có lẽ đến bây giờ, người phụ nữ Trung Quốc không cần đến
nó nữa. Cuộc sống văn minh với làn sóng “cách mạng tình dục”, tư tưởng tự do
luyến ái và một chút thực dụng của chủ nghĩa hiện sinh Tây phương đã ảnh hưởng
đến phương Đông. Người phương Đông, kể cả người phương Đông Trung Quốc, vốn là
con cháu Đức Khổng Phu tử, đã có một quan điểm rất thoáng về chữ trinh nơi người
phụ nữ. Tôi nhấn mạnh chữ Trinh () chứ không phải chữ Tiết (). Trinh là một cái
gì đó hoàn toàn nguyên vẹn, ban sơ mà đạo Khổng vốn coi là biểu tượng của sự
trong trắng, đạo đức, của tất cả các hành vi giữ mình như ngọc của một cô gái mới
lớn lên. Trong y học, trinh mang ý nghĩa cụ thể hơn: đó là một cái màng mỏng nằm
trong nội cung người phụ nữ. Ai còn trinh thì được gọi là xử nữ. Và do vậy,
màng trinh được gọi là xử nữ mạc. Thủ cung sa là một dấu vết nhỏ có màu đỏ sậm
của thần sa, được điểm lên cánh tay của một cô gái mới lớn (thường là cánh tay
trái, cách vai khoảng một tấc, ngang với chỗ mà ngày nay người ta chủng ngừa đậu
mùa) để chứng minh cô gái ấy còn trinh bạch. Các thầy thuốc ngày xưa khó lòng
quan sát xử nữ mạc, mà dẫu muốn quan sát cũng chưa chắc được ai cho! Cho nên,
người Trung Quốc cổ mới nghĩ đến một tiêu ký nhằm hình tượng hoá chữ trinh ra
ngoài cấm địa của người phụ nữ - ấy là vế thủ cung sa trên cánh tay. Muốn biết
cô gái nào còn là xử nữ hay không, chỉ chỉ cần vén tay áo lên xem xét thủ cung
sa còn hay mất. Nếu thủ cung sa mất đi thì ô hô, ai tai; dẫu có mười miệng cũng
không biện giải, cãi chày cãi cối nữa với mọi người vốn thuộc lòng câu “Nam nữ
thọ thọ bất thân”. Làm sao lưu được tiêu ký của thủ cung sa? Hán thư, cách
chúng ta trên 2.000 năm, ghi chú rõ: bắt một con tắc kè con, nuôi nó cho thật tử
tế, cho nó ăn hết bảy cân thần sa. Đập nát con tắc kè, vắt xác của nó lấy một
loại nước có màu đỏ sậm. Đem nước ấy chấm lên cơ bắp cánh tay trái của cô gái mới
lớn. Dấu chấm ngoài da sẽ ăn sâu vào lớp ngoại biểu bì, để lại một vết tròn màu
đỏ sậm trên làn da trắng nõn. Vết tròn màu đỏ sậm ấy chính là biểu tượng uy
nghi, hùng hồn nhất của sự trinh bạch. Nếu cô gái tự mình gần gũi với người đàn
ông hoặc bị cưỡng hiếp, vết thủ cung sa sẽ mất đi ngay. Lý luận thì chặt chẽ
như vậy nhưng Hán thư của học giả Ban Cố vẫn không cắt nghĩa được mối tương
quan hữu cơ giữa thủ cung sa trên cánh tay và xử nữ mạc trong nội cung của người
phụ nữ. Nói cách khác, lời bí chú của Hán thư không giải thích được tại sao khi
xử nữ mạc bị rách thì vế thủ cung sa lại biến mất đi và giả thiết một cô gái bị
mất thủ cung sa rồi thì họ có thể… làm lại cái mới không. Và bởi thủ cung sa có
được từ nước cốt của con tắc kè ăn đủ 7 cân thần sa, nghĩa là chuyện mà tất cả
mọi nhà ở Trung Quốc đời Hán đều làm được, và bởi thịt da ai cũng như ai nên
tôi đồ chừng tất cả mọi phụ nữ Trung Quốc (thời Hán thôi nhé) từ cô gái 16 tuổi
thơm như đóa ngọc lạn đến người thiếu phụ 50 tuổi có mấy mặt con, tả tơi như
tàu lá chuối sau trận bão, đều có thể tự làm tiêu ký thủ cung sa được. Đến lúc
đó, dẫu sư phụ của các danh y Hoa Đà, Biển Thước nhìn được vết thủ cung sa cũng
khó lòng nhận ra chân giả, thực hư. Không chừng rút kinh nghiệm đó mà ngày nay,
các tú bà thường cho bác sĩ “tân trang” xử nữ mạc các cô để gạt mấy tay
Hongkong, Taiwan giàu sụ. Đó là chuyện 2.000 năm trước. Hai ngàn năm sau, nhà
văn Kim Dung đã đưa huyền thoại thủ cung sa của dân tộc mình vào trong các tác
phẩm tiểu thuyết võ hiệp của ông, vẫn với mục đích chứng minh cho sự trinh bạch
của người phụ nữ mới lớn. Các nhân vật nữ của ông nhưng Chu Chỉ Nhược (Ỷ thiên
Đồ long ký), Lý Mạc Sầu (Thần điêu hiệp lữ), Mai Phương Cô (Hiệp khách hành) đều
giữ được những vết đỏ thắm của thủ cung sa trên cánh tay trắng nõn nà. Nghĩa là
họ không hề mất trinh, chưa từng chăn gối với đàn ông, chưa thất thân vì người
khác giới như họ tự nhận hoặc do người khác vu vạ. Lứa đôi Chu Chỉ Nhược và
Trương Vô Kỵ thương yêu nhau. Diệt Tuyệt sư thái, chưởng môn phái Nga My lại buộc
học trò Chu Chỉ Nhược của mình phải thề độc, không được thương yêu Trương Vô Kỵ.
Chu Chỉ Nhược phải dựng lên câu chuyện Tống Thanh Thư là chồng của cô để đánh lừa
mọi người, chủ yếu là đánh lừa chàng Trương. Khi Tống Thanh Thư bị đánh trọng
thương, mọi người vẫn đinh ninh rằng Chu Chỉ Nhược đã là đàn bà. Đến lúc đó,
Chu Chỉ Nhược mới vén cánh tay áo lên cho mọi người biết cô vẫn còn vết thủ
cung sa tươi thắm. Vết thủ cung sa đó đủ sức cải chính tất cả mọi lời đồn đại,
mọi điều mà cô đã tự nhận về mình. Mai Phương Cô thương yêu Thạch Thanh nhưng
Thạch Thanh đã có vợ, có hai con trai. Trong một cơn ghen tuông làm mất lý trí,
cô đã bắt một đứa con mới 3 tháng tuổi của Thạch Thanh đem đi, nuôi nấng hài
nhi thành người, đặt tên là Cẩu Tạp Chủng (chó lộn giống). Đứa bé lớn lên, vẫn
đinh ninh Mai Phương Cô là mẹ ruột của mình. Cho đến một ngày vợ chồng Thạch
Thanh lên núi Hùng Nhĩ tìm Mai Phương Cô, có cả cậu trai Cẩu Tạp Chủng đi theo,
Mai Phương Cô vẫn vì cơn ghen, không tiết lộ thân thế Cẩu Tạp Chủng. Ai cũng
yên chí Phương Cô chửa hoang, sinh ra thẳng bé không cha, riêng vợ Thạch Thanh
thì cho rằng chồng mình đã chăn gối với Mai Phương Cô sinh ra cậu Cẩu Tạp Chủng.
Kim Dung đã xử lý tình huống tiểu thuyết hết sức bi kịch nhưng cũng hết sức cao
thượng: ông để cho Mai Phương Cô tự vận, một bên áo rách hiện rõ vết thủ cung
sa trên làn da trắng. Nghĩa là Mai Phương Cô vẫn còn trinh bạch. Còn Cẩu Tạp Chủng
là ai, tại sao khuôn mặt chàng giống hệt Thạch Thanh, tại sao chàng gọi Mai
Phương Cô là má má thì tự độc giả tìm hiểu. Trong tiểu thuyết võ hiệp của Kim
Dung, huyền thoại thủ cung sa được nâng lên thành hiện thực mang dấu ấn của triết
lý, dấu ấn của tư tưởng nhân văn và nhân đạo. Nếu cứ lý luận theo kiểu nhà nho
thì ai còn trinh mới là đạo đức; ai mất trinh là kẻ hư thân. Nhưng Kim Dung
không nhìn người phụ nữ Trung Quốc theo nhãn quan đó. Trong Thần điêu hiệp lữ,
ông xây dựng nhân vật Tiểu Long Nữ, chưởng môn phái Cổ Mộ Đài. Tiểu Long Nữ mới
18 tuổi, thương yêu người học trò nhỏ hơn cô 2 tuổi là Dương Qua. Một hôm, khi
cô đang thoát y để luyện Ngọc nữ tâm kinh trong bụi rậm thì bị một tên đệ tử
phái Toàn Chân là Doãn Chí Bình điểm huyệt, che mặt rồi đưa vào chỗ kín đáo cưỡng
hiếp. Cô gái đau khổ khi mất đi vết thủ cung sa và cảm thấy không còn xứng đáng
với chàng học trò nhỏ Dương Qua nữa. Cô đau xót bỏ Dương Qua ra đi. Nhưng trong
con mắt Dương Qua, một Tiểu Long Nữ mất trinh còn hơn hàng vạn cô gái trinh bạch
khác trên đời. Dương Qua ra đi tìm cô khắp bốn phương trời. Không có nàh văn
nào can đảm như Kim Dung khi đưa ra một người thầy mất trinh, một mối tình thầy
tro trong một bối cảnh xã hội mà Khổng giáo vẫn chiếm tư thế độc tôn như xã hội
Trung Quốc thế kỷ XI. Ở đây, ông muốn chứng minh một điều: chữ trinh qua dấu vết
thủ cung sa không là cái gì cả. Một tai nạn thông thường hoặc nghiêm trọng có
thể làm mất đi sự trinh bạch của người phụ nữ nhưng phẩm giá và tình yêu của
người phụ nữ đó vẫn còn nguyên vẹn. Chất nhân bản, nhân văn đó dễ có mấy ai đã
thể hiện được trong tiểu thuyết. Một Lý Mạc Sầu trinh bạch nhưng tàn ác vẫn
thua xa một Tiểu Long Nữ bị mất trinh nhưng tấm lòng quảng đại bao dung. Nếu với
đàn ông, Kim Dung thường đưa câu “Đừng đem thành bại luận anh hùng” thì với phụ
nữ, chúng ta cũng có thể nghĩ đến câu “Chớ đem trinh tiết khoe thục nữ”. Thủ
cung sa, rốt cuộc lại, chỉ là quan điểm của Kim Dung về chữ trinh, một quan điểm
mới mè, vượt xa công thứ sơ lược của cổ nhân. Trước Kim Dung trong hơn 200 tác
phẩm tiểu thuyết Minh – Thanh, chữ trinh đã từng là vấn đề trong Tây sương ký,
Liêu trai chí dị, Tam quốc chí, Hồng lâu mộng. Thế nhưng, chữ trinh đó đôi khi
rất cực đoan, đôi khi lại bị xem quá nhẹ. Chữ trinh trong tác phẩm tiểu thuyết
Kim Dung không nhẹ, cũng chẳng cực đoan. Nó phụ thuộc vào hoàn cảnh, thời điểm,
số phận của từng nhân vật cụ thể. Kim Dung không lấy chữ trinh làm thước đo phẩm
giá người phụ nữ. Những nhân vật nữ thất trinh của ông như Tiểu Long Nữ, Kỷ Hiểu
Phù… khiến người đọc thông cảm, xót xa, kính trọng. Văn chương của Kim Dung
đúng là một thứ văn chương nhân bản, nhân văn.
Bọn hào sĩ giang hồ ăn Tết
Khái niệm "hào sĩ
giang hồ" là một khái niệm khá đặc biệt mà người ta chỉ tìm thấy trong những
tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung. Hán - Việt từ điển của Đào Duy Anh định
nghĩa hào sĩ là "những người có thế mạnh hơn người". Trong tiểu thuyết
võ hiệp Kim Dung, từ "giang hồ" (sông hồ) mang một ý nghĩa hết sức tượng
trưng để chỉ những cuộc đời lênh đênh, trôi giạt; những con người chuyên sống bằng
đường đao mũi kiếm, đứng trên và đứng ngoài những quy định vương pháp của các
triều đại phong kiến Trung Quốc. Họ hình thành một giới: giới võ lâm. Tính theo
âm lịch, người Trung Quốc ăn 12 cái tết (tiết) trong năm: Nguyên đán (1 tháng
giêng), Khai hạ (7 tháng giêng), Nguyên tiêu (15 tháng giêng), Hàn thực (3
tháng ba), Thanh minh (tháng ba), Đoan ngũ (5 tháng năm), Trung nguyên (15
tháng bảy), Trung thu (15 tháng tám), Trùng cửu (Trùng dương - 9 tháng chín),
Trùng thập (10 tháng mười), Hạ nguyên (15 tháng mười), Táo quân (23 tháng chạp).
Bọn hào sĩ giang hồ vốn là những hán tử thô hào, bồng bột, lãng mạn - nói theo
ngôn ngữ Kim Dung, cũng "ăn tết" quanh năm. "Gió xuân đầm ấm
Ngàn liễu xang tươi Hoa phô sắc thắm Hương nức lòng người" "Tiết trời
vào buổi dương xuân, ánh dương quang sáng lạn khắp miền nam". Đoạn văn ngắn
trên đây của Kim Dung, mở đầu cho tác phẩm Tiếu ngạo giang hồ với những nét
phác rất đơn giản, giới thiệu cho chúng ta thấy khung cảnh mùa xuân ở Phúc
Châu, tỉnh Phúc Kiến, miền nam Trung Quốc. Trong khung cảnh đó, chàng trai Lâm
Bình Chi của Phước Oai tiêu cục cao hứng dẫn bọn tiêu sư đi săn rồi vào quán bên
đường uống rượu, gây ra cuộc ẩu đả với bọn phái Thanh Thành để rồi vướng vào những
cuộc đấu tranh đẫm máu trong suốt chiều dài cuốn truyện. Ăn tết không gì vui bằng
rượu. Rượu của Trung Quốc vốn rất phong phú về nguyên liệu, về cách chưng và về
tên gọi: Thiệu Hưng trạng nguyên hồng, Thiệu Hưng nữ nhi hồng, Trúc diệp thanh,
Mai quế lộ, Bách thảo mĩ tửu, Hầu nhi tửu, Bồ Đào tửu, Cao lương tửu, Ngũ tiên
tửu, Phần Dương tửu... kể cả Phục đặc gia tửu (rượu Vodka). Bọn hào sĩ giang hồ
cứ thế mà uống, uống xong rồi tuốt kiếm giương đao nói chuyện phải quấy với
nhau. Lệnh Hồ Xung và Điền Bá Quang trong Tiếu ngạo giang hồ đấu với nhau trí mạng
trên Tuý tiên lâu ngoại thành Hành Sơn để rồi trở thành bạn của nhau cũng qua
chén rượu. Biết Lệnh Hồ Xung quý rượu hơn tính mạng, bọn hào sĩ giang hồ các
bang, các đảo, các động tổ chức cuộc họp mặt ăn tết trên gò Ngũ Bá Cương để lấy
lòng chàng và lấy lòng Nhậm Doanh Doanh, ý trung nhân của chàng. Ngũ Bá Cương
thuộc về hạ lưu sông Hoàng Hà, giáp giới Hạ Trạch, Định Đào, phía Tây địa giới
tỉnh Hà Nam, là nơi thuận tiện cho quần hùng bốn châu Tề, Lễ, Dự, Ngạc tụ hội.
Bọn hào sĩ giang hồ bốn châu đã ăn cắp thuốc và bắt thầy thuốc về chữa bệnh cho
Lệnh Hồ Xung; mang theo những bò khô, bò quay (?), đùi gà và cả chục loại rượu
đủ cho 3000 người ăn để tiếp đãi chàng. Tất cả chỉ vì một mục đích: được bái yết
tôn dung Lệnh Hồ Xung. Họ "ăn mặc kỳ dị, mặt mày dữ tợn", chuyên ăn
những miếng thịt to, uống những bát rượu lớn, tưởng đâu chẳng biết sợ trời sợ đất
là gì. Thế nhưng, nghe tiếng đàn tình tang của thánh cô Nhậm Doanh Doanh nổi
lên, cả 3000 con người vứt chen bỏ tô hè nhau trốn sạch! Gần như cuộc sống của
giới võ lâm trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung chẳng thấy ai làm nghề nghiệp
gì, nhưng họ lại có vàng, có bạc, quanh năm ăn uống no say. Khi Doanh Doanh ban
lệnh buộc bọn hào sĩ giang hồ phải tìm cách giết Lệnh Hồ Xung thì bọn Lão Đầu Tử,
Tổ Thiên Thu và Kế Vô Khả Thi vẫn tuân lệnh. Nhưng vốn đấu kiếm không lại Lệnh
Hồ Xung, cả bọn 40 người nguyện dùng rượu ngon đổ cho Lệnh Hồ Xung say đến chết!
Họ lý luận: "Cái đó kêu bằng dúng sức không được thì dùng trí" (?). Rồi
từ 40 người, họ về kết bè phái lên tới 2000 người, bầu Lệnh Hồ Xung làm minh chủ,
trống rong cờ mở tiến lên chùa Thiếu Lâm vào rằm tháng chạp để giải cứu Nhậm
Doanh Doanh. Đi đến bất kì nơi đâu, bọn hào sĩ giang hồ cũng "ăn tết"
thủng nồi trôi rế tới đó. Có lẽ căn bệnh ăn nhiều uống lắm là căn bệnh phổ quát
của con người. Biết làm sao được? Cuộc sống ngắn ngủi có 100 năm, lại sẵn rượu
ngon nhắm tốt, không uống không ăn hoá ra cô phụ tấm lòng của cuộc đời dành cho
mình lắm sao? Bọn hào sĩ giang hồ của Kim Dung lại là những nhân vật tự nhiên
chủ nghĩa, hễ có là ăn uống ì xèo như ngày tết, không cần biết thức đó do ai
làm và làm cho ai. Trong Thiên Long bát bộ, có một đoạn tao ngộ khá vui: bọn Tần
gia trại ở Hà Sóc vô tình chạm mặt bọn phái Thanh Thành ở Tứ Xuyên trong Tính
hương tịnh xá của Đoàn A Châu tại Giang Nam. Mục đích chung của họ là tìm Mộ
Dung Phục để trả thù. Trong khi bọn đệ tử Thanh Thành ăn chay, ngồi trơ như gỗ đá
thì bọn Tần gia trại lại nhậu nhẹt tưng bừng. Chúng lấy hết những rượu hoa
nhài, Mai Quế lộ, Mai hoa lộ do A Châu chưng cất ra uống, lại buộc lão Cố - đầu
bếp của A Châu, phải xào nấu thức nhắm cho chúng thưởng thức. Để trả thù, lão Cố
vừa nấu nướng vừa xỉ mũi, khạc nhổ đờm rãi vào thức ăn, "phục vụ" cho
chúng anh hùng Tần gia trại! Nếu hình thái ăn tết tập thể có vẻ lúi xùi, lộn xộn
thì hình thái ăn tết cá nhân lại có vẻ đàng hoàng, trật tự hơn. Chúng ta có thể
tìm gặp trong Thiên Long bát bộ hình ảnh của một người ngồi nhậu trên Tùng hạc
lâu, thành Vô Tích, đất Giang Nam: "Một đại hán ngồi đầu mé tây, hai mắt
sáng như điện, thân thể cao lớn, trạc ngoài 30 tuổi, phục sức có vẻ sơ sài mộc
mạc, mặt vuông chữ điền, tướng mạo không tuấn tú nhưng oai phong lẫm liệt".
Đó là Kiều Phong, bang chủ Cái bang Trung Quốc. Anh ta mời Đoàn Dự, vương tử nước
Đại Lý đối ẩm với một mân thịt bò chín, một bát canh lớn và ba hồ rượu to, mỗi
tô mười cân, mỗi cân tương đương 600 gram , vị chi khoảng 18 lít. Cả hai cưa đôi số rượu đó, tính
ra mỗi người uống được 40 bát, tương đương chín lít. Chắc chắn là tác giả có thổi
phồng con số này để khắc hoạ đậm nét thên hai hình tượng anh hùng của giới võ
lâm thời nhà Tống. Ở chừng mực nào đó, việc đối ẩm của giới võ lâm thể hiện những
nét văn hoá nhất định, không phi văn hoá và tự nhiên chủ nghĩa như việc loạn ẩm
của quần hào. Ta có thể tìm ra được những biểu hiện văn hoá như vậy trong cuộc
gặp gỡ giữa Kiều Phong và Công Dã Can, trang chủ Huyền Sương trang trên Vọng
giang lâu ở thành Giang Âm, thượng lưu sông Trường Giang. Kiều Phong và Công Dã
Can, mỗi người bưng một bát rượu đầy, thách đấu với nhau ba chưởng. Qua hai chưởng
đầu, Công Dã Can còn giữ được bát rượu trong tay. Qua chưởng thứ ba, anh ta
không chịu nổi được sức mạnh của Kiều Phong, Công Dã Can chỉ than: "Tiếc
quá, thực uống bát rượu ngon". Qua cấu nói đó, Kiều Phong đánh giá Công Dã
Can là một anh hùng chân chính, một hảo hán tử. Trong năm cách uống rượu (ẩm):
độc ẩm, đối ẩm, cộng ẩm, quần ẩm và loạn ẩm thì cách loạn ẩm là lộn xộn nhất,
lăng nhăng nhất. Bọn hào sĩ giang hồ vốn là những người ít học, lại văn vô đệ
nhất, võ vô đệ nhị, ai cũng tự cảm thấy mình là bậc anh hùng, là con người siêu
việt. Khi cả bọn họp mặt nhau lại, khó khăn lắm mới bâu ra được người thống
lĩnh. Khổ thay, người thống lĩnh đó tài trí và võ công chưa chắc đà hơnai, lại
không qua một trường huấn luyện chỉ huy nào nên đội ngũ được thống lĩnh vốn đã
ô hợp lại càng thêm xộc xệch. Trường hợp của Ô Lão Đại thống lĩnh bọn quần tiên
36 động, 72 đảo gồm mấy ngàn người, tấn công lên núi Phiêu Miễu, cung Linh Thứu
chống Thiến Sơn Đồng Mỗ trong Thiên Long bát bộ là như vậy. Bọn hào sĩ giang hồ
này tự xưng là "tiên" nhưng thực ra chỉ là một đám ăn hại, võ nghệ
tào lao mà đầu óc lại nông choèn. "Quần tiên" lên được tới cung Linh
Thứu không thu được thắng lợi gì ngoài việc ăn uống thả dàn và phóng uế bừa
bãi. Vụ "ăn tết" đó khiến cho cung Linh Thứu xú khí ngất trời xanh. Gần
như ai cũng công nhận rằng người Trung Quốc có kĩ thuật chế biến món ăn tinh
vi, khoa học, xảo diệu và cầu kì nhất. Đọc Lộc Đỉnh ký, chúng ta biết được có
trên 100 món hạt dưa, trên 100 món bánh mứt ăn chơi và cả ngàn món thức ăn mặn.
Nhân vật được quyền ăn ngon nhất trong Lộc Đỉnh ký là nhà vua Khang Hy. Tuy
nhiên, đúng như định đề Kim Dung đã rút ra: "Ở trên đời, hoàng cung và kĩ
viện là hai nơi trá nguỵ nhất" cho nên trong cái ăn vẫn có những điều trá
nguỵ buồn cười. Trên nguyên tắc, đồ ăn thức uống nào ngon nhất, bổ nhất thì được
dâng lên vua. Bọn trù phòng (đầu bếp) và bọn thái giám thường hợp đồng mua thực
phẩm từ nhà thầu bên ngoài đưa vaò hoàng cung để chế biến. Tuy nhiên, cũng như
muôn đời, cuộc sống vốn tồn tại cái gọi là tham nhũng mà trong kĩ thuật tham
nhũng, bọn thái giám chính là tổ sư bồ đề. Cho nên, bất kì món thực phẩm nào
đưa vào hoàng cung dẫu có ươn thúi đi nữa mà kèm theo được chút tiền lót tay
thì món ấy mới xứng để dâng lên nhà vua và các hậu phi; món nào dù có tươi ngon
đến mấy mà thiếu tiền lót tay cũng trở thành ươn thối. Con heo được nuôi bằng
những vật trân quý như Đậu hoàng Nhân sâm, Hoa điêu, Phục linh, có tên là Đậu
hoàng nhân sâm trư, Hoa điêu phục linh trư được bọn quần hùng Thiên Địa hội làm
sẵn, nhét người vào trong đó để đưa đến tổng quản thái giám Vi Tiểu Bảo (người
của Thiên Địa hội làm nội tuyến trong hoàng cung). Bọn chúng giả vờ quên đưa tiền
lót tay để Vi Tiểu Bảo chửi toáng lên, buộc đưa heo về phòng mình khám nghiệm
và cứu người ra. Những món thịt heo trân quý như vậy ít khi đến miệng vua Khang
Hy. Nó dùng làm thức đưa cay cho quí vị thái giám trù phòng và thị vệ dưới quyền
Vi Tiểu Bảo. Ngay cả quần hùng Thiên Địa hội cũng được “ăn theo” nhiều món
khoái khẩu mà chỉ có trong hoàng cung mới nấu nướng được. Cho nên, quanh năm suốt
tháng, những ai đi theo Vi Tiểu Bảo đều được ăn tết. Họ "ăn tết" từ
hoàng cung ra đến quanh thành Bắc Kinh, từ Bắc Kinh đến Vân Nam, từ Vân Nam đến
Dương Châu, từ Dương Châu đến biên giới Trung - Nga ở vùng Hắc Long Giang. Kiến
thức về văn hoá thì Vi Tiểu Bảo khống có lấy một xu nhưng kiến thức về đánh bạc
bịp, làm tiền và nhất là ăn uống thì Vi Tiểu Bảo là nhân vật siêu hạng. Trong
12 bộ tiểu thuyết võ hiệp của mình, Kim Dung đã dành nhiều trang nói về các đồ
ăn thức uống, cách chế biến, cách dùng. Có lẽ chủ nghĩa dân tộc cũng hằn sâu
vào những trang sách này của ông: ông không che giấu được niềm tự hào khi nói về
nghệ thuật ăn uống của người Trung Quốc, và đối với những đồ ăn thức uống của
dân tộc khác, ông thường chê là hủ lậu. Và cũng có lẽ do âm vang lịch sử về nỗi
thống khổ của dân tộc trong những năm Bát quốc liên quân tấn công triều Thanh,
cuộc xâm lược của phát xít Nhật vào vùng Đông Bắc, những tao loạn trong quá
trình đấu tranh Quốc - Cộng đã khiến cho hàng triệu người Trung Quốc đói rét lầm
than nên Kim Dung đã hào phóng để cho bọn hào sĩ giang hồ trong tác phẩm võ hiệp
của mình ăn tết thoải mái, không nhằm ngày tết cũng tiểu yến, đại yến như thường.
Họ đi đến đâu là được ăn nhậu no say đến đấy mặc dầu thấy họ hiếm có nghề nghiệp,
tiền bạc. Bọn hào sĩ giang hồ chỉ có được cái miệng rộng và cái dạ dày to. Hoặc
giả đó cũng có thể là một mơ ước nhân bản của Kim Dung: mơ ước về một nền văn
minh phồn thực tự nhiên. Ông mong đồng bào mình suốt đời được ăn ngon, mặc đẹp.
Mà suy cho cùng, nếu được thảnh thơi ăn tết quanh năm thì loài người quả thật hạnh
phúc.
Bọn hào sĩ giang hồ tiếp thị
Tiếp thị là một khái niệm hoàn toàn mới mẻ
trong thời đại chúng ta. Cổ văn Trung Quốc không có hai từ tiếp thị. Tuy nhiên,
nói như vậy không có nghĩa là những hành động tiếp thị quảng cáo hoàn toàn
không có trong các xã hội cổ đại Trung Quốc. Bọn hào sĩ giang hồ trong tiểu
thuyết võ hiệp Kim Dung là những nhân vật được hư cấu từ thế kỉ thứ 10 (nhà Nam
Tống) đến thế kỉ thứ 18 (triều Càn Long, nhà Thanh) ở Trung Quốc. Hoạt động chủ
yếu của họ là sống trên đường đao mũi kiếm, hành hiệp cứu đời. Thế nhưng, điều
đặc biệt là họ cũng biết “tiếp thị”, hiểu theo cái nghĩa là biết giới thiệu mặt
hàng đến người mua và mua bán khá sòng phẳng. Mở đầu bộ Tiếu ngạo giang hồ, Kim
Dung để cho nhị đệ tử phái Hoa Sơn là Lao Đức Nặc dẫn con gái của sư phụ là Nhạc
Linh San hoá trang và mạo danh là ông cháu, tìm xuống ngoại thành Phúc Châu, tỉnh
Phúc Kiến sang lại tiệm bán rượu để theo dõi hành tung bọn phái Thanh Thành tiến
đánh Phước Oai tiêu cục. Họ treo biển mới, gọi quán rượu của mình là Đại Bảo;
Lao Đức Nặc xưng là lão Tát; Nhạc Linh San xưng là Uyển Nhi. Chính Lâm Bình
Chi, người của Phước Oai tiêu cục, sau khi đi săn đã ghé quán Đại Bảo uống rượu
sinh sự và giết con trai của chưởng môn phái Thanh Thành Dư Thương Hải tên là
Dư Nhân Ngạn. Tiệm của Lão Tát luôn luôn có loại rượu Trúc diệp thanh danh tiếng.
Thực ra, mua bán là chuyện phụ, chuyện chính của hai sư huynh muội là dòm ngó bộ
kiếm phổ của nhà Lâm Bình Chi có bị phái ThanhThành đoạt mất hay không. Tiếu ngạo
giang hồ cũng có một đoạn tiếp thị khá tức cười. Lão ăn xin thành Hành Dương quảng
cáo với Lệnh Hồ Xung rằng lão có loại rượu tên gọi Hầu nhi tửu do “Khỉ ở trong
rừng Tương Tây biết hái trái cây làm rượu”. Vì khỉ hái quả rất tươi, rất ngọt
nên chúng nấu rượu cực ngon. Lão ăn xin thừa lúc khỉ đi vắng, lén vào động khỉ
ăn cắp ba hũ Hầu nhi tửu, lại bắt thêm một con khỉ nhỏ để về… nấu rượu. Lệnh Hồ
Xung nghe lão quảng cáo, trả lão ba lạng bạc để xin một hớp Hầu nhi tửu. Nhưng
hắn vận Hỗn nguyên khí công, một hớp của hắn uống cạn sạch nửa bầu Hầu nhi tửu
của lão ăn xin khiến lão lăn ra kêu khóc, bắt đền. Thỉnh thoảng, bọn hào sĩ
giang hồ cũng có nghề nghiệp rõ rệt. Hà Tam Thất, cao thủ núi Nhạn Đãng tỉnh
Triết Giang, chuyên nghề bán hoành thánh. Kim Dung giới thiệu: “Khắp hang cùng
ngõ hẻm có hàng vạn người bán hoành thánh nhưng bán hoành thánh mà thân ở trong
võ lâm giang hồ chủ có một mình Hà Tam Thất”. Lên Hành Sơn dự lễ rửa tay gác kiếm
của Lưu Chính Phong với tư cách một thượng khách, Hà Tam Thất vẫn gánh gánh
hoành thánh theo. Đệ tử phái Hoa Sơn ăn của lão bảy bát, phải trả cho lão bảy
mươi quan tiền. Định Dật sư thái của phải Hằng Sơn nổi nóng đập bể của lão hai
cái bát, hai chiếc muỗng phải đền cho lão mười bốn quan tiền. Hà Tam Thất đến
nơi nào là nơi đó có tiếng gõ lốc cốc của hai thanh tre. Tiếu ngạo giang hồ còn
một nhân vật tiếp thị khá đặc biết: Hoạt bất lưu thủ Du Tấn, chuyên bán nguồn
tin. Lão này võ công cao cường, tướng tá phì mỵ, chuyên đi nghe lén nguồn tin mật
trong giang hồ rồi bán cho người khác để kiếm tiền. Lão ăn nói rất khiêm tốn:
“Một sợi lông của các vị còn lớn hơn bắp đùi của tiểu đệ”. Nguồn tin mà ai nấy
đền quan tâm là bộ Tịch tà kiếm phổ của Lâm Bình Cho lọt vào tay ai. Du Tấn đòi
tám người mua trả giá nguồn tin này tám trăm lạng bạc nhưng chỉ có một người chịu
đưa cho gã một trăm lạng. Cầm tiền xong, lão giả bộ ngó ra đường, la lớn: “Chao
ôi, Đông Phương giáo chủ bao giờ người mới đến”. Ai nấy tranh nhau nhìn ra đường
thì Du Tấn vận khinh công tột đỉnh, chạy trốn biệt. Hoá ra, lão là kẻ lừa đảo.
Cho nên bọn hào sĩ giang hồ gọi lão là Du tẩm nê thu (con lươn tẩm trong dầu).
Con lươn đã trơn, lại tẩm dầu còn trơn tuột hơn nữa; thật khó mà bắt được Du Tấn
để lấy lại tiền. Mà có lấy được tiền thì đồng tiền ấy cũng sứt mẻ, trăm lạng
chưa chắc còn được vài lạng bởi ngoại hiệu của lão là Hoạt bất lưu thủ (tiền
không còn dính lại trong tay). Cá biệt, hào sĩ giang hồ tiếp thị để tránh cho
mình một nguy cơ, che giấu một bí mật. Hiệp khách hành có nhân vật Ngô Đạo Nhất
võ công cao cường, sau khi ăn cắp được Huyền thiết lệnh, đã trốn về Hầu Giám tập
tại phủ Khai Phong giả làm một bà già lưng gù bán bánh tiêu. Bọn Kim Đao trại nắm
được tin ấy, đưa đầu lãnh Chu Mục xuống đánh Ngô Đạo Nhất. Trong lúc nguy cấp,
Ngô Đạo Nhất nhét Huyền thiết lệnh vào trong chiếc bánh tiêu nóng hổi, mời kẻ đến
đánh mình: “Đại gia ăn bánh ư? Một đồng một cái”. Gã hán tử giang hồ hất tay,
chiếc bánh văng ra rảnh nước và được một chú bé ăn xin nhặt được. Bộ Hiệp Khách
hành mở đầu với một màn tiếp thị oái oăm và bất ngờ như vậy. Hoạt động tiếp thị
được bọn hào sĩ giang hồ thực hiện đôi khi còn nhằm mục đích tìm ra kẻ thù để
báo thù. Đó là chuyện được Kim Dung thuật lại trong Tố tâm kiếm tức Liên thành
quyết. Địch Vân muốn tìm ra Vạn Khuê, kẻ đã giết sư muội của mình. Chàng quay về
Giang Lăng, thấy bọn hào sĩ giang hồ đổ xô vào các hiệu sách tìm mua Đường thu
tuyển tập đến nỗi không còn một bộ Đường thi tuyển tập nào. Biết họ mua tuyển tập
này đề tìm ra câu mật ngữ chỉ đường đi tìm kho báu giá trị Liên thành và Vạn
Khuê giết vợ cũng chỉ vì người vợ không chịu tiết lộ cho Vạn Khuê câu mật ngữ đó.
Địch Vân nghĩ đến chuyện tiết lộ câu mật ngữ để tìm Vạn Khuê. Chàng mua vải trắng,
mực tàu viết một đoạn mật ngữ: “Giang Lăng thành Nam, Tây Thiên Ninh tự, hoàng
kim Phật tượng, hướng cho mô bái kiến thành chúc cáo…” (Phía Nam thành Giang
Lăng, hướng Tây chùa Thiên Ninh, có pho tượng phật bằng vàng, hướng về phía đó
mà thành tâm vái lạy và cúc cáo…). Rồi chàng đem tấm vải đó treo ở cổng chính
chợ Giang Lăng (như ta căng biểu ngữ quảng cáo bây giờ vậy). Quả nhiên, bọn hào
sĩ giang hồ hay tin, tìm đến ghi lại dòng chữ đó. Vạn Khuê cũng đến, cải trang
thành một gã nông dân nhưng Địch Vân vẫn nhận ra hắn. Kiểu “tiếp thị” như vậy
thật mới mẻ; rất gần với hiện tượng “báo chữ to” trong lịch sử Trung Quốc hiệnđại.
Trong Ỷ thiên Đồ long ký, Kim Dung kể chuyện đệ tử thứ ba của phái Võ Đang là
Dư Đại Nham theo dõi bọn diêm tiêu (bán muối) của Hải Sa bang. Mỗi gã diêm tiêu
gánh một đôi thùng đựng muối trắng xoá và qua chiếc đòn gánh bằng sắt, Dư Đại
Nham mới biết được bọn này có võ công cao cường. Họ gánh muối đi từ Phúc Kiến
qua Triết Giang, không hề bán cho ai. Nên nhớ vào thời Nam Tống, hạt muối rất
quý với người Trung Quốc và thuế muối là một trong những loại thuế cao nhất.
Ban đầu, Dư Đại Nham cho rằng đây là một tập đoàn buôn muối lậu nhưng khi họ
bao vây một toà miếu cũ, hốt muối ném khắp sân và ném vào toà miếu thù Dư Đại
Nham hiểu rằng loại muối của họ là muối độc. Và từ màn “tiếp thị biếu không” muối
độc đó, Dư Đại Nham khám phá ra bí mật Hải Sa bang đang theo dõi để đánh lấy bảo
đao Đồ long. Nhiều nhân vật của Kim Dung đã “tiếp thị” cuộc đời mình trước đường
đao mũi kiếm, coi cái chết nhẹ tợ lông hồng. Họ xả thân hành hiệp cứu đời, giúp
người yếu đuối, trị kẻ gian tham, lập lại “công đạo”. Cái sinh tử, tồn vong với
họ chỉ là một món đồ chơi trong cuộc chơi lớn. Kiều Phong, Lệnh Hồ Xung, Hư
Trúc, Hồ Phỉ, Thạch Phá Thiên, Trương Thuý Sơn, Trương Vô Kỵ, Địch Vân, Quách
Tĩnh, Dương Qua… là những con người như vậy. Và họ đã nhận lại được những “món
lợi” lớn lao: danh dự và phẩm giá của người anh hùng phương Đông chân chính.
Hàng giả tống Vân Nam
Nhìn trên bản đồ Trung
Hoa ngày nay, Vân Nam là một tỉnh phía Tây Trung Quốc, Nam giáp Việt Nam và
Lào, Tây giáp Miến Điện (Myanmar). Dưới triều vua Khang Hy nhà Thanh, nhân vật
đứng đầu cai trị vùng đất Vân Nam - Tứ Xuyên là Ngô Tam Quế, tước hiệu Bình Tây
vương. Nguyên khi mới chiếm được đất nước Trung Quốc rộng lớn, người Mãn Châu gồm
tám bộ tộc, mỗi bộ tộc có một màu cờ gọi là Bát kỳ, thống nhất tôn tộc Ái Tân
Giác La (Aisin Gioro) làm lãnh tụ. Miền đất khởi nghiệp của họ chỉ gồm ba tỉnh
Cát Lâm, Cáp Nhĩ Tân, Liêu Ninh (gọi là Đông tam tỉnh) với vài triệu người thì
làm sao có thể cai trị được đất nước Trung Hoa với hàng trăm triệu người Hán tộc.
Chính vì vậy mà thời Thuận Trị và sau này là thời Khang Hy, các hoàng đế Mãn Châu
tích cực sử dụng những Hán gian, những tay sai đắc lực đã giúp người Mãn Châu
tiến công vào Trung Quốc, bổ dụng họ thành những phiên vương (vua nước phên giậu)
giúp nhà vua cai trị các vùng đất xa xôi (so với kinh đô Bắc Kinh). Thời Khang
Hy có tam phiên: Bình Tây vương Ngô Tam Quế cai trị Vân Nam - Tứ Xuyên; Bình
Nam vương Thượng Khả Hỷ cai trị Phúc Kiến; Tĩnh Nam vương Cảnh Tinh Trung cai
trị Quảng Đông. Ngô Tam Quế là phiên vương lớn nhất, binh lực gần bằng binh lực
hoàng đế. Vua Khang Hy sinh năm 1654, lên ngôi năm 1662 (8 tuổi), thực sự cai
trị năm 1667 (13 tuổi). Ông vua con này thực sự là một minh quân, biết nhìn xa
trông rộng. Học theo phong cách cai trị của nhà Minh, Khang Hy muốn thực hiện một
chế độ quân chủ trung ương tập quyền và muốn như thế thì truyện đầu tiên là phải
triệt hạ tam phiên. Trong tam phiên, Khang Hy chỉ e dè có Bình Tây vương Ngô
Tam Quế. Đó là những nét cơ bản trong canh bạc chính trị đầu đời Mãn Thanh trên
đất Trung Quốc. Lộc Đỉnh ký của nhà văn Kim Dung được xây dựng trên bối cảnh lịch
sử thực tế đó. Khi nhà vua mới 15 tuổi, có một viên thái giám giả mạo đã lọt được
vào hoàng cung ở Bắc Kinh, trở thành bạn nhỏ của nhà vua. Anh ta là Vi Tiểu Bảo,
13 tuổi, con một kỹ nữ thành Dương Châu. Vua Khang Hy có một cô em gái (trong truyện
xây dựng là kết quả của mối tình thầm lén giữa một thứ phi của Thuận Trị hoàng
đế với một nhân vật trong đạo Thần long ở Liêu Đông) tên là Kiến Ninh công
chúa. Năm 15 tuổi, Vi Tiểu Bảo biết công chúa Kiến Ninh, bị cô tra tấn, đánh đập,
hành hạ rất khổ sở. Kiến Ninh chỉ thua Vi Tiểu Bảo một tuổi nhưng cô rất hung
ác, bạo ngược. Để tự cứu mình, Vi Tiểu Bảo đã bẻ trật khớp tay, đánh đập, thậm
chí lấy đèn đốt cháy da ngực công chúa. Kim Dung xây dựng nhân vật Kiến Ninh là
một người mắc chứng khổ dâm (Masochisme-perversion dans laquelle le sujet
recherche le plaisir sexuel dans la douleur: trạng thái bệnh lý mà trong đó chủ
thể chỉ tìm thấy được khoái lạc tình dục trong sự đau đớn thân xác). Cho nên
khi Vi Tiểu Bảo đốt cháy ngực Kiến Ninh, lấy roi đánh cô thì cô lại: "miệng
cười chúm chím" lại còn động viên: "Xin tướng công đánh mạnh
vào" miễn là đừng gây thương tích trên mặt cho cô. Và đôi thiếu niên đó đã
sớm quan hệ tình dục với nhau ngay trong hoàng cung có tiếng là thâm sâu nghiêm
cẩn nhất của các triều đại quân chủ Trung Quốc! Cô công chúa 14 tuổi sống cạnh
gã thái giám giả, không còn là một cô gái trong trắng nữa. Tất nhiên vua Khang
Hy không biết được điều đó. Tham vọng của nhà vua là làm sao triệt hạ được tam
phiên và đặc biệt đối với Ngô Tam Quế - đại phiên vương, phải được thực hiện
cho được một giải pháp chính trị an toàn. Nhà vua đánh một nước cờ theo cách
các vua Trung Quốc ngày xưa: dùng nữ sắc. Khang Hy tuyên bố gả ngự muội là Kiến
Ninh công chúa cho Ngô Ứng Hùng, con trai của BÌnh Tây vương Ngô Tam Quế để đôi
bên kết thông gia cùng chia nhau hưởng phú quý. Nước cờ đó của vua Khang Hy thật
cao cường: vừa loại được cô em gái bạo ngược ra khỏi hoàng cung, xoá lấp được
điều xấu xa khỏi dư luận cung cấm; vừa đánh lạc hướng Ngô Tam Quế để củng cố
binh lực Thanh triều, đủ sức đối phó nếu Ngô Tam Quế làm phản. Vi Tiểu Bảo được
nhà vua tin yêu, phong làm Tứ hôn sứ, có nhiệm vụ đưa Kiến Ninh công chúa vượt
mấy chục ngàn dặm từ bắc Kinh đến Vân Nam để gả cho Ngô Ứng Hùng. Theo pháp luật
và đạo đức các triều đại quân chủ ở Trung Hoa, trinh tiết của người phụ nữ được
coi là tiêu chuẩn hàng đầu, tiêu chuẩn quyết định đời sống lứa đôi. Một cô gái
bình thường thất trinh đã là một trọng tội huống chi một cô công chúa vị thành
niên là ngọc cành vàng, lại là dâu tương lai của một phiên vương đứng đầu các
phiên vương? Vua Khang Hy, Ngô Tam Quế, Ngô Ứng Hùng và nhân dân Trung Hoa thời
ấy đâu biết được truyện động trời ấy của Kiến Ninh công chúa. Chỉ có Vi Tiểu Bảo
và Kiến Ninh công chúa biết chuyện. Vậy là món hàng giả Kiến Ninh công chúa, cô
gái lá ngọc cành vàng được hoàng thượng và thái hậu rất cưng chiều, được tống
tiễn về Vân Nam. Đoàn người đưa công chúa đi đều cho Vi Tiểu Bảo là thái giám
thứ thiệt. Thế nhưng hắn chưa bao giờ "tĩnh thân" thì làm sao gọi là
thái giám. Vi Tiểu Bảo là một thứ thái giám giả mạo. Cả hai thứ hàng giả mạo gặp
nhau, cùng đi hết tháng này qua tháng nọ, biến hành cung của công chúa điện hạ
thành chỗ ái ân đầm đìa ngay trước mũi của thiên hạ. Nghệ thuật hài hước của
Kim Dung trong văn chương đã được phát triển đến tột độ, khó tìm thấy được
trong bất kỳ một tác phẩm văn học hài hước nào từ trước đến nay! Tác giả cũng
chua chát nhận xét: "Con người thiếu niên vừa biết mùi nam nữ chung chạ mà
nàng công chúa kiều mỵ kia lại dùng thiên binh vạn trạng để quấn quít lấy gã
thì còn dứt tình sao được". Cho nên, quân sĩ tiền hô hậu ủng đi về Vân Nam
thì cứ đi, riêng Đô thống, Tứ hôn sứ suốt ngày cứ nằm lì trong phòng công chúa.
Làm sao để giải quyết hậu quả không lường khi Ngô Tam Quế phát hiện ra sự thật
kinh thiên động địa là Kiến Ninh công chúa không còn gái trinh? Phản ứng của
chàng phò mã Ngô Ứng Hùng sẽ như thế nào nếu biết được thái giám giả Vi Tiểu Bảo
đã biến vợ mình thành hàng giả? Người Trung Quốc đã có những thứ mà Nguyễn Du từng
đề cập trong Truyện Kiều: "Nước vỏ lựu, máu mào gà" nhưng cả Vi Tiểu
Bảo và Kiến Ninh đều còn trẻ con, không thể biết được hai món chết người đó.
Tác giả Kim Dung giải quyết một cách khác, kinh khủng hơn. Đưa Kiến Ninh tới
Vân Nam, Vi Tiểu Bảo bàn với Bình Tây vương Ngô Tam Quế coi ngày tốt, giờ tốt để
tổ chức lễ cưới cho vừa long trọng, vừa rạng danh Bình Tây vương lại vừa đẹp
lòng Khang Hy, vừa vinh dự cho Ngô Ứng Hùng lại vừa xứng đáng với địa vị cao cả
của Kiến Ninh. Vi Tiểu Bảo cứ kéo dài thời giờ ra để còn tiếp tục đêm đêm còn
vào phòng Kiến Ninh nữa chứ. Bản thân Kiến Ninh thì chỉ muốn sống với Vi Tiểu Bảo
và ra lệnh cho Vi Tiểu Bảo tìm mọi cách để hạ sát gã tiểu tử Ngô Ứng Hùng. Nếu
Ngô Ứng Hùng mà cưới cô, cô sẽ khai ra với nhà vua huỵch toẹt mọi chuyện! Mâu
thuẫn được đẩy lên đến đỉnh điểm, có nguy cơ làm bùng nổ sớm cuộc tạo phản của
Ngô Tam Quế. Thế nhưng... Vi Tiểu Bảo đến thăm Ngô Tam Quế, được họ Ngô tặng
cho hai khẩu súng lục của người Nga (Kim Dung gọi là La Sát Hoả khí; người Hán
thời ấy gọi là Tây dương hoả khí). Vi Tiểu Bảo đưa tặng Kiến Ninh một cây, dạy
cô cách dùng súng. Trong một đêm Ngô Ứng Hùng tuần phòng chữa cháy, Kiến Ninh
đã cho gọi Ứng Hùng vào phòng riêng, dùng súng uy hiếp hắn phải đứng yên rồi bắn
vào bộ phận sinh dục của hăn. Cô tự xé áo mình để vu cáo cho Ngô Ứng Hùng đã muốn
cưỡng bức tình dục đối với cô. Sự kiện động trời đó xảy ra khiến Ngô Tam Quế sợ
vỡ mật, vừa đau đớn vì con, vừa sợ mang tiếng với dư luận hai tỉnh Vân Nam - Tứ
Xuyên. Lão phải đem bạc đút lót cho bọn thân binh từ Bắc Kinh đưa công chúa tới
để mọi người khỏi tâu lên Khang Hy hành vi càn rỡ, đại nghịch khi quân của Ngô Ứng
Hùng. Và lão tổ chức gấp đám cưới; pháo nổ khét lẹt cả thành Côn Minh để dàn cảnh
cho cuộc "trăm năm hạnh phúc" của lứa đôi Kiến Ninh - Ứng Hùng. Hơn
ai hết; Ngô Tam Quế, Ngô Ứng Hùng, Kiến Ninh, Vi Tiểu Bảo đều biết đám cưới kia
là hàng giả. Luật của Trung Quốc buộc cưới xong, đôi vợ chồng mới phải hoàn
hôn. Ngô Ứng Hùng và Kiến Ninh phải quay về Bắc Kinh để lạy tạ vua Khang Hy và
thái hậu. Đây là một nước cờ khác của Khang Hy nhưng nhà vua không bàn cho Vi
Tiểu Bảo biết; ông muốn bắt giữ Ngô Ứng Hùng làm con tin để đủ thời giờ nhờ các
tu sĩ dòng Tên phương Tây chế tạo súng đại bác, đối phó với cuộc tạo phản của
Ngô Tam Quế. Ngô Ứng Hùng về Bắc Kinh được phong phò mã, được cấp phủ đệ xinh đẹp.
Hắn có tất cả, trừ một thứ: được chung chăn gối với Kiến Ninh. Khổ thay, chuyện
ấy đã có bá tước Vi Tiểu Bảo làm thay. Viết bộ Lộc Đỉnh ký, Kim Dung muốn viết
về những món hàng giả của Trung Quốc: những con người giả mạo. Vi Tiểu Bảo là
thái giám giả, công chúa Kiến Ninh là cô gái lá ngọc cành vàng giả, Ngô Ứng
Hùng là phò mã giả mà Ngô Tam Quế cũng là bậc "trung thần" giả. Bản
thân hoàng đế Khang Hy cũng là một vị vua nhân từ giả mạo. Mạt cưa, mướp đắng gặp
nhau: Lộc Đỉnh ký quả là một siêu phẩm về sự giả mạo. Nhưng nó có một chất rất
thật, rất đời mà không một tác phẩm nào có được, kể cả những tác phẩm khác của
Kim Dung: mặt sau của tấm huy chương đạo đức Trung Hoa trong thế kỷ 17. Lịch sử
Thanh triều ghi rõ: năm 1677, Ngô Tam Quế nổi loạn ở khu vực Động Đình hồ, chiếm
Tứ Xuyên và Vân Nam, xưng là Ngô quốc công. Tay đại Hán gian này dựng cờ, truyền
hịch "Hưng Minh thảo Lỗ" (khôi phục lại nhà Minh và bài trừ rợ Mãn
Châu). Nhưng chính sách cai trị nhân từ, sáng suốt của Khang Hy đã thu phục được
lòng dân Trung Quốc; không có ai ủng hộ Ngô Tam Quế. Ngô Tam Quế lên làm vua ba
tháng thì mất; Khang Hy chặt đầu Ứng Hùng, bình định được miền Tứ Xuyên - Vân
Nam.Triều Khang Hy được coi là triều đại cực thịnh của nhà Thanh trên đất Trung
Quốc.
Bức giác thư giã từ thế kỷ Cuộc tình anh với em Chỉ
còn giây phút thôi Thì tình xin sáng tươi Tựa ngàn tia nắng rọi (Lời một bài
hát) Lần đầu tiên, lần thứ hai, lần thứ ba… tôi cứ ngỡ đọc tác phẩm của Kim
Dung là đi tìm một thế giới khác ngoài thế giới thực tại – một “thiên ngoại hữu
thiên”, - để trốn vào trong đó. Tôi cứ cho rằng thế giới của tiểu thuyết võ hiệp
là một thế giới viễn mộng và nó trở thành tháp ngà cho chính mình, giúp mình
lãng quên thực tại. Trong tâm phân học, Sigmund Freud đã nói cảm xúc (émotion)
như một trò ảo thuật nhằm hư vô hoá hoàn cảnh, giúp cá nhân từ chối hoàn cảnh.
Thí dụ như trước một con cọp dữ, tôi không làm gì được nó, vậy tôi ngất xỉu để
quên nó đi, để coi nó như không có trên đời. Tôi cũng đã một thời coi chuyện đọc
tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung là một màn ảo thuật giúp tôi hư vô hoá
hoàn cảnh, giúp tôi lãng quên đời. Thế nhưng, đến tuổi tri thiên mệnh, tôi mới
nhận ra được rằng ý nghĩ đó là sai lầm. Phải, Kim Dung sáng tạo ra một thế giới
mới - thế giới võ hiệp – nhưng phiêu lưu vào thế giới đó, tôi hoàn toàn không hề
lãng quên đời mà ngược lại, tôi càng thấy cuộc đời hiện thực gần gũi hơn, thân
thiết hơn. Đọc những tác phẩm tiểu thuyết hiện thực ngày nay, tôi bỗng cảm thấy
cuộc đời xa cách quá. Ngược lại đọc tiểu thuyết của Kim Dung, tôi thấy võ lâm
sao mà quen thuộc quá, quen thuộc như chính tôi đang sống, đang góp mặt trong
đó. Hoá ra, có hai thứ hiện thực; một hiện thực được hư cấu bay bổng tuyệt vời
rất gần gũi với từng số phận con người; một hiện thực bị bóp méo qua cái nhìn hạn
hẹp và sự gia công chưa tới của nhà văn khiến nó trở thành ốc đảo, lẻ loi, hoàn
toàn xa lạ với đám đông, trong đó có tôi. Võ lâm là gì? Đó là một xã hội có những
con người công chính, ngay thẳng, khao khát lập lại sự công bằng, trừ khử cái
ác, kêu gọi lòng thương yêu quý trọng phẩm giá con người, làm sáng lên phẩm giá
con người. Đó cũng là một xã hội mà cái ác, cái xấu còn đang ngự trị; những nguỵ
quân tử đang đóng vai những người quân tử để lừa bịp thiên hạ mưu cầu hạnh phúc
và quyền lực cho bản thân. Đó là một xã hội mà sự đấu tranh giữa cái thiện và
cái ác khá rõ, nhưng đôi khi do định kiến sai lầm, người ta lẫn lộn cái thiện
là cái ác, cái ác là cái thiện, làm nảy sinh sự mâu thuẫn trong chính nhận thức
của từng người qua từng thời điểm khác nhau. Tất nhiên cái thiện sẽ thắng cái
ác, cuộc sống sẽ vươn tới cái tốt đẹp nhưng để có được tương lai đó, người ta
phải trải qua thiên ma bách chiết, trong đó có sự tự chiến thắng chính cái xấu
của mình. Võ lâm là gì? Đó là một xã hội sống để yêu thương nhau, để bày tỏ tấm
lòng với nhau, để cho nhau, riêng cho nhau một đời một kiếp. Đó là một xã hội
mà càng thâm nhập ta càng cảm thấy gần gũi hơn. Có một lần, tôi đứng trước hiên
nhà và quan sát đoá phù dung. Buổi bình minh hoa trắng mịn màng như làn da của
một em bé đẹp. Buổi trưa hoa chuyển màu hồng. Buổi chiều hoa có màu tím bầm rồi
sau đó hoa tàn đi. Ai cũng bảo đời hoa phù dung ngắn ngủi, bất hạnh. Nhưng hãy
nói ngược lại, bản thân đời sống ngắn ngủi bất hạnh đó vẫn đem lại cho cuộc sống
một vẻ đẹp độc đáo mà ngàn hoa khác không thể mang lại được. Đặng Thế Phong chỉ
sống có ngoài ba mươi tuổi, để lại cho đời ít nhất hai ca khúc bất hủ. Có người
sống năm saú chục năm tuổi, viết hàng trăm ca khúc mà vẫn nhàn nhạt lửng lơ. Có
người sống đến bách niên mà chẳng để gì lại cho đời ngoài hai từ trường thọ. Ta
chọn ai, người làm đẹp cho cuộc đời mà yểu mệnh hay người chẳng làm cho đời đẹp
mà sống lâu? Ta chọn hai ca khúc bất hủ hay một trăm ca khúc nhàn nhạt?
Chưa bao giờ tôi nghĩ người cầm bút viết văn là người giáo dục cho đời. Hễ khi
người ta dùng văn chương lên gân dạy đời thì người ta chẳng dạy được ai cả (và
cũng chẳng ai muốn đọc cả). Văn chương chỉ đơn giản là một thứ trò chơi, trò
vui. Ông Hàn Dũ nói “Văn dùng để chở đạo” (Văn dĩ tải đạo) là một cách nhắc nhở
cho người cầm bút phải viết văn đứng đắn, có ích cho đời chứ không phải dạy đời.
Văn chương đơn giản chỉ là thứ bông hoa chưng cho đẹp. Trong quan niệm đó, tôi
chỉ viết văn để cho đời giải trí, kể cả toàn bộ tập Kim Dung giữa đời tôi cũng
chỉ để cho bạn đọc giải trí. Thảng hoặc, trong hàng ngàn trang sách kia, bạn bắt
gặp được đôi ba cụm từ đắc ý hoặc may mắn tìm thấy vài kiến thức nho nhỏ thì
tôi cũng đã lấy làm hạnh phúc lắm rồi. Tôi chờ mong đem lại những giây phút giải
trí cho bạn đọc. Một ngày đầy những lo âu, căng thẳng, buồn bã; cầm quyển sách
lên đọc trăm trang, liên tưởng đến một thế giới khác, sống với một tâm trạng
khác, như vậy quyển sách đã có ích cho đời. Tôi vẫn sợ mình sông thừa sống uổng.
Ngay trong những giây phút đau đớn nhất của đời mình, tôi vẫn muốn làm thêm một
cái gì cho đời, cho người. Cái lưng đau kinh khủng, phải trích Dectancyl vào tuỷ
sống; các bác sĩ dặn bớt ngồi, phải nằm nghỉ nhiều. Nhưng tôi nằm nghỉ sao được.
Tôi đóng chặt cửa phòng bệnh, viết một ngày mười hai tiếng đồng hồ. Viết cái
gì? Viết Kim Dung giữa đời tôi. Điều đáng sợ nhất đối với con người là sự cô
đơn. Một số nhân vật của Kim Dung tàn tạ, chìm khuất trong nỗi cô đơn. Đó là Hà
Túc Đạo, Tiểu Long Nữ, Dương Qua, Lâm Triều Anh, Vương Trùng Dương, Kiều Phong,
Đinh Điển… Vốn xưa họ có một tình yêu, một người yêu nhưng rồi cuộc sống chia
xa đôi lứa. Và rồi, họ mất đi một nửa của chính mình, cô đơn suốt quãng đời còn
lại. Thật hạnh phúc cho những lứa đôi được sống bên nhau: Hư Trúc và Ngân Xuyên,
Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh, Địch Vân và Thủy Sinh, Hồ Phỉ và Miêu Nhược
Lan… Thật hạnh phúc cho những lứa đôi được chết bên nhau: Thuý Sơn và Hân Tố Tố.
Tình yêu cứu vãn thế giới chứ không phải là một thứ gì khác. Có bao giờ
người nhìn thấy chân mây trắng vương vấn trên đỉnh núi kia? Nó có đấy nhưng
cũng không có đấy. Nó vương trên đỉnh núi rồi sẽ bay đi, sẽ tan đi nếu có một
tác động ngoại lai của gió của nắng. Người có bao giờ soi bóng trên nguồn suối
giữa rừng đại ngàn? Nó có đấy, cái bóng dáng tươi đẹp kia mà cũng chẳng có đấy.
Cuộc sống của con người cũng vậy, có đấy mà cũng chẳng có đấy. Nó ngắn ngủi vô
cùng, hữu hạn vô cùng. Tại sao không nhìn nhau bằng một ánh mắt dịu dàng, không
nói với nhau một lời đằm thắm. Ngày mai, khi giã từ cuộc sống nào ai có mang được
gì theo đâu. Triệu Mẫn thương yêu Trương Vô Kỵ. Cô đã đột ngột cầm tay Trương
Vô Kỵ cắn một cái, hy vọng dấu răng sẽ gây thành vết thương, vết thương sẽ mãi
mãi còn trên da thịt để một ngày mai, lỡ có xa nhau, Vô Kỵ nhìn thấy dấu vết trên
tay mình là vẫn nhớ đến Triệu Mẫn. Sự tỏ tình của cô gái Mông Cổ quả thật độc
đáo, đầy sáng tạo, rất phàm tục nhưng cũng rất thi vị. Từ đó suy ra, ai gây cho
ta một chân thương tâm hồn hay thể xác, ta sẽ nhớ mãi người ấy suốt đời. Vâng
suốt đời, hỡi cỏ thơm của đời tôi. Bồng Sơn là một thị trấn nhỏ của tỉnh Bình Định,
nằm trên Quốc lộ 1A. Từ đây, nhìn về phía Tây là núi An Lão, chìm trong mây mù,
sương phủ. Tôi qua Bồng Sơn một chiều mùa đông lặnh căm căm, trong căn phòng trọ
uống ly rượu chát đỏ và nghĩ đến đoạn Tiểu Siêu chia tay Trương Vô Kỵ. Và tôi
làm thơ: Gần cuối năm 49 Rằng: Nguyên tiêu, trăng đã sáng trên đồi Chờ với nhé,
người ơi chờ ta nhé Như thuở ấy đôi lòng còn rất trẻ Nhìn hoàng hôn mà cứ ngỡ
bình minh Khi heo may phong kín cuộc hanh trình Ta ghé lại bên đời phơi chiếc
áo Và chợt thấy một ngàn hoa thạch thảo Mở một lần để tàn lụi một ngày Biển ở
bên kia, sóng vỗ bên này Bởi trái đất vẫn xoay cơn mộng mị Ta gọi lại cuối nóc
lòng thế kỉ Mà trọn đời không thấy một âm vang Con ngựa già lên đỉnh dốc lầm
than Gặm cọng cỏ thơm mùa xuân bát ngát Để đủ sức mà cât cao tiếng hát Rằng: chờ
ta về hỡi Nguyên tiêu Trời xa xanh lồng lộng bóng mây chiều Ai bay được như ánh
hồng Trang Tử Sau bài thơ là những chuỗi ngày tháng u buồn. Trong nỗi cô đơn
tuyệt vời, tôi tìm đến với tác phẩm Kim Dung nhiều hơn, chia sẻ với các nhân vật,
các số phận trong tác phẩm của ông sâu sắc hơn. Rồi sẽ có một ngày, tôi như
cánh chim bay khỏi bầu trời này. Thế kỉ đang ở trong chiều tàn, trong hoàng
hôn, trong chạng vạng tối. Người ta cho rằng nói đến cái chết là bi quan, tiêu
cực. Không phải vậy đâu. Tôi nghĩ rằng ai dám nhìn vào số phận con người, số phận
của chính mình, làm hết trách nhiệm của một con người với cuộc sống rồi thu xếp
hành trang, chờ đến lúc cánh cửa hư vô mở ra, lên đường trở về với hư vô là người
can đảm. Trương Thuý Sơn, Hân Tố Tố, Huyền Nhạn, Huyền Khổ, Kiều Phong, A Tử đã
lên đường. họ ung dung ra đi như đã tình cờ đến với cuộc đời này, nếm trải đủ
bao nhiêu buồn vui sướng khổ. Sinh, Lão, Bệnh, Tử là một vòng tuần hoàn đương
nhiên mà loài người phải kinh qua, nào có chi để đáng ta phê phán tích cực hay
tiêu cực, bi quan hay lạc quan. Thế kỉ này đang tung nắng ban chiều Cho lòng
người bâng khuâng nhớ nhau Trước cửa trăm năm rất mơ hồ Còn một ngày vui bao nỗi
vui. Có một chiều, tôi trở về căn nhà lạnh giá, bên ngoài mưa rơi. Loài người
đâu rồi? Sao tôi ở lại một mình giữa gối chăn lạc lõng? Tôi đi tìm sự cứu rỗi,
sao chỉ gặp nỗi cô đơn? Cuộc tình anh với em Chỉ còn giây phút thôi Thì tình
xin sáng tươi Tựa ngàn tia nắng rọi. Tôi không không có ngàn tia nắng. Tôi chỉ
mong có một tia nắng rọi. Cuối thế kỉ rồi, đêm tối đang đến để ngày mai có một
bình minh khác lên. Tôi mơ một tiếng hát, một cung đàn hoà bình trung chính như
khúc Tiếu ngạo giang hồ vang lên trong cuộc sống.
Ngày mai, thế kỉ 21 sẽ tới,
thiên niên kỉ thứ ba của loài người sẽ tới. Tôi đứng ở chiều vàng cuối thế kỉ,
nhìn lên đỉnh thiên thu và tự hỏi tôi là ai, từ đâu tới, ngày mai sẽ về nơi
đâu.
Hành trình qua thống khổ
Mỗi người đều có một đời
sống riêng, đi trên một con đường. Nếu đời sống là một cuộc hành trình thì mỗi
cuộc hành trình đều có bản sắc của nó, không ai giống ai, không kinh nghiệm nào
trùng lắp kinh nghiệm nào. Khi xây dựng những nhân vật trung tâm trong tiểu
thuyết của mình, Kim Dung đã khắc hoạ cuộc hành trình riêng của từng nhân vật.
Hồ Phỉ (Tuyết Sơn phi hồ), Lệnh Hồ Xung (Tiếu ngạo giang hồ), Dương Qua (Thần
điêu hiệp lữ) Trương Vô Kỵ (Ỷ thiên Đồ long ký), Kiều Phong (Thiên Long bát bộ),
Thạch Phá Thiên (Hiệp khách hành)… không nhân vật nào giống nhân vật nào. Thế
nhưng, qua những kiếp người đặc thù ấy, người đọc lại nhận ra một mẫu số chung:
mỗi nhân vật trung tâm trong tiểu thuyết Kim Dung đều có chỗ giống nhau bởi họ
đã từng đi qua những con đường đau khổ.
Hồ Phỉ mới được sinh ra 3 ngày thì cha mẹ chết hết, may mắn nhờ một gã tiểu nhị
trong quán cơm bồng chạy trốn kẻ muốn giết hại. Chàng trai côi cút lớn lên, học
được đường Hồ gia đao pháp của cha truyền lại, cưỡi con ngựa đi từ Sơn Đông vào
Trung Nguyên tìm kẻ thù giết cha. Oái oăm làm sao, khi tìm ra kẻ cần tìm thì Hồ
Phỉ mới hiểu được người ấy không phải là kẻ đã giết cha mình. Lưỡi đao đưa lên,
lấp lánh dưới bóng trăng lạnh nhưng Hồ Phỉ không nỡ xuống tay. Tư tưởng của Hồ
Phỉ có sự đấu tranh mãnh liệt; lưỡi đao cứ lơ lửng như vậy. Vì vậy, tác phẩm
còn có một cái tên rất ấn tượng: Lãnh nguyệt bảo đao. Lệnh Hồ Xung lại là một
trường hợp khác. Hắn là một cô nhi, được đưa về Hoa Sơn, trở thành đại đệ tử của
Nhạc Bất Quần. Hắn tôn Nhạc Bất Quần như cha, Ninh Trung Tắc như mẹ và coi Nhạc
Linh San như cô em gái thân yêu. Lớn lên, hắn yêu Nhạc Linh San và càng thêm
kinh trọng sư phụ, sư mẫu. Thế nhưng, Nhạc Linh San đã phụ tình hắn, chạy theo
gã tốt mã nhà giàu Lâm Bình Chi; sư phụ hắn lại vu cáo hắn ăn cáp Tịch tà kiếm
phổ của họ Lâm, đuổi hắn ra khỏi sư môn, lại rao khắp võ lâm nhờ mọi người tru
diệt hắn. Trời đất bao la mà hắn không tìm ra một chỗ để nương thân. Nỗi đau
thương trong suốt cuộc hành trình làm người của hắn đạt đến độ cùng cực của kiếp
người. Nếu không có tình yêu vĩ đại của thánh cô Nhậm Doanh Doanh, chắc hắn đã
chết đi tầm thường và bình thường như cây như cỏ. Cuối cùng, hắn rủ bỏ tất cả để
được cùng Doanh Doanh song tấu khúc Tiếu ngạo giang hồ, sống ung dung tự tại để
được làm con người tự do. Trương Vô Kỵ lại đi qua một con đường thống khổ khác.
Mới 10 tuổi, hắn đã phải chứng kiến một cảnh cực kỳ đau đớn: cả cha mẹ đều tự tử
trên núi Võ Đang. Bản thân hắn bị trúng một chưởng âm hàn, tưởng đã chết nếu
không được thần y Hồ Thanh Ngưu chữa trị. Rồi hắn làm một cuộc phiêu lưu vạn dặm
lên tận Quang Minh Đính trên dãy Thiên Sơn, trở thành giáo chủ Minh giáo Trung
Quốc. Lòng hắn trong sáng như gương; hành vi hắn anh hùng hơn bất cứ một anh
hùng nào nhưng hắn vẫn bị đời nguyền rủa là dâm tặc, ác nhân, tà ma ngoại đạo.
Hắn dành cả đời mình cho sự nghiệp chống quân Mông Cổ xâm lăng, giành lại đất
nước cho Hán tộc. Nhưng rồi hắn đau đớn khám phá ra sự bất trung, bất nghĩa của
Chu Nguyên Chương, một thuộc hạ cùng hắn mưu đồ sự nghiệp lớn. Hắn lặng lẽ rời
hàng ngũ khởi nghĩa, dắt tay Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ, cô quận chúa Mông Cổ xinh đẹp,
ra đi. Cuối cùng, hắn làm một công việc thú vị và rất đàn ông: kẻ lông mày cho
người tình Mẫn Mẫn Đặc Mục Nhĩ. Nhưng bi kịch nhất trong những số phận bi kịch
phải nói đến Kiều Phong (Thiên Long bát bộ). Kiều Phong tên thật là Tiêu Phong,
người Khất Đan; cha mẹ bị người Hán giết hại ngoài Nhạn Môn Quan. Ấy vậy mà Kiều
Phong được người Hán đưa về nuôi dưỡng, Hán hoá, đổi lại họ Kiều, đưa lên làm
Bang chủ Cái bang Trung Quốc, nhận sứ mệnh chiến đấu chống lại người Khất Đan.
Niềm đau đờn của Kiều Phong là khi ông bị thuộc hạ tố cáo là quân Khất Đan mọi
rợ và nhận ra mình chính là người Khất Đan. Hoá ra, ông đã từng đánh giết và chủ
trường đánh giết những người cùng dân tộc với mình. Niềm mđau thứ hai là ông đã
xuống tay giết lầm người tình Đoàn A Châu, người đã nguyện cùng công về bên kia
Nhạn Môn Quan săn chồn đuổi thỏ. Cơ duyên lạ lùng đã đưa ông về Khất Đan (Liêu
quốc), được phong làm Nam viện đại vương, thống lĩnh binh quyền nước Liêu, đóng
tại Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay). Vua Liêu ra lệnh cho ông đánh Trung Quốc;
nghĩ đến trăm họ lầm than, triệu dân đau khổ, Tiêu Phong (tức Kiều Phong) đã chống
lệnh hành quân. Vua Liêu xem ông là kẻ phản nghịch. Ở Trung Quốc, ông là tên
chó Liêu mọi rợ. Về nước Liêu, ông là kẻ phẩn vua, phạm thượng. Hành trình thống
khổ của Tiêu Phong đã đạt đến đỉnh điểm, cần đến sự giải thoát phi tự nhiên.
Ông phải sử dụng đến cái tự do cuối cùng của kiếp người để tự xử lấy mình trước
Nhạn Môn Quan. Kim Dung đã để cho những nhân vật trung tâm của mình kinh qua những
đau đớn về thể chất và tinh thần của kiếp người. Gần như ông muốn chứng minh một
định đề cơ bản của Phật giáo: đời là bể khổ. Có những nhân vật kết thúc hành
trình thống khổ bằng cách tự xử lấy cuộc đời mình như Kiều Phong, Trương Thúy
Sơn. Kim Dung viết đến những đoạn mà các nhân vật của ông tự chọn lấy cái chết
khiến người đọc đau đớn, bùi ngùi, khóc ngay trên trang tiểu thuyết. Tôi cho rằng
một thứ văn chương như vậy là sòng phẳng và công bằng. Tiểu thuyết của Kim Dung
nói đến cuộc sống, tình yêu, sự thống khổ và cái chết đều đáng để người ta quan
tâm đọc và suy ngẫm. Kim Dung đã vượt qua chủ nghĩa công thức sơ lược khi xử lý
kết thúc tác phẩm mà hàng trăm nhà văn Minh – Thanh đã thực hiện. Tôi nhận ra ở
tiểu thuyết Kim Dung tính chất nhân bản, nhân văn rất gần gũi với cuộc sống của
mỗi kiếp người. Một điều cần nhớ là Kim Dung xuất thân từ một gia đình quan lại
ở Hải Ninh, Triết Giang. Tổ phụ ông từng làm quan triều Thanh; họ Tra của ông
có nhiều nhân vật được ghi tên trong lịch sử Trung Quốc. Thế nhưng, văn chương
của ông dành rất nhiều tình thương cho người nghèo, người cùng khổ; các nhân vật
trung tâm thường là trẻ mồ côi, bơ vơ lưu lạc, có kẻ đi ăn xin. Cái đó là gì nếu
không phải là tình thương yêu, quý trọng phẩm giá con người? Tôi nói văn chương
Kim Dung là thứ văn chương đáng để chúng ta đọc và suy ngẫm là vậy.
Ngày mai, thế kỉ 21 sẽ tới,
thiên niên kỉ thứ ba của loài người sẽ tới. Tôi đứng ở chiều vàng cuối thế kỉ,
nhìn lên đỉnh thiên thu và tự hỏi tôi là ai, từ đâu tới, ngày mai sẽ về nơi
đâu.
Đêm phương Nam đọc lại Ỷ
thiên Đồ long ký
Tôi đang ở trong phòng
301, nhà khách Đoàn T.30 của Quân khu 9. Tháng 11, đêm Cần Thơ mưa nặng hạt.
Qua cửa kính, tôi có thể nhìn thấy màn mưa trắng xóa trên rạch Cái Khế, những
ánh điện vàng vọt hắt xuống từ những khung cửa của các ngôi nhà ven bờ rạch bên
kia. Mưa rơi thường gọi nhớ cho lòng người. Đây là một đêm phương Nam như bao
đêm phương Nam khác, nhưng trời mưa khiến lòng thao thức, không ngủ được. Không
ngủ được vốn là thuộc tính của tôi. Lòng tôi như một sợi dây đàn, chỉ cần một
cơn gió nhẹ thổi qua là có thể rung lên thành tiếng; huống chi cuộc sống đầy những
ba động, sướng khổ, vui buồn.
Bức thư kêu oan của một
bà mẹ trong một xã vùng sâu huyện Châu Thành A, kểchuyện cô con gái 16 tuổi của
mình bị hiếp dâm mà vụ án vẫn không bị khởi tố, bị can vẫn không bị truy cứu
trách nhiệm hình sự làm lòng tôi đau nhói. Cô gái đã kể lại cho tôi nghe những
giây phút kinh hoàng, đau đớn nhất đời cô. Kẻ gây án là một người có chức quyền,
thuộc một tập thể sắp được lãnh huân chương. Trorng trường hợp này, danh dự của
tập thể quan trọng hơn phẩm giá một người phụ nữ. Người ta đã mời cô đến, đưa một
triệu đồng hỗ trợ, đưa cho mẹ cô ba triệu đồng gọi là giúp vốn về quê làm ăn.
Khi cô đi khỏi miền đất tai họa của đời mình, có kẻ tự xưng là “nhà báo” viết một
bài khá dài, ca ngợi kẻ hiếp dâm cô là một cán bộ năng nổ đầy tinh thần trách
nhiệm; lên án cô là một thứ gái chuyên trộm cắp, đã được cho tiền mà còn lật lọng
tố cáo vu vơ. Lẽ phải đã bị xâm phạm thô bạo, sự thật đã bị bẻ cong. Tôi có đủ
cơ sở để chứng minh cô gái bị hiếp dâm và chứng minh kẻ có chức quyền kia đã phạm
tội hiếp dâm. Nhưng tôi viết lên thì ai sẽ nghe tôi và liệu tiếng nói của tôi
có đủ sức lay động tấm lòng của những người là công tác tố tụng để bắt giữ, điều
tra, truy tố và xét xử kẻ phạm tội ấy?
Tôi cảm thấy nhục nhã vì
chưa làm hết chức năng của một nhà báo đối với bạn đọc, với một bà mẹ nghèo và
một cô gái bất hạnh đã tin tưởng gởi đơn kêu cứu đến cho tôi.
Tôi cảm thấy nhục nhã bởi
giữa cuộc sống mình bạch mà còn có “nhà báo” vô lương tâm,tự nguyện làm một thứ
bồi bút cho đồng tiền để quay lại phóng uế vào sự thật. Tôi cảm thấy nhục nhã
khi nhiều bạn đồng nghiệp ngay thẳng của tôi và cả tôi cùng đánh đồng với một
thứ “nhà báo” như vậy. Thôi thì tôi trở lại với tư thế của nhà văn, đọc một cái
gì đó mà mình yêu thích và viết một cái gì đó mà mình cần viết.
Có lẽ trong suốt bộ tiểu
thuyết Ỷ thiên Đồ long ký, không có âm thanh nào ám ảnh tôi như tiếng gầm rú của
Tạn Tốn. Kim Dung gọi đó là thần công Sư tử hống - tiếng gầm của sư tử. Tiếng gầm
ấy là một vũ khí lợi hại; nó vang rền, kéo dài đập vào mang nhĩ củangười nghe.
Kẻ nào công lực yếu sẽ bị tiếng gầm làm cho hôn mê và chết luôn; kẻ có công lực
khá hơn thì không chết nhưng mất hết trí nhớ, trở thành cuồng loạn. Trong toàn
bộ tác phẩm, Tạ Tốn chỉ gầm lên một lần trên đảo Vương Bàn Sơn. Tiếng gầm của
lão đã giết chết quần hùng; chỉ còn hai người sống sót nhưng cuồng loạn là Tưởng
Đào và Cao Tắc Thành phái Côn Lôn; hai người sống sót trọn vẹn nhưng bị lão bắt
đi làm “tù binh” là Trương Thuý Sơn phái Võ Đang và Hân Tố Tố của Bạch mi giáo.
Tại sao Trương Thuý Sơn và Hân Tố Tố sống? Ấy là vì tác giả không muốn một thư
sinh tài hoa, có nghệ thuật
thư pháp tuyệt vời và một
cô gái trong trắng, tươi đẹp, thông minh phải chết. Cái tài hoa, cái đẹp của họ
là vốn quý của cuộc sống. Nhưng vốn quý ấy đồng thời cũng là mầm của tai họa, của
đau đớn, của lầm than. Kim Dung gọi họ là một đôi người ngọc (ngọc nhân).
Đôi người ngọc ấy phải sống,
phải lưu lạc lên Băng Hỏa đảo, phải kết đôi với nhau, rồi phải trở lại Trung
Nguyên để gánh chịu sự đau đớn của cái nhìn phân biệt chính tà, phải chết đi
trên núi Võ Đang để giữ bí mật cho bảo đao Đồ long. Nghĩa là họ phải trả giá
cho chính tài hoa và nhan sắc mà trời ban cho họ.
Tiếng rú của Tạ Tốn bao
hàn đủ cả đau thương, uất hận. Một con người văn nhã, có kiến thức văn học uyên
bác, có tài biện luận trôi chảy mà vợ con lại bị chính gã “sư phụ” mất dạy là
Thành Khôn giết chết. Tạ Tốn coi người thầy của mình là cừu nhân, mà oái oăm
thay, gã cừu nhân ấy lại có vai trò lớn hơn cả người cha (trong chế độ quân chủ
theo Nho giáo). Tạ Tốn đi tìm cừu nhân, lại đánh chết một vị thần tăng mà lão
thường kính trọng. Cũng như Chí Phèo của Nam Cao, Tạ Tốn của Kim Dung mong muốn
được làm một con người lương thiện nhưng con đường trở về với bến lương thiện của
lão đã bị chặt đứt bởi sự phân biệt ân oán, chính tà, thiện ác. Tôi cho rằng Tạ
Tốn cất tiếng rú là một cách phát tiết tâm tình. Tạ Tốn rú cũng như Bạch Cư Dị
làm thơ, cũng như cô kỹ nữ trên bến Tầm Dương cất tiếng hát. Tất cả chỉ là sự
phát tiết.
Hân Ly, em cô cậu của
Trương Vộ Kỵ, lại thương yêu Trương Vô Kỵ. Trong quan điểm của hôn nhân gia
đình Trung Hoa ngày xưa, anh chị em cô cậu ruột, anh chị em bạn dì ruột được
phép lấy nhau. Ở đây, người ta bỏ qua mối dây quan hệ huyết thống, chỉ chú trọng
đến yếu tố bàng hệ. Vâng, Hân Ly thương yêu Trương Vô Kỵ. Nhưng khác với những
thiếu nữ xuân thì, cô không muốn giữ lại tấm nhan sắc xinh đẹp của mình. Cô luyện
một môn võ công độc ác với ước mong môn này sẽ giúp cô trả thù lớn cho mẹ mình.
Cô dùng đôi tay hút hết chất độc của những con nhện độc vào thân thể mình và cô
biết khi luyện đến một ngàn con nhện độc, chất độc sẽ tích tụ trong cơ thể,
dung mạo biến đổi trở nên xấu xí vô cùng. Môn võ công của cô được gọi là Thiên
châu vạn độc thủ. Châu đây là con nhện. Đời cô chuyên chơi với những con nhện
nên Kim Dung còn gọi cô là Châu Nhi (bé Nhện). Chất độc của nhện đã làm cho
khuôn mặt cô ngày càng xấu đi; chỉ còn nụ cười với hàm răng trắng là vẫn rực rỡ.
Về sau, cô bị rạch bốn nhát kiếm vào mặt; chất độc chảy ra khiến da thịt trắng
trẻo lại. Nhưng một thiếu nữ bị bốn vết kiếm trênmặt thì dù trắng trẻo đến đâu
cũng không thể gọi là cô gái đẹp được. Cái hạnh phúc muốn được làm duyên làm
dáng trước tình quân muôn đời cô không thực hiện được.
Ỷ thiên Đồ long ký có một
cái bóng thấp thoáng rất lạ. Đó là Thành Khôn, gã sư phụ mất dạy của Tạ Tốn. Gần
như Thành Khôn gây nên các oán thù, xung đột trong tác phẩm nhưng người đọc
không thấy rõ ràng chân tướng lão qua tác phẩm đồ sộ này. Đầu tiên, khi Trương
Vô Kỵ cứu các cao thủ Minh giáo trong Tổng đàn trên Quang Minh Đính, đã giao đấu
với lão, biết lão chính là kẻ cừu nhân của nghĩa phụ Tạ Tốn, đã trốn vào phái
Thiếu Lâm dưới pháp danh Viên Chân nhưng chàng chỉ nghe được tiếng nói và tiếp
xúc với hai bàn tay lão xuyên qua cái bao vải. Mọi người tưởng lão chết trong
đám loạn quân nhưng khi kiểm tra lại các xác chết thì lão đã trốn mất. Rồi khi
Trương Vô Kỵ cùng Tiểu Siêu đi vào đường hầm bí mật dưới Quang Minh Đính, bị
Thành Khôn lấp tảng đá để bít kín miệng hầm, Vô Kỵ vẫn không thấy được mặt lão.
Lần cuối cùng, khi âm mưu bại lộ, lão mới xuất hiện và giao đấu với Tạ Tốn tại
hậu sơn chùa Thiếu Lâm. Tạ Tốn bị mù, bị lão đánh cho tả tơi. Thế nhưng, Tạ Tốn
đã cố ôm lão cùng rơi xuống hầm giam tối đen. Ở đấy, người mắt sáng cũng như kẻ
đui mù. Tạ Tốn cuối cùng cũng trả được mối đại thù: đâm mù hai mắt Thành Khôn,
phế hết võ công của lão. Kẻ cả lần cuối cùng này, Thành Khôn cũng xuất hiện dưới
lớp hóa trang làm cho cả quần hùng không ai nhận ra. Chỉ có Tạ Tốn, nhờ bị mù
mà nhận được tiếng nói. Rốt cuộc, chẳng ai thấy rõ Thành Khôn ra làm sao.
Có lẽ bạn đọc ngạc nhiên,
tự hỏi tại sao tôi đọc lại Ỷ thiên Đồ long ký mà chỉ điểm có
ba nhân vật Tạ Tốn, Hân
Ly, Thành Khôn; ba nhân vật phụ. Vâng, giữa đêm Cần Thơ mưa rơi tầm tã, đêm
phương Nam lặng lẽ, tôi cứ suy nghĩ mải về Tốn, Ly và Khôn. Bạn để ý ba cái tên
ấy chứ? Đó là ba quẻ trong tám quẻ của kinh Dịch: Càn Khảm, Chấn, Tốn, Cấn, Ly,
Khôn, Đoài. Vâng, Ỷ thiên Đồ long ký lấy ba quẻ đặt tên nhân vật. Ở một tác phẩm
khác, Kim Dung lại sử dụng hai quẻ Càn và Cấn để đặt tên cho hai nhân vật phụ
là
Công Dã Càn và Hoa Hách Cấn.
Kim Dung có ngụ ý gì khi đưa các quả của kinh Dịch đặt tên cho nhân vật mình?
Tôi cứ suy nghĩ mãi điều đó nhưng chưa tìm ra được chìa khóa giải mã. Cho nên,
giữa đêm mưa phương Nam, tôi cứ đọc lại Ỷ thiên Đồ long ký và đi tìm. Còn các bạn,
các bạn đã tìm ra chưa?
Sử kiếm ý, bất sử kiếm
chiêu
Hôm nay là mồng Một tết
Nhâm Ngọ (2002), rơi đúng vào ngày sinh của tôi. Nhà nho nói: “Đa thọ đa nhục”.
Tôi đã “thọ” thêm được một tuổi nữa, lòng thực sự không cảm thấy hạnh phúc chút
nào. Ấy bởi vì trong cuộc sống và sáng tạo của một người cầm bút, tuổi già thường
được đồng hóa với sự trì trệ, sự mệt mỏi, sự thiếu lửa. Mà đã trì trệ, mệt mỏi,
thiếu lửa thì e rằng cái mà ta viết ra được sẽ không còn cuốn hút bạn đọc như
xưa.
Văn chương, âm nhạc tối kỵ
nhất là lối mòn, là rơi vào chủ nghĩa công thức. Có người
nghĩ mình là tài hoa, viết
ra những câu lạ, sử dụng một tập hợp những ngôn ngữ khó hiểu để lừa mị quần
chúng, mong tự chứng tỏ tác phẩm mình mang trí tuệ. Không đâu! Đó là sự trí trá
của hoa giả, loại hoa làm bằng nhựa hoặc giấy. Thoạt nhìn, ta nghĩ đó là hoa,
thậm chí còn là hoa đẹp nữa bởi màu sắc rực rỡ, tươi tốt quanh năm. Nhưng
không, nó chỉ là hoa giả, còn thua xa cả một bông hoa dại mọc lẻ loi ở bên đường.
Văn chương cũng
vậy, âm nhạc cũng vậy, phụ
nữ cũng vậy luôn.
Mười hai giờ kém hai mươi
đêm mùng một, có chàng thanh niên lang thang chết bên
vệ đường, trước cư xá tôi
ở. Đên nghe tiếng tụng kinh phát ra từ băng cassette, trông bong đèn sáng một
góc hè phố, tôi biết anh đã chết. Xác anh được đặt trên chiếc ghế bố, một tấm
chăn mỏng trùm từ đầu đến chân. Ngày tết, chẳng có ai bán buôn, không tìm ra được
nải chuối giằng bụng; một ai đó đã nảy ra sáng kiến giằng bụng bằng một con dao
nhỏ. Phía trên đầu anh, có một chén cơm trắng, một chiếc hột vịt luộc. Nghĩa tử
là nghĩa tận, chết là hết, không ai trách được anh điều gì nữa. Hàng xóm nói
anh nghiện ma tuý, đã đau phổi lại thêm chứng đau gan. Chiều 30, trong khi mọi
người tất bật chuẩn bị mua sắm, trang trí nhà cửa để đón tết thì một mình anh vật
vã với cơn đau trên cái nền xi măng lề đường. Anh đã sinh ra, đã lớn lên, đã từng
mơ ước và chắc chắn đã từng yêu. Nhưng rồi,
một cú sốc nào đó trong đời
đã đưa anh tìm đến với ma tuý và trượt dài trên con đường sầu thảm ấy. Cuối
cùng, anh ra đi Người đi trên dương gian Thở hơi ấm (ư) từ ngàn năm
Đó là ca từ trong một bài
hát mà tôi đã thuộc từ mấy mươi năm trước. Bây giờ thì hơi ấm
từ ngàn năm đã thoát khỏi
cái thân xác gầy guộc kia. Tôi cứ nhìn mãi hai ngón chân cái nhô lên sau làn
chăn mỏng, hai ngón chân tiêu biểu của hai bàn chân, cứ muốn bước tới, bước tới.
Cầu cho anh được tha thứ mọi lỗi lầm, được sống bình an trong cõi phúc. Tôi cho
rằng anh cũng như bao nhiêu con người khác qua đời đều xứng đáng để được cầu
chúc như vậy. Anh đã từng
bị dè bỉu, khinh miệt, xa lánh. Nay anh qua đời, đúng là một sự giải thoát, một
hạnh phúc cuối cùng. Cuộc sống buồn và đau quá. Ra đi là hơn, ra đi là hơn.
Đệ tử lâu đời lâu kiếp
Nghiệp chướng nặng nề
Tham giận kiêu căng
Si mê lầm lạc
Ngày nay nhờ Phật
Biết sự lỗi lầm Thành tâm
sám hối...
Tiếng kinh cầu dịu dàng,
tiếng chuông, tiếng mõ đưa hồn anh đi. Biên giới giữa sự sống và cái chết là hết
sức mong manh, mong manh như sợi tơ nhện, mong manh như làn
khói. Những nhân vật
trong các bộ tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung đã chứng mình cho
chúng ta thấy điều đó một
cách cụ thể y như rằng họ đang sống và đã chết giữa cuộc đời
chúng ta vậy. Trương Thuý
Sơn và Hân Tố Tố (Ỷ thiên Đồ long ký) được gọi là một đôi ngọc nhân. Họ thương
yêu nhau, sống thành lứa đôi ở Băng Hoả đảo mà không hề bị rang buộc bởi các
giáo điều của hệ tư tưởng phong kiến. Họ tươi đẹp, thông mình, tài hoa, trinh bạch;
hai con người như vậy quả là thế gian hãn hữu. Họ có một người con trai, mới mười
tuổi cũng đã rất thông mình, tài hoa. Phía sau lưng Trương Thúy Sơn là phái Võ
Đang; phía sau Hân Tố Tố
là Bạch Mi giáo. Đó là hai thế lực cực thịnh trong võ lâm
Trung Quốc thời Nguyên mạt.
Một lứa đôi như vậy đáng lẽ phải được hưởng hạnh phúc lâu dài đến đầu bạc răng
long. Ấy vậy mà khi trở về núi Trung Nguyên, sum họp gia đình chưa được một
ngày, họ đã phải đối phó với những kẻ thù. Trương Thúy Sơn và Hân Tố
Tố đã tự chọn cái chết, tự
xử lấy mình như một thứ tự do cuối cùng mà con người có thể làm được.
Trong tác phẩm Hiện sinh
là một thuyết nhân bản (L’Existentianisme est un humanisme), tác giả Jean Paul
Sartre đã từng đề cập tới một điều mà ông gọi là trò ma thuật thể hiện ý chí,
khát vọng về tự do cuối cùng của con người. Ông định nghĩa trò ma thuật ấy là một
giải pháp giúp con người hư vô hoá hoàn cảnh khi con người không còn
cách để chống chọi hoặc
thoát ra khoải hoàn cảnh ấy. Thí dụ khí đứng trước một con cọp,
người ta không thể đánh
thắng con cọp hoặc bỏ chạy khỏi móng vuốt của nó thì tốt hơn
hết người ta nên ngất xỉu.
Trò ma thuật ngất xỉu giúp người ta quên đi hoàn cảnh đang đối mặt với con cọp.
Ông gọi đó là tự do cuối cùng của con người. Chúng ta đều hiểu trang thái ngất
xỉu có thể hư vô hoá được hoàn cảnh đang đối mặt với con cọp nhưhng hoàn toàn
không giúp gì được cho con người giải quyết được hoàn cảnh ấy. Nhưng dầu sao,ngất
xỉu vẫn là một giải pháp, giải pháp tình thế. Có còn hơn không!
Trở lại với Hân Tố Tố.
Khi thấy chồng đã tự sát, Hân Tố Tố vẫn rất bình tĩnh, nắm tay con trai Trương
Vô Kỵ, chỉ vào đám quần hùng ngồi quanh đó và dặn dò con: “Hài tử,
ngươi hãy nhớ rằng tất cả
những kẻ có mặt ở đây là kẻ thù của người”. Đôi mắt trẻ thơ của Trương Vô Kỵ
long lên, đầy vẻ oán độc. Dặn con xong, Tố Tố mới tự sát, chết theo chồng. Có
điều Tố Tố không ngờ là 10 năm sau, Vô Kỵ lớn lên, chẳng những không trả thù
như lời mẹ dặn mà còn rộng lòng tha thứ cho tất cả những kẻ bức tử cha mẹ mình.
Tự do cuối cùng của Trương Thuý Sơn và Hân Tố Tố là tự sát; tự do cuối cùng
cùng của Trương Vô Kỵ là tha thứ.
Biên giới giữa sự sống và
cái chết quả thật mong manh. Biên giới giữa quyền lực và sự sụp đổ cũng mong
manh không kém. Trong Tiếu ngạo giang hồ, thật khó có một nhân vật thứ hai mà
quyền lực có thể vượt qua nhân vật Nhạc Bất Quần. Nhạc Bất Quần là chưởng môn
phái Hoa Sơn, một trong Ngũ Nhạc kiếm phái. Bản thân nhân vật này đã tinh thông
kiếm pháp phái Hoa Sơn; lại học được kiếm pháp của 4 phái còn lại là Hằng Sơn,
Hành Sơn, Thái Sơn và Tung Sơn; đoạt luôn cả Tịch tà kiếm phổ của nhà họ Lâm ở
Phúc Châu và luyện thành thứ kiếm pháp quỷ mị này. Lão vươn lên làm chưởng môn
của Ngũ Nhạc phái (bỏ chữ kiếm), võ công kiêm toàn cả chính lẫn tà, có tham vọng
cùng hai phái Thiếu Lâm và Võ Đang chia ba chân vạc. Quyền lực của lão cao đến
vậy là cùng.
Để an tâm khẳng định quyền
lực, lão phải tìm cách giết cho được đại đệ tử của mình là Lệnh Hồ Xung và người
tình của chàng trai này là Nhậm Doanh Doanh. Lão chụp được cả đôi tìnhh nhân
vào trong lưới cá và chuẩn bị thực hiện động tác sau cùng: rút kiếm ra, phóng
vào mỗi người một kiếm là xong. Đúng lúc đó thì tiểu ni cô Nghi Lâm phái Hằng
Sơn xuất hiện. Cô gái này có tâm địa từ bi, suốt đời chưa biết làm đau một cành
cây, một cọng cỏ. Đối với cô, Lệnh Hồ Xung là bảo vật trên đời, bởi chàng trai
này đã xả thân cứu cô, bảo vệ sự trong trắng của cô. Cho nên, hễ ai đụng đến Lệnh
Hồ Xung là cô xả thân để cứu chàng. Như một quán tính, khi thấy Nhạc Bất Quần
phóng kiếm vào Lệnh Hồ Xung,tiểu ni cô từ bi Nghi Lâm cũng phóng kiếm vào người
Nhạc Bất Quần. Cô đã cứu đượcLệnh Hồ Xung và Doanh Doanh. Nhạc Bất Quần chết,
giấc mộng quyền lực mà lão đeo đuổi trên 50 năm cũng sụp đổ hoàn toàn.
Từ nhỏ tới lớn, tôi chỉ bị
mẹ tôi đánh có một lần. Đó là lần tôi không bảo vệ được em tôi, để em tôi bị một
kẻ lớn hơn tát vào má một cái. Nhìn thấy dấu tay trên má của em tôi, mẹ giận
tôi quá, sẵn cái sàng gạo trên tay, mẹ cạch xuống đầu tôi. Tôi bị đòn, khóc
không phải vì đau mà vì xấu hổ đã không đủ sức để bảo vệ em ruột của mình. Chuyện
ấy xảy ra cách đây đã 38 năm nhưng mỗi khi nghĩ lại, tôi vẫn cảm thấy có tội với
mẹ tôi, có lỗi với em trai tôi. Sau này, đi làm báo, tôi lại gặp thêm nhiều lần
sống trong trạng thái đau đớn, xấu hổ nữa. Bạn đọc ở xa, đọc trên mặt báo hoặc
sách, thấy tôi viết được một số bài đấu tranh cho công bằng xã hội, dám đụng đến
một số người có quyền lực, dám bảo vệ cho người nghèo, đã viết thư, gọi điện
khen tôi là người dũng cảm. Một số anh em trong giới cầm bút biết tôi đang dạy
môn công tác phóng viên ở một trường chính quy tại thành phố và một số khoá giảng
ngắn ngày tại các tỉnh miền Tây, đã có nhã ý xem tôi như là nhà báo có kinh
nghiệm. Đông đảo bạn đọc yêu nhạc trên cả nước thấy tôi xuất hiện trên đài
VTV(Hà Nội), HTV (TP.HCM), CTTV (Cần Thơ), BLTV (Bạc Liêu)... và các đài khác
trên cả nước qua những chương trình riêng cứ nghĩ rằng tôi là hạnh phúc lắm.
.Không phải vậy đâu! Tôi phải thường xuyên đối mặt với những đau đớn, xấu hổ. Bạn
không thể hình dung được tôi đã cảm thấy xấu hổ cực kỳ khi hứa với lòng mình về
chuyện một cháu gái mới 16 tổi ở miền Tây rằng sẽ đưa vụ án cháu bị hiếp dâm ra
ánh sáng, rằng sẽ tố cáo đích danh kẻ đã hiếp cháu và những kẻ bao che, ém nhẹm
việc này nhưng cuối cùng đã không làm được. Bạn không thể hình dung được đã nhiều
lần tôi ngồi trước những viên chức từng ăn tiền để làm án oan cho những người
vô tội lương thiện, nói một cách hết sức nhã nhặn với họ để kiếm một số thông
tin mà tôi biết chắc rằng một nửa thông tin là điều dối trá. Bạn không hình
dung đuợc rằng một thời tôi đã đứng lớp dạy văn, biết rằng tác phẩm đang dạy dở
ẹc mà miệng vẫn cứ phải bô bô khen hay. Những điều tôi không viết ra được cũng
nhiền như số tóc có trên đầu tôi. Mà một người cầm bút đang biết mình đúng,
mình trúng nhưng không viết ra được thì có gì đau đớn, xấu hổ bằng.
Bạn thân mến! Xin bạn chớ
nản lòng khi tôi đưa bạn đi từ cái chết của một thanh niên lang thang đến số phận
của Trương Thuý Sơn, Hân Tố Tố, Nhạc Bất Quần rồi nói đến tâm trạng xấu hổ của
mình khi chưa làm tròn chức năng của một nhà báo trước bạn đọc.
Bình chuyện nhân vật Kim
Dung cái gì mà lạ vậy? Tôi mong được nhắc lại câu chuyện Phong Thanh Dương dạy
Lệnh Hồ Xung học kiếm (Tiếu ngạo giang hồ): “Người đời thường sử dụng kiếm
chiêu tức là thường quan tâm đến thước tấc, bộ vị, tư thế khi phóng kiếm. Mà hễ
có kiếm chiêu, tất có chỗ sơ hở, tức là có chỗ để cho người khác phá chiêu.
Như vậy, để có thể khắc địch
chế thắng, người sử kiếm không sử kiếm chiêu mà chỉ nên sử dụng kiếm ý”. Lệnh Hồ
Xung đã học kiếm pháp các phái Hoa Sơn, Hằng Sơn, Tung Sơn, Thái Sơn, Hành Sơn;
lại nhập tâm đao pháp của Điền Bá Quang và các thủ pháp phá giải kiếm pháp Ngũ
Nhạc kiếm phái của Ma giáo. Phong Thanh Dương dạy Lệnh Hồ Xung đem tất cả các
thứ chiêu thức tạp nhạp đó nối liền thành một dây, chỗ nào miễn cưỡng quá không
nối được thì vứt bỏ. Sau khi nối thànhh một dây, Lệnh Hồ Xung phải quên sạch mọi
thứ đã học. Đến bấy giờ mới sử kiếm ý, ý niệm đi tới đâu, thế kiếm đi tới đó,
liên miên bất tuyệt như nước chảy mây trôi. Đó là một thứ kiếm pháp hoàn toàn
đi ngược lại kiếm lý phổ thông: có khi phóng vào khoảng không, có khi mềm oặt
như mất hết khí lực, có khi hung hiểm như con trường xà đột ngột chờ sẵn... Lệnh
Hồ Xung sử kiếm ý đó mà lòng sung sướng như điên. Hai chữ phá chiêu trở thành
vô nghĩa. Tôi cũng học cách của Lệnh Hồ Xung, ý nghĩ đi tới đâu, phóng ngòi bút
tới đó. Vâng, tôi đang sử bút ý.
Kiều Phong - Khát vọng của
tự do
Trong 12 bộ võ hiệp tiểu
thuyết của Kim Dung, tôi yêu nhất bộ Thiên Long bát bộ.
Trong những nhân vật của
Thiên Long bát bộ, tôi yêu nhất nhân vật Tiêu Phong (tức Kiều Phong), người anh
hùng Khất Đan. Và trong cả chục ngàn nhân vật do Kim Dung dựng lên, tôi chọn Kiều
Phong như một biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng.
Văn chương tiểu thuyết
không phải là văn chương báo chí. Một tác phẩm tiểu thuyết ra đời là nhằm gởi đến
người đọc một thông điệp. Các thông điệp ấy đôi khi ẩn tàng đâu đó trong tác phẩm
đến nỗi một người đọc với thái độ lơ là của khách qua đường không thể nhận ra
nó. "Ý tại ngôn ngoại" luôn luôn là một thực tế trong sáng tạo văn học.
Tôi yêu tác phẩm Kim Dung vì yếu tố "ý tại ngôn ngoại" phong phú. Tất
cả tư duy của nhữngnhân vật lớn trong tác phẩm Kim Dung đều tập trung vào 3 định
đề: cuộc sống, tình yêuvà cái chết. Kiều Phong là một nhân vật lớn như vậy.
Tác giả Kim Dung không vội
vàng đẩy Kiều Phong ra đầu truyện. Không. Trong 13 chương đầu của Thiên Long
bát bộ, ta chỉ gặp hình ảnh của một anh nho sinh trẻ ĐoànDự, vương tử nước Đại
Lý, một tay dại gái si tình bị bắt cóc đưa từ Đại Lý xuống GiangNam. Phải đợi đến
khi theo gót chân du tử của Đoàn Dự, ta mới bắt gặp một "Hán tử thô hào, mặt
vuông tai lớn", tuổi trạc 30, đôi mắt sắc như dao, ngồi uống rượu chịu
trên tửu
lâu bên thành Vô Tích.
Thoáng nhìn nhân vật đó, Đoàn Dự đã nhận định: "Hán tử này nhất định là
tráng sĩ của đất Yên, Triệu. Miệt Giang Nam quyết không thể có được nhân vật
như thế này". Nhận định ban đầu của nho sinh trẻ thật chuẩn xác. Con người
thô hào ấy chính là Kiều Phong, bang chúa Cái bang. Kiều Phong đang độ tuổi 30,
cái tuổi phát triển rực rỡ nhất của đời người; lại làm Bang chúa cái bang, một
bang hội lớn nhất võ lâm Trung Quốc. Với cương vị đó, gã hán tử mặt vuông tai lớn
phải hành động rất cẩn trọng, rất chín chắn vì một quyết định, nhận định vội
vàng của ông sẽ dẫn đến sai lầm, liên hệ đến mối nguy vong của hàng triệu hào
khách võ lâm Trung Nguyên. Ngay đến khi ra đòn đánh nhau với kẻ địch, Kiều
Phong cũng tính toán sao cho chỉ đánh một đòn mà khống chế được ngay đối thủ.
Phía trong con người thô hào ấy ẩn tàng một bộ óc thông minh và những tính toán
chuẩn xác.
Người anh hùng Kiều Phong
luôn luôn tự hào mình thuộc dòng dõi Hán tộc. Làm bang chúa Cái bang, ông chỉ
có một mơ ước: tiêu diệt quan xâm lăng Khất Đan mà ông thường gọi bằng cái tên
khinh bỉ "bọn Liêu cẩu", chống lại quân Tây Hạ, giữ gìn hào bình cho
người Hán, bảo vệ sự trọn vẹn của võ lâm Trung Hoa. Và chính niềm mơ ước đó
đãtrở thành bi kịch trong đời Kiều Phong.
Một nhóm đệ tử Cái bang,
dưới sự chỉ huy của Thập phương tú tài Toàn Quan Thanh và Ôn thị, vợ của phó
bang chúa Mã Đại Nguyên (đã chết), nổi lên chống lại Kiều Phong.Toàn Quan Thanh
chống Kiều Phong chỉ để leo lên cái ghế quyền lực. Ôn thị lại chống Kiều Phong
chỉ để trả thù. Vốn mụ là phụ nữ lẳng lơ, lại bị chứng bạo dâm. Mụ đã có chồng
nhưng vẫn quan hệ tình dục với Đoàn Chính Thuần, em ruột vua Đại Lý rồi với Bạch
Thế Kính, Chấp pháp trưởng lão Cái bang. Trong một lần đi dự Bách hoa đại hội,
ai cũng dòm ngó đến tấm nhan sắc tương đẹp của Ôn thị. Duy chỉ có Kiều Phong
nghĩ rằng Ôn thị là vợ của thuộc hạ mình, phải giữ lễ nghi. Ông chỉ ngó sơ Ôn
thị một cái rồi thôi.
Thái độ hững hờ đó làm
cho Ôn thị nổi giận và thề sẽ trả thù. Mụ mượn tay tình nhân Bạch Thế Kính xuống
tay giết chồng mình, vu cáo Kiều Phong giết Mã Đại Nguyên vì Mã Đại Nguyên biết
rõ Kiều Phong không thuộc Hán tộc mà chính là người Khất Đan.
Sự thật, Kiều Phong đúng
là người Khất Đan, nhưng câu chuyện ấy đã trôi qua 30 năm,chẳng ai muốn nhắc đến
nữa, bởi Kiều Phong đã được Hán hoá từ thể chất đến tinh thần.
Ban đầu thì Kiều Phong
cho rằng đó chỉ là lời vu cáo thiếu bằng chứng. Nhưng khi nhân chứng chính, nhà
sư Trí Quan, xuất hiện và xác nhận, ông đành phải rời bỏ chức vụ Bang chúa Cái
bang ra đi và cảm thấy nhục nhã vì mình mang dòng máu Khất Đan. Cuộc sống đưa đẩy
khiến ông làm quen và kết bạn với A Châu, một cô gái Hán nhân dịu dàng. A Châu
trở thành tình yêu, lẽ sống, người bạn tri âm của Kiều Phong. Khi ra Nhạn Môn
Quan xác định lại lai lịch của mình, Kiều Phong mới biết được mình vốn họ Tiêu
– Tiêu Phong, rằng mình đã từng chống lại tổ tiên, dân tộc mình. Tuy nhiên, cái
mặc cảm dòng máu Khất Đan thấp hèn và gian ác chưa phai trong con người ông. A
Châu đã
khuyên ông: "Làm người
Khất Đan thì có gì là xấu xa? Làm người Hán thì có gì là cao quý? Người Khất
Đan hay người Hán thì vẫn có kẻ tốt, người xấu, đại gia buồn phiền làm
chi". Chính lời nói đó đã giúp Tiêu Phong nhận ra quan điểm dân tộc hẹp
hòi của mình bấy lâu nay. Và sự tiến bộ trong quan điểm dân tộc của Tiêu Phong
chính là sự tiến bộ trong quan điểm dân tộc của Kim Dung.
Như ta biết, người Trung
Hoa xưa vốn coi các dân tộc khác là bốn rợ (tứ di). Cái nhìn của họ đối với các
dân tộc Mông, Tạng, Hồi, Khất Đan, Tây Hạ... rất khinh bỉ. Ngay chính trong
Liên thành quyết, Kim Dung cũng không giấu được cái nhìn khinh bỉ đó. Chỉ đến
Thiên Long bát bộ, ông mới xác nhận rằng người Khất Đan, Nữ Chân, Tây Hạ là những
giống loài bình đẳng như bao giống loài khác. Khát vọng tự do của Kiều Phong thể
hiện rất rõ khi ông bàn với A Châu rằng làm xong vài việc ở Trung Quốc, ông sẽ
đưa nàng về Nhạn Môn Quan săn chồn đuổi thỏ, sống đời ung dung khoái hoạt. Thế
nhưng, một bi kịch khác xảy ra với đời ông làm tiêu tan khát vọng ấy: ông lỡ xuống
tay đánh chết A Châu, đánh chết tình yêu và nguồn sống của chính mình.
A Châu có một cô em cực kỳ
gian ngoan ác độc là A Tử, đệ tử Tinh Tú lão quái Đinh Xuân Thu. Trước khi nhắm
mắt, A Châu đã nhờ ông chăm sóc, bảo vệ cho A Tử. Thế là từ đó bên cạnh một
Tiêu Phong thẳng thắn, anh hùng lại có thêm một A Tử lưu manh, giảo hoạt; cả
hai đi kèm nhau như bóng với hình. Cuộc đời thật lắm nỗi hoạt kê! Đúng là Kiều
Phong đã đưa A Tử về bên kia Nhạn Môn Quan săn chồn đuổi thỏ và chữa bệnh cho
cô. Ông kết bạn với Hoàn Nhan A Cốt Đả (sau này trở thành Hoàng đế Đại Kim), trở
thành người bạn của bộ lạc người Nữ Chân. Nhờ vào một sự tình cờ, ông cứu được
Gia Luật Hồng Cơ, hoàng đế Đại Liêu. Hồng Cơ thật sự hạnh phúc khi khám phá được
con người Khất Đan anh hùng lẫm liệt như Tiêu Phong. Ông nhận Tiêu Phong làm em
kết nghĩa và phong cho Tiêu Phong làm Nam viện đại vương, cai quản toàn bộ binh
lực Đại Liêu. Thế là từ một Hán tử thô hào, một tên Liêu cẩu man rợ, Tiêu Phong
thoắt trở thành nguyên soái, nắm trong tay sức mạnh quân sự của một vương quốc
khả dĩ đối địch với triều Tống.
Hơn ai hết, A Tử là người
đầu tiên khuyên Tiêu Phong đưa quân qua Nhạn Môn Quan,làm cỏ hết bọn Cái bang cùng
bọn quần hào Trung Quốc. Tiêu Phong đã cảnh cáo A Tử về ý nghĩ tàn bạo đó. Ông
vẫn nhớ ơn người Trung Quốc, nơi ông đã lớn lên, được học hành, trở thành con
người. Và ông chủ trương không gây hấn với Trung Quốc, sống hoà bình cho trăm họ
an cư lạc nghiệp. Ông nghiêm cấm thuộc hạ không được cướp bóc tài
vật, bắt người từ đất
Trung Quốc đưa về.
Nhưng Gia Luật Hồng Cơ
thì không nghĩ vậy. Gia Luật Hồng Cơ tin rằng binh lực nước Liêu đủ sức vượt
qua Nhạn Môn Quan, đánh vào Lạc Dương để bắt sống tên hôn quân Triệu Hú (Tống
Triết Tông). Với ý nghĩ đó, Gia Luật Hồng Cơ ra lệnh cho Tiêu Phong tiến đánh
Trung Quốc.
Nhận lệnh hành quân, Tiêu
Phong quyết đoán thật nhanh: không thể lấy nỗi đau của hai nước Tống – Liêu,
không thể lấy sinh mạng của hàng triệu quân sĩ để làm nấc thang hạnh phúc cho
mình và thỏa mãn khát vọng trả thù của Gia Luật Hồng Cơ. Vả chăng, ông là người
khát vọng tự do, không hề thiết tha tới quyền lực. Cách từ chối hay nhất là của
Kiều Phong là treo ấn trả lại cho Đại Liêu hoàng đế và cùng A Tử trốn đi. Mưu kế
ấy bị Hồng Cơ khám phá được và gài bẫy để bắt giam giữ Tiêu Phong. Nguồn tin
Tiêu Phong bị bắt giữ vì chống lệnh hành quân, mưu cầu hoà bình cho trăm họ khiến
quần hùng Trung Quốc nhận ra được bản chất thật thà, trung hậu, tốt đẹp của
Tiêu Phong. Họ huy động lực lượng Cái bang, cung Linh Thứu và nước Đại Lý vượt
qua Nhạn Môn Quan để giải thoát cho Tiêu Phong. Họ đưa ông về đến Nhạn Môn Quan
thì cửa thành không mở vì truy binh Khất Đan đã áp sát chân thành. Hư Trúc và
Đoàn Dự bắt sống Gia Luật Hồng Cơ trước trận và buộc Hồng Cơ chuộc mạng bằng một
lời hứa vĩnh viễn không bao giờ đưa quân Liêu xâm lăng Trung Quốc. Hồng Cơ đã
long trọng hứa lời hứa danh dự và nhận được lời hứa đó, Kiều Phong coi là một hạnh
phúc. Ông sử dụng quyền tự do cuối cùng của mình: tự tử trước Nhạn Môn Quan để
tạ tội với Gia Luật Hồng Cơ. Bầu trời bao la, đất đai vạn dặm nhưng Tiêu Phong
không tìm ra được chỗ để quay về.Về với Trung Quốc ư? Ông chỉ là một tên chó
Liêu mọi rợ. Về với Liêu Quốc ư? Ông chỉ là bề tôi bất trung, đã chống lệnh vua
lại làm cho nhà vua mất mặt trước ba quân. Về mặt tinh thần, A Châu chết rồi,
tâm hồn ông không còn nơi nương tựa nữa. Đoàn Dự có thể yêu một lúc năm, sáu
người thiếu nữ nhưng Kiều Phong chỉ yêu có mỗi một A Châu. Còn quyền lực, chức
vụ, danh vọng không phải là nơi nương tựa. Kiều Phong đi tìm tự do. Ông đành chọn
giải pháp cuối cùng - tự tử - để hoàn thành khát vọng tự do của chính mình. Ở
chừng mực nào đó, cái chết của Kiều Phong là biểu hiện chủ nghĩa hư vô cực đoan
nhưng nếu ta đi cùng với ông trong suốt Thiên Long bát bộ của Kim Dung thì ta mới
thấy được giải pháp đó là con đường tất yếu.A Tử đui mù đã giành bồng lấy Kiều
Phong và cùng với ông rớt xuống vực sâu muôn trượng. Mấy mươi năm trước, cha
ông đã bồng mẹ ông nhảy xuống nơi ấy. Mấy mươi năm sau, một cô bé gọi ông là tỷ
phu (anh rể) bồng ông nhảy xuống. Sự trùng hợp của lịch sử sao mà bi thương đến
vậy! Tiêu Phong tức Kiều Phong là một nhân vật sống nhất trong những nhân vật sống,
làmột nhân vật có vấn đề nhất trong những nhân vật có vấn đề của Kim Dung. Có
thể nói Kim Dung rất thành công khi xây dựng nhân vật Tiêu Phong - người anh
hùng Khất Đan trong sáng, tiêu biểu cho những cái đẹp của con người. Và rõ
ràng, Kim Dung nói với chúng ta rằng cái đẹp nhất khó có thể tồn tại giữa đời
lăng xăng bát nháo này. Cái đẹp nhất phải chết. Chỉ còn lại trên đời cái tầm
thường vớ vẩn, những loài cỏ đuôi chó, những điều không đẹp mấy.
Hoặc giả, giải quyết cho
cái đẹp nhất chết đi cũng là một cách hướng con người luôn nuôi khát vọng đi
tìm cái đẹp?
Khóc lên hỡi Nghi Lâm!
Nghi Lâm là pháp danh một
nhân vật nữ, một nữ ni cô nhỏ tuổi thuộc phái Hằng Sơn trong tác phẩm Tiếu ngạo
giang hồ của Kim Dung. Nhân vật ấy là biểu tượng của những bi kịch cuộc đời và
bởi vì cô quá trẻ, quá trong sáng cho nên bi kịch ngày càng tăng them chất ngậm
ngùi, đau đớn. Cho đến năm 18 tuổi, Nghi Lâm trở thành một nữ ni xinh đẹp nhất
của phái Hằng Sơn.
Trong lớp áp nâu sồng của
đời nữ ni, cô vẫn có một khuôn mặt trái xoan sáng như trăng rằm, một đôi mắt
xanh như nước hồ thu. Nghi Lâm chỉ biết cha mình là một hoà thượng - Bất Giới đại
sư; còn mẹ mình là ai thì điều đó cô không hề biết. Thật sự, mẹ cô vẫn hằng
ngày sống bên cạnh cô. Giận cha cô khen một người khác xinh đẹp, mẹ cô lặng lẽ
bỏ đi, vào chùa Hằng Sơn làm một Á bà bà (bà già câm điếc), chuyên lau tượng
quét chùa. Bà vẫn theo dõi những bước tiến của Nghi Lâm trên con đường phật học
cũng như đời sống nhưng bà không hề mở miệng nói với Nghi Lâm một lời.
Nghi Lâm lớn lên trong
chùa Hằng Sơn, thuộc làu kinh điển, học được một chút kiếm pháp. Trong lòng cô
chỉ biết có Đức Bồ Tát và các thanh quy giới luật nhà Phật. Lớn lên đến 18 tuổi,
cô chưa hề gặp một người đàn ông ngoài cha cô; chưa biết mùi phấn son, chưa
nhìn thấy màu áo đẹp; chưa có một nụ cười... Cả tai hoạ và hạnh phúc đến với cô
nữ ni xinh đẹp ấy trong một lần cô xuống núi Hằng Sơn, cùng sư phụ và các bạn đồng
môn đi dự lễ rửa tay gác kiếm của Lưu Chính Phong phái Hành Sơn. Sau một lần
trượt chân vì đường trơn, Nghi Lâm dừng lại bên suối rửa tay. Cô đã bị tên dâm
tặc Điền Bá Quang bắt giữ và đưa vào hang động định giở trò cưỡng bức. Không nỡ
để cho một nữ ni trong sáng như ngọc bị phá hoại danh tiết, tác giả Kim Dung đã
để cho Lệnh Hồ Xung, đại sư huynh của phái Hoa Sơn, xuất hiện cứu NghiLâm. Kiếm
pháp của Lệnh Hồ Xung hoàn toàn không địch nổi phép khoái đao của Điền Bá
Quang. Lệnh Hồ Xung bị đâm cả một chục vết thương, người không còn một chút huyết
sắc. Nhưng vốn là người mau chân lẹ miệng, hắn đã đánh võ miệng với Điền Bá
Quang và cuối cùng đạt được chiến thắng, buộc Điền Bá Quang nhục nhã bỏ đi; Lệnh
Hồ Xung bị bọn La Nhân Kiệt phái Thanh Thành đâm một nhát kiếm chí mạng. Nghi
Lâm lạc mất Lệnh Hồ Xung từ đó.
Để cứu Nghi Lâm, Lệnh Hồ
Xung đã đặt chuyện nói những điều vu khoát: gặp ni cô là xúi quẩy, đánh bạc tất
phải thua, uống rượu cũng chẳng thú vị gì. Cô bé nhẹ dạ vốn tin những điều vớ vẩn
đó nhưng tự thâm tâm, cô đã mơ hồ nhân ra một điều: trên đời này người mà cô
mong gặp nhất vẫn là gã lãng tử Lệnh Hồ Xung của phái Hoa Sơn. Cô mắc nợ anh một
món ơn cứu tử và giá như cô có thể chết đi để Lệnh Hồ Xung sống sót trở về, cô
cũng sẵn sàng xả thân. Cho nên khi Khúc Phi Yên báo tin Lệnh Hồ Xung còn sống
và đưa Nghi Lâm vào động điếm dưới núi Hành Sơn thì cô nữ ni trong như ngọc đã
sẵn sang vứt bỏ mọi thứ môn quy, cùng đi với Khúc Phi Yên.
Cuộc sống oái oăm đã đưa
cô nữ ni dấn thân vào động điếm, nằm trên chiếc giường xa hoa tráng lệ mà khách
làng chơi vẫn hay đến nằm với các cô kỹ nữ. Nhưng cũng chính vì vậy mà Nghi Lâm
đã cứu được ân nhân Lệnh Hồ Xung, cõng anh ra giữa vùng hoang sơn dã lĩnh không
có một vết chân người, chăm sóc cho anh chữa lành vết thương. Qua câu chuyện Lệnh
Hồ Xung, Nghi Lâm biết rằng anh đang quyến luyến cô tiểu sư muội Nhạc Linh San.
Thế nhưng, trong tâm hồn cô nữ ni 18 tuổi này đã nảy sinh một rình cảm mới lạ,
vừa có vẻ tội lỗi với Đức Bồ Tát, lại vừa gây cho cô những xúc cảm dịu dàng.
Nghi Lâm hoảng sợ trước tình cảm mới lạ ấy. Trong đêm sao sáng, nhìn những ánh
sao băng,cô cởi dải áo ra và cột lại dải áo để mong hoàn thành ước nguyện để rồi
sợ hãi ngay chính lời ước nguyện của mình.
Trọn đời Nghi Lâm chưa hề
ăn cắp của ai một vật gì. Thế nhưng, vì tính mạng của Lệnh Hồ Xung, cô đã hai lần
đi ăn cắp dưa và mỗi lần như vậy, trong cô lại nổi lên trận bão lòng dữ dội. Cô
biết rằng vì Lệnh Hồ Xung, cô có thể làm tất cả mọi sự trên đời.
Vâng, cô đã yêu chàng Lệnh
Hồ Xung, một tình yêu ban đầu nồng nàn đau đớn, một tình yêu không nói được lên
lời vì lời khấn trọn đời hiến dâng cho đường tu, một tình yêu vô vọng vì Lệnh Hồ
Xung đã có Nhạc Linh San.Họ đã xa nhau từ đó, Nghi Lâm trở về Hằng Sơn, ngày
đêm tụng kinh niệm Phật, mong sao Phật pháp có thể hoá giải được ma chướng
trong lòng mình. Nhưng càng tu niệm, thể xác cô càng võ vàng. Bất Giới hoà thượng
nhận ra tấm lòng đau khổ của con gái. Ông buộc Điền Bá Quang bằng mọi cách phải
lên núi Hoa Sơn bắt cho được Lệnh Hồ Xung về thành hôn với Nghi Lâm. Điền Bá
Quang không làm được điều ấy, ông đích thân ra đi, cũng không được nốt.
Lệnh Hồ Xung bị Nhạc Linh
San phụ bạc, bỏ đi lưu lạc giang hồ. Trong ngõ Lục Trúc thành Lạc Dương, anh
tình cờ kể cho Nhậm Doanh Doanh nghe về mối tình si của mình và những đau
thương oan ức mà anh phải gánh chịu vì những hẹp hòi, ích kỉ. Nhậm Doanh Doanh
chính là Thánh cô của Triêu dương thần giáo. Cô nhận ra nới chàng trai một tình
yêu mãnh liệt. Và cô si tình chàng trai Lệnh Hồ Xung dưới mắt cô, một chàng
trai không chung tình với quá khứ thì cũng chẳng có thể chung tình với tương
lai. Họ trở thành đôi bạn bôn tẩu giang hồ, thương yêu say đắm và trao cho nhau
những lời hẹn thề kết tóc se tơ. Ở một nơi lặng lẽ trong chùa Hằng Sơn, Nghi
Lâm nhận được những thong tin đó. Nàng thường dắt tay Á bà bà dẫn ra chỗ kín
đáo của Hằng Sơn biệt viện tâm sự;và, mỗi lần như thế, nàng thường gọi khẽ tên
Lệnh Hồ Xung. Nàng chẳng hay đâu Á bà bà là mẹ ruột của mình.
Lệnh Hồ Xung trở về Hằng
Sơn và nhận trách nhiệm làm chưởng môn phái Hằng Sơn.Nghi Lâm trở thành đệ tử của
anh. Anh lấy làm lạ vì cô thường ít nhìn mặt anh, thường tỏ ra lạnh nhạt khi
anh hỏi han đến. Anh có biết đâu trong cái vỏ lạnh lùng kia là cả một trời yêu
say đắm; mà tiếng kinh cầu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn cho anh ngày
xưa do Nghi Lâm niệm lên cầu nguyện cho anh thoát qua những cơn nguy hiểm chính
là biểu hiện của tình yêu ấy. Anh nhận ra vẻ tiều tuỵ võ vàng của tiểu sư muội
Nghi Lâm. Nhưng trước Nghi Lâm anh có Nhạc Linh San; sau Nhạc Linh San anh có
Nhậm DoanhDoanh. Anh chỉ xem Nghi Lâm như người bạn, người em nhỏ bé mà anh phải
có bổn phận bảo vệ, che chở, dạy dỗ.
Nhưng chẳng có nghĩa gì
khi tình yêu không nói được thành lời. Tác giả Kim Dung đã tạo cơ hội cho Lệnh
Hồ Xung nghe được tiếng lòng trung thực của Nghi Lâm. Một lần, anh hoá trang
thành Á bà bà và Nghi Lâm đến nắm tay anh, kéo anh đi lên Hằng Sơn biệt viện.
Nơi đây, cô ngắc lại những hình bóng cũ, những kỉ niệm xưa giữa cô và Lệnh Hồ
Xung cho "Á bà bà" nghe và cuối cùng, cô gọi khẽ tên anh. Mối tình
câm của cô tiểu sư muội khiến Lệnh Hồ Xung choáng váng, vừa thương cảm, vừa hổ
thẹn. Trong đêm thanh vắng, anh nhận ra tất cả sự thật; lòng đau thương vì thấy
Nghi Lâm võ vàng, tiều tuỵ trongmối tình si hoàn toàn không có đoạn kết.
Nghi Lâm đi đâu, về đâu?
Trong khúc cuối của Tiếu ngạo giang hồ, chính tác giả Kim Dung cũng chẳng dám
nói đến kết thúc của mối tình si ấy. Ông bỏ lửng số phận của Nghi Lâm, giả vờ
như không biết đến nữa khi để cho Lệnh Hồ Xung và Nhậm Doanh Doanh cưới nhau,
cùng hợp tấu cầm - tiêu khúc nhạc Tiếu ngạo giang hồ. Tiểu sư muội Nghi Lâm với
mối tình đơn phương rạt rào như sóng Trường Giang chẳng được ai nhắc đến nữa.
Nhưng tôi biết những giọt nước mắt lặng lẽ ấy của người ni cô thánh thiện đêm
đêm vẫn rơi trên gối trong căn phòng nhỏ của chùa Hằng Sơn. Ôi, giá như Nghi
Lâm bé bỏng được nắm tay Lệnh Hồ Xung một lần để bày tỏ tình yêu của mình vì
lòng kính sợ Đức Bồ Tát đã không cho phép cô được nói gì với anh; giá như cô được
nói với anh một lời chia tay, một câu chúc hạnh phúc thì tâm hồn cô đã khá hơn
một chút. Đằng này, suột đời cô mang nặng mối tình câm và tàn úa dung nhan xuân
thì lặng lẽ trong chùa Hằng Sơn!
Khi xây dựng nhân vật
Nghi Lâm, Kim Dung đã xây dựng một nhân vật bi kịch ấy nằm ngay trong tuổi trẻ,
tuổi mới biết yêu. Ông có bất công khi đem toàn bộ bi kịch trút lên đôi vai bé
nhỏ và tâm hồn trong sáng của Nghi Lâm tiểu sư muội? Có đấy. Có người cho Nghi
Lâm là vang bóng của Hạ Mộng, một mối tình u uẩn trong đời Kim Dung. Điều đó chỉ
đơn giản là một suy luận. Tôi chỉ mong một điều: nếu có những Nghi Lâm đích thực
trên đời thì hãy đẻ cho họ được khóc lên, khóc to một lần. Hạnh phúc ở một chừng
mực nào đó, nằm trong tiếng khóc, trong giọt nước mắt tuôn rơi.
Vi Tiểu Bảo ở đâu?
“Cắn nhầm lưỡi” là chuyên
mục tương đối mới trên tờ Tuổi trẻ Cười. Mấy anh nghịch ngợm trong toà soạn thấy
tôi ham giỡn, giao chuyên mục này cho tôi, rồi buộc tôi “cắn”lung tung mặc dù
tôi chưa hề được cắn lưỡi ai. Cái đó kêu rằng vì nhân dân mà cắn (?).
Nay tôi xin “cắn” anh
chàng Vi Tiểu Bảo, một nhân vật hài hước, ngộ nghĩnh, dễ thương trong Lộc Đỉnh
ký của Kim Dung. Cái này kêu rằng “cắn” đỡ buồn, mua vui cho bạn đọc, như mình
cắn hạt dưa vậỵ Vi Tiểu Bảo sinh ra trong viện Lệ Xuân, một động điếm ở thành
Dương Châu, Trung Hoa, vào cuối đời Thuận Trị, đầu đời Khang Hy nhà Thanh.
Mẹ của Vi Tiểu Bảo – Bà
Vi Xuân Phương – bang giao rộng rãi trên mức tình cảm với anh em Hán, Mông,
Mãn, Tạng, Hồi; chẳng thèm nhớ rõ bố thằng bé là ai, đành lấy họ mẹ làm họ cho
con. Vi Tiểu Bảo không học nên không biết chữ. Khả năng văn hoá của ngài là nhận
ra chữ nhất (, 1 nét), chữ nhị (, 2 nét), chữ tam (, 3 nét), chữ tứ () và chữ
thập (, 1nét ngang, 1 nét sổ). Ngài có các sở trường: Chửi tục lưu loát, hát
thuộc lòng bài Thập bát mô “Một ta sờ... Hai ta sờ ... Ba ta sờ ... Sờ đúng cái
đùi của nàng” và nhớ được một mớ tuồng tích, cố sự trong Anh liệt truyện.
Cuộc sống chộn rộn, ngài
theo tráng sĩ Mao Thập Bát trốn lên Bắc Kinh, lọt được vào cung nhà Thanh. Nơi
đây, ngài giết thái giám Tiểu Quế Tử, hoá thành tên thái giám giả hiệu. Ngài trốn
vào trù phòng ăn vụng, tình cờ làm quen và kết bạn với Khang Hy (hơn ngài 2 tuổi).
Lúc lên 15 tuổi, ngài tằng tịu với em gái nhà vua là công chúa Kiến Ninh, dám
chửi nàng là "con đượi non”, chửi thái hậu (giả) là “mụ điếm già”. Trên cơ
sở những kiến thức lưu manh đắc thủ tại thành Dương Châu cộng với những kiến thức
tu nghiệp được về ngành trá học trong hoàng cung, ngài xứng đáng là nhân vật đệ
nhất trá nguỵ.
Nhờ ném tàn hương, giết
được quyền thần Ngao Bái, Ngài được nhà vua phong phó đô thống hoàng kỳ, tước
hiệu Ba Đồ Lỗ (Baturu, Dũng sĩ!). Cơ duyên đưa đẩy, ngài may mắn gặp tổng đà chủ
Thiên Địa hội Trần Cận Nam, được ông thu nhận làm đệ tử và phong chức hương chủ
Thanh Mộc Đường. Đây là một tổ chức chống nhà Thanh, khôi phục nhà Minh. Vi Tiểu
Bảo trở thành gián điệp hai mang hết sức suất sắc, phục vụ cho cả Thanh triều
và Thiên Địa hội.
Vua Khang Hy đã nhìn thấy
chiều sâu văn hoá của Vi Tiểu Bảo: không bao giờ nói đúng bốn chữ Nghiêu, Thuấn,
Vũ, Thang; không bao giờ nhớ được câu thành ngữ “thủ khẩu như bình”. Tuy nhiên,
vừa ghét bọn quan lại cầu an xôi thịt, vừa mến thằng bé ngộ nghĩnh, miệng trơn
như bôi mỡ; nhà vua lần lượt phong cho ngài các chức chánh đô thống hoàng kỳ, tổng
quản thái giám, Khâm sai đại thần công cán Vân Nam, Tứ hôn sứ, Phó trụ trì chùa
Thiếu Lâm (tỉnh Hồ Nam), Chánh trụ trì chùa Thanh Lương (Ngũ Đài Sơn), Khâm sai
xây dựng Trung liệt từ Dương Châu, Tư lệnh mặt trận thủy chiến đánh Thần Long
giáo, Lộc Đỉnh công, Tư lệnh mặt trận đánh quân La Sát (người Nga) ở biên giới
Trung – Nga, Đại sứ đặc nhiệm toàn quyền đàm phán Trung – Nga. Đảm nhiệm những
chức vụ cao cả đó, ngài hoàn thành một số công việc, có khi nghiêm chỉnh, có
khi tào lao: ép buộc Ngô Tam Quế tạo phản, cứu mạng được nhiều anh hùng Thiên Địa
hội, bắt phò mã Ngô Ứng Hùng, gia nhập Thần Long giáo, ngủ được với bảy phụ nữ
TrungHoa và một phụ nữ Nga, bảo vệ sinh mạng cựu hoàng Thuận Trị, khám phá âm
mưu nằm vùng của thái hậu giả thuộc Thần Long giáo, bình trị những âm mưu tạo
phản của Mông Cổ và Tây Tạng, bắt được cẩu quan Ngô Chi Vinh, hoà giải mối xung
đột Trung – Nga, đánh Trịnh Khắc Sảng – lãnh đạo của thầy mình... Công lao của
Vi Tiểu Bảo lớn hơn công lao của bất cứ vị cố mệnh đại thần Mãn Châu.
Nghệ thuật làm quan của
Vi Tiểu Bảo rất đơn giản: chửi tục luôn mồm, dùng tiền mua chuộc lòng trung
thành của kẻ dưới, tặng quà hậu hỹ cho đồng liêu và sẵn sàng đòi kẻ khác đưa tiền.
Qua thăm gô Tam Quế, ngài nói một câu kiếm
được ba trăm lạng vàng.Trịnh Khắc Sảng dám yêu A Kha của ngài; ngài bắt đánh
cho một trận, bắt lấy máu viết lên vải văn tự thiếu một trăm vạn lạng vàng.
Ngài là nhân vật đầu tiên dùng nữ vệ sĩ; là nhà sư (giả) làm phó trụ trì một
chùa danh tiếng mà dám đánh bạc, chọc gái; là viên tướng duy nhất đi tiểu và bảo
quân thụt nước đó vào thành trì của người Nga.
Tuy ngài không biết chữ
nhưng vẫn nói khoác đọc được văn tự cổ nòng nọc, ấm ớ một vài từ tiếng Nga như
“Tử man cơ” là giết chết đi, “Phục đặc gia tửu” là rượu Vodka, “Hà thư nhi khắc”
là món thịt nướng, nhưng vẫn tự hào là mình tinh thông tiếng Nga (?). Khi đại sứ
Nga sang Bắc Kinh trình quốc thư, ngài nhận nhiệm vụ phiên dịch. Đại sứ đọc,
ngài dịch lưu loát: “Văn thành võ đức, nhân nghĩa anh minh, thương sinh trạch bị,
thọ dữ thiên tề...”. Hoá ra đó là những câu nịnh bợ của Thần Long giáo mà ngài
lỡ thuộc, không dính dáng gì tới quốc thư của Sa Hoàng. Thế nhưng vua Khang Hy
vẫn mặt rồng hớn hở, cười nói mê ly! Bọn quan lại triều Thanh bái phục Vi đại
soái không biết đâu mà kể!
Inscription à :
Publier les commentaires (Atom)
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire