Tác giả Huyên Chương Quí nhận giải thưởng Việt Báo Viết Về Nước Mỹ 2009 và hình bìa sách mới. Trân trọng
giới thiệu sách Khát Vọng Tự Do của Huyên Chương Quí
với thân hữu Viết Về Nước Mỹ.
1250 S.
Euclid St. # I - 350 Anaheim , CA 92802 , USA . Giá
sách: 17 Mỹ kim (Thêm cước phí $2 trong nước Mỹ,
$5 ngoài nước Mỹ)
Tác giả Huyên Chương Quí, tên thật
là Khải Huy, giải thưởng Đặc Biệt Viết Về Nước Mỹ
2009, vừa báo tin vui: đã hoàn tất việcï xuất bản tác phẩm đầu tay.Tập
Truyện “Khát Vọng Tự Do”. Sách hiện đã sẵn sàng gửi tới bạn đọc, và sẽ chính thức
ra mắt trong tháng 10 sắp tới.
Là một sinh viên Saigon, sau tháng Tư 1975,
tác giả từng bị chế độ cộng sản xua đi làm “nghĩa vụ quân sự” tại chiến
trường Kam Pu Chia. Cuối năm 1980, Quí một mình vượt biên
đường bộ, qua biên giới Thái Lan, hai lần vượt ngục
khi bị quân của Khờ Me Đỏ và sau đó là Khờ Me Tự Do bắt giam, định cư tại Mỹ
từ 1982. Hồi ký sau đây trích từ sách Khát Vọng Tự Do, kể lại những gian
nan của người vượt biên đường bộ, từng chứng kiến thảm cảnh người vượt biên
bị quân Khờ Me Đỏ cướp bóc, hãm hiếp, tàn sát.
* * *
Vượt Biên Giới
Nước Thái ở hướng Tây
Campuchia. Khi mới vào rừng, tôi cứ nhắm hướng Tây
đi tới, gần gần con đường mòn, để tránh bị lạc hướng. Lần
lần, có nhiều cây rừng rậm rạp che khuất, hoặc nhiều vũng bùn lầy rộng chắn lối,
tôi phải đi vòng đến những nơi thưa cây
nên xa dần đường mòn, bị lạc luôn trong rừng.
Trời không trăng. Trong đêm tối, tôi phải vẹt cây gai, cây dại dầy đặc nên tốc
độ đi rất chậm. Thời khắc trôi qua theo từng bước chân,
tôi chẳng biết đi được bao xa rồi. Nếu muốn quay về cũng không biết đi theo hướng nào.
Thôi, cứ bước tới. Tối nay tìm chỗ ngủ sớm, đợi ngày mai xem mặt trời, sẽ dễ định ra
hướng Tây.
Rán đi tiếng nữa, bụng cồn cào. Tôi chợt nhớ từ xế chiều đến giờ chưa ăn
gì. Nhịn đói thôi. Mai tìm trái cây rừng để ăn. Đến một vũng nước, tôi
vốc nước uống đầy bụng rồi đi tiếp. Hai năm trước theo
đơn vị hành quân, vài lần đóng quân trong rừng, nhưng có đồng
đội chung quanh, nên không có gì sợ hay buồn. Bây giờ, một mình trơ trọi,
chung quanh là màn đêm thăm thẳm, tôi thấy sợ sợ. Thêm cái cảm giác thật cô
đơn, buồn bã khi nhìn lại mình như một bóng ma trơi trong
rừng đêm. Thấm mệt rồi, nhịn đói ngủ thôi.
Tôi bứng nhiều bụi cỏ đem đến lót nơi một lùm cây rậm rạp. Tiết trời
mùa đông ban đêm, lúc đi không thấy lạnh, nhưng khi
nằm xuống cỏ, thấy lạnh kinh khủng. Chỉ mặc cái quần sọt và áo thun ngắn tay mỏng
manh, nên cả người tôi run lên cầm cập. Tôi nằm co quắp người lại cố
dỗ giấc ngủ. Cái lạnh, cái đói hành hạ, lại có nhiều tiếng ù u, ù u vang vang ở
xa xa, và tiếng sột soạt của thú rừng đi ăn đêm, tôi không thể nhắm mắt.
Thao thức đến trời tờ mờ sáng, tôi ngủ luôn một giấc
say sưa. Thức dậy, đã 12 giờ trưa. Nắng chang chang chói hai con mắt.
Tội tìm vũng nước rửa mặt và vốc nước uống.
Mặt trời ngay trên đỉnh đầu. Thế này, biết hướng nào
là hướng Tây"
Giải quyết cái đói trước đã.
Tôi đi vòng vòng tìm trái cây rừng. Tìm cả tiếng vẫn không thấy một loại cây
nào có trái. Mặt trời đã hơi nghiêng về phía Tây. Nhịn đói đi
vậy. Tôi phải luồn lách qua nhiều khu cỏ gai, tránh những đám cây rậm, vòng qua
những đầm nước rộng, nên có lúc phải rẽ sang Nam, lúc quẹo qua Bắc, rồi mới tiếp
tục đi theo hướng Tây. Mệt thì ngồi nghỉ chút, thấy đói
thì uống nước vũng cầm hơi. Đi sáu tiếng rồi vẫn không thấy biên giới
Thái đâu.
Mặt trời dần tắt nắng. Bóng tối dần phủ xuống cả khu rừng. Tôi lại phải dò dẫm
đi từng bước. Gai cào sước khắp tay, chân, đau buốt. Bao tử, ruột,
gan muốn nát vụn vì sự cào cấu của cơn đói. Hai ngày rồi không ăn gì. Lần
đầu tiên tôi mới thấm thía cái đói thật sự như thế
nào. Thèm cho vào bụng bất cứ cái gì, dù là vỏ cây, lá cây hay cỏ dại để có thể
qua được cơn đói. Tôi còn đủ lý trí không làm như vậy vì
sợ bị trúng độc, sẽ ngã bệnh. Bệnh nặng trong cảnh một thân, một mình nơi rừng
sâu lạnh lẽo thế này đồng nghĩa với cái chết. Sẽ bỏ xác trong rừng sâu không ai
biết đến. Chỉ còn biết uống nước vũng dằn bụng. Rán đi thêm hai tiếng
nữa, tôi lại bứng cỏ lót chổ nằm trong lùm cây rậm.
Vừa chợp mắt ngủ được một chút thì mưa gió trùm phủ khu rừng. Tôi ngồi dậy,
co rúm người vì lạnh. Nước mưa tạt xối xả lên
người. Tôi chui vào một bụi cây rậm nhất, vẫn không tránh được nước mưa. Người tôi
run lên từng hồi như bị mắc kinh phong. Mưa càng
lúc càng to. Gió rít liên hồi, cây rừng nghiêng ngả. Đến sáng, mưa bớt dần,
không dứt hẳn.
Suốt đêm không ngủ, phải chịu đựng mưa gió,
tôi mệt quá, nhưng cũng cố gắng lên đường. Đi loanh quanh
suốt buổi trong trời mưa rỉ rả. Lại xui, đôi dép bị đứt quai.
Đành đi chân không. Rừng thẳm âm u trong cảnh trời tù mù không thấy mặt trời
kéo dài năm ngày liền. Tôi không phân biệt được phương hướng, cứ
đi lòng vòng mãi. Chỉ thấy rừng tiếp nối rừng. Đi chân không trong rừng là cả một
cực hình. Hai chân chảy máu, bắt đầu sưng lên. Tôi đi cà
nhắc từng bước một.
Nhịn ăn bảy ngày rồi. Bao tử đã tê liệt nên tôi không
còn cảm giác biết đói nữa. Nước vũng kéo dài sinh mạng tôi. Thân
xác rã rời, nhiều khi ngất xỉu, không biết bao lâu, tỉnh dậy lại loang choạng bước đi.
Tôi không còn ý thức ngày và đêm nữa, có lúc cảm thấy tuyệt vọng lắm. Quý ơi ! Mày
không thể chết lặng lẽ trong rừng sâu thế này. Phải sống, phải tiến tới để tìm
được bến bờ tự do. Tôi quỳ xuống khấn nguyện Ơn Trên
thiêng liêng phù hộ cho tôi vượt thoát khu rừng. Với ý chí sinh tồn
mạnh mẽ, cùng với niềm tin có Ơn Trên cứu độ, tôi cứ cà nhắc từng
bước đi tới.
Mưa đã dứt hẳn. Tôi có được một đêm
ngủ thật say đến 2 giờ trưa hôm sau. Có sức lực, thêm trời nắng
tốt và mặt trời chỉ hướng Tây, tôi lần ra được dấu vết xe bò hằn
trên cỏ. Đi theo đường xe bò bốn tiếng, rừng thưa dần,
và trước mặt tôi là một khu vườn chuối. Đã ra khỏi rừng.
Tính ra, tôi bị lạc trong rừng tám ngày, đêm. "Được
sống rồi...Được sống rồi !" Tiếng reo to của tôi đem đến sự hiểm nguy. Hai
tên lính Polpot không biết từ đâu lù lù hiện ra. Tôi bị chúng chỉa súng đưa đến
một căn lều tranh lụp xụp trong vườn chuối. Lúc đó, có sáu người vượt biên
khác cũng đang bị một toán lính Polpot dẫn tới. Chúng tôi bảy người, bốn
đàn ông và ba phụ nữ trẻ đẹp bị chúng bắt cởi hết quần áo. Hai tên đứng chĩa
súng, bốn tên lục các quần áo tìm vàng, bạc. Còn ba tên lần lượt khám
xét từng người chúng tôi để lấy nữ trang, đồng hồ. Tôi chỉ có cái đồng hồ đeo tay bị
chúng lột ngay. Ba người phụ nữ bị hai tên lính vừa khám xét lấy
nữ trang vừa mò mẫm khắp chổ kín. Lục xét xong, chúng cho bốn đàn ông được mặc
đồ lại và ngồi xuống một góc nhà, còn ba phụ nữ vẫn bị bắt đứng trần truồng như nhộng
trước mắt mọi người.
Trời chạng vạng, bọn lính Polpot tụm lại ăn cơm. Họ
không cho chúng tôi ăn uống gì. Cơm nước xong,
ba tên cầm súng ra đứng canh trước cửa, sáu tên còn lại trong nhà
kéo ba cô gái nằm xuống đất để thỏa mãn dục vọng. Các cô dẫy dụa, la hét, van
xin. Nghe tiếng nói, tôi nhận ra hai cô người Việt,
một cô người Tàu.
Mặc cho các cô kêu gào, khóc lóc thảm thiết, chúng vẫn tiếp tục hành vi cầm
thú. Một anh trong nhóm ba đàn ông bị bắt chung bổng hét lên "Đ.M... Tao
liều chết với tụi mày" rồi nhảy vào kéo bật hai tên lính Miên ra khỏi thân
thể trần truồng của hai cô gái Việt. Một người đàn
ông Việt khác cũng nhảy ào tới giúp sức cho anh. Có lẽ hai anh là người thân
của hai cô gái. Cả ba, bốn tên lính Miên cùng nhào vào đấm, đá túi bụi hai anh.
Sự uất ức biến thành sức mạnh, hai anh can đảm chống đỡ và đánh trả lại. Thấy cảnh
hổn chiến kéo dài, một tên lính Miên cầm súng gác ở cửa chạy vào dùng báng súng
nện liên tục lên đầu một anh. Máu trên đầu anh tuôn xối xả; anh ngã lăn kềnh ra
mặt đất, nằm bất động. Tiếp theo là hai, ba tiếng súng nổ. Anh thứ hai bị trúng
đạn cũng đổ nhào cả thân người xuống đất. Tên lính Miên còn điên
cuồng dí họng súng gần mặt xác chết bắn thêm vài phát nữa. Bấy giờ, tôi đã ngồi
thụp xuống ở xó lều. Thừa lúc lộn xộn đó, trong màn đêm bao phủ, tôi từ từ bò
ra vườn chuối. Khi bò khá xa căn lều tranh, tôi đứng dậy đi cà nhắc theo đường
xe bò. Nhiều tiếng súng nổ sau lưng. Với lòng cầu sống, dù chân bị sưng, tôi
vẫn chạy thục mạng, nhanh như gió. Không biết bao lâu, đuối sức,
tôi nằm ngã ra trên một bãi cỏ. Máu chảy dầm dề ở hai bàn chân, nhức nhối không
tả xiết.
Trời tối đen. Chung quanh yên tĩnh. Giờ này cũng khuya. Tôi cố gắng vẹt cỏ
tranh bò tới. Đường xe bò được tiếp nối bằng một con đường đất khá rộng. Tiếp tục
bò theo con đường đất, khoảng tiếng sau, trước mắt
tôi hiện ra một bờ hào cao, dài tít tắp, có bóng người lính
cầm súng đứng trên một vọng gác. Tôi đoán đây là biên giới Thái. Lòng mừng rỡ
như được thấy cha mẹ sống lại, tôi chậm chạp bò đến gần bờ hào. Nhờ trời tối,
lính Thái không nhìn thấy, tôi vượt qua biên giới Thái dễ dàng. Con
đường dẫn đến bến bờ tự do đang thênh thang phía trước. Tôi
không ngờ... vẫn còn nhiều hiểm nguy đang chờ đón tôi !
Vướng Cảnh Lao Tù
Qua khỏi biên giới, trước mắt
tôi là đường lộ nhựa. Quên hẳn
cơn đau của hai bàn chân,
tôi đứng dậy đi tới. Khoảng 30 phút sau, thấy có nhiều ánh đèn leo lét trong những
ngôi nhà ở xa xa hai bên đường, tôi đoán là nhà dân nên quẹo vô một lối mòn, đi
đến khu nhà bên trái. Tôi vào trúng một căn nhà bếp, có sẵn cơm, thức ăn trong vài cái nồi trên bếp. Đã
nhịn đói suốt tám ngày, nên quên chuyện phải xin phép chủ nhà, tôi vội lấy dĩa,
muỗng bới cơm, lấy thức ăn. Trong
lúc vội vàng, tôi làm rớt cái nắp nồi gây nên tiếng động lớn trong đêm. Có tiếng
người chạy đến. Tôi nhảy
ngay xuống đường mương
sau bếp. Vài phút sau, một họng súng M16 chỉa xuống đầu tôi. Thì ra đây là trại
lính Thái. Tôi bị bắt, đưa vào một ngôi nhà rộng. Tôi nói bằng tiếng Anh là tôi
đói bụng lắm, họ lấy cho tôi dĩa cơm với trứng chiên. Tôi ăn ngấu nghiến thoáng cái đã sạch dĩa. Vừa
ăn xong, tôi bị một anh lính Thái chỉa súng lục vào đầu, tra khảo :
- Are you vi xi " ( VC )
Hiểu họ đoán tôi
là bộ đội Việt cộng, tôi vội trả lời :
- No vi
xi. I am student from Saigon .
- Why you coming here"
- I’m looking for freedom. I just want to go to America
Anh lính Thái gằn giọng:
- I don t believe. You are vi xi.
Ngay sau câu nói là anh đấm vào mặt tôi, và hét lớn:
- You, vi xi., vi xi.
Tôi cũng hét lên :
- No ! I am not a vi xi.
Người lính Thái càng tức giận, đấm, đá
tôi liên tục, còn lấy súng lục nện vào đầu tôi. Vừa khi thấy máu đầu chảy xuống
lênh láng trên mặt, trên áo thì tôi ngất xỉu. Sáng tỉnh dậy, đã thấy một người lính
Thái già đứng trước mặt. Ông nói tiếng Việt :
- Tôi là trung tá, tư lệnh ở
đây. Sao em bị đánh như vầy"
Tôi mếu máo :
- Dạ. Họ nói em là Việt cộng nên đánh em. Em là
sinh viên ở Sài Gòn đi tìm tự do.
Vừa nói, tôi vừa lấy ra bọc ni long có vài hình ảnh người thân
và thẻ sinh viên đưa cho ông, nói tiếp:
- Ông xem giùm, em là sinh viên trường đại
học Văn khoa. Em vượt biên qua đây để xin đi Mỹ.
Ông trung tá Thái xem qua giấy tờ, gật đầu :
- Được rồi. Em chờ đây, chút có xe đến chở em
vào trại tị nạn. Hồi trước tôi có tham chiến tại miền Nam Việt Nam . Tôi
có vợ Việt ở Gia Định. Em an tâm nhé.
Mừng quá, tôi yên trí ngồi chờ. Khoảng nửa tiếng sau,
xe đến chở tôi đi, nhưng không chở đi trại tị nạn mà chở đến Ty
công an A Ran. Công an Thái tịch thu hết giấy tờ, hình ảnh trong bọc ni long của
tôi và tống tôi vào nhà tù.
Sau ba ngày giam giữ, họ chở tôi vào trại lính Khmer Tự
do ở trên phần đất Campuchia sát biên giới Thái. Tôi cứ đinh ninh đây là thủ tục
phải như vậy trước khi được cho vào trại tị nạn. Ngờ đâu,
lính Khmer Tự do đem nhốt tôi vào một cái chuồng gỗ thấp lè tè, phải khom khom
người khi xê dịch. Trong chuồng gỗ đã có hai thanh niên người Việt
gốc Hoa. Một người có vẻ lớn tuổi hơn cho
biết họ là anh em ruột, ở Chợ Lớn, bị bắt nhốt vào đây nửa tháng rồi.
Hàng ngày, chúng tôi bị lính Khmer Tự do bắt đi lao động,
đào hầm, hố, đốn cây, chẻ củi. Họ cho chúng tôi ăn ngày hai bửa cơm trắng
với muối. Mỗi cuối tuần được ăn một bửa cơm với cá hộp. Tôi
lo lắng, không biết phải chịu đựng kiếp lao tù này đến lúc nào"!.
Một buổi trưa, sau khi đào xong cái mương, được
cho ngồi nghỉ, tôi hỏi một anh lính Khmer Tự do biết tiếng Việt :
- Anh có biết chúng tôi chừng nào được cho vào
trại tị nạn không "
- Không biết nữa. Khi nào "ông lớn" thấy
vui thì thả các anh.
Tôi than thở :
- Tôi bị nhốt ở đây gần tháng rồi. Biết chừng
nào "ông lớn" vui đây" Anh có thể thả tôi đi không "
- Đâu được. Anh muốn tôi bị nhốt như anh hở"
Ông lớn nghiêm lắm.
Tôi hỏi dò :
- Hình như trại tị nạn ở gần
đây phải không anh"
- Ừa. Có trại tị nạn NW9 cách đây hai cây số.
Tôi chỉ ra hướng con đường ở xa xa ngoài trại lính, hỏi
:
Thỉnh thoảng tôi thấy có xe Jeep cắm cờ thập tự đỏ chạy
ngang. Họ là ai vậy"
- Là Hồng thập tự Quốc tế. Họ lo cho dân tị nạn trại NW9, và cũng thường cung cấp gạo cho trại lính chúng tôi để
đổi lấy người tị nạn bị "ông lớn"
bắt giữ.
- Vậy sao
"ông lớn" các anh không trao đổi chúng tôi "
- Thì vừa
rồi tôi có nói, khi nào ông lớn" vui sẽ trao đổi các anh để lấy gạo.
Được anh nói
chuyện cởi mở, tôi hỏi thêm :
- Các anh
có phải lính của chế độ Lonnol không "
- Phải, nhưng bây
giờ là lực lương
Khmer Tự do của tướng
Sonsann.
- Tôi cũng
có người anh rễ phục vụ trong
chế độ Lonnol từ năm 1970. Anh rễ tôi tên Thạch Vọng, cấp bực sau cùng là thiếu
tá.
Anh lính Miên ngạc
nhiên :
- Hả"
Thiếu tá Thạch Vọng hả" Phải ổng có vợ người Việt không" Bả tên Mùi, có hai con
trai.
Tôi muốn hét
lên, nhưng kịp ngăn lại, nói
trong xúc động:
- Đúng rồi.
Đúng rồi... Anh chị của tôi đó. Rồi tôi hỏi dồn dập :
- Anh quen với ảnh
chỉ hở" Bây giờ ảnh chỉ ở đâu " Có ở đây không "
Người lính Miên lắc đầu:
- Chết hết
rồi. Khi Polpot vào Nam Vang, đơn vị do ông Vọng chỉ huy rút vào rừng kháng chiến,
đóng trại gần biên giới Thái. Được một thời gian, lính Polpot tấn công vào trại,
tiêu diệt tất cả. Ông bà thiếu tá Vọng và hai con trai đều bị chúng giết.
ôi sững sờ trước cái tin buồn bất ngờ này. Niềm hy vọng
có ngày anh chị em được trùng phùng đã tan thành mây khói! Tôi bật khóc nức nở.
Tối hôm đó, tôi
không ngủ được. Hình ảnh chị Mùi, anh Vọng và hai cháu cứ chập chờn trong đầu
tôi. Vậy là hết, anh Phùng, anh Thiện, em Hỷ đã mất vì đất nước, bây giờ thêm tin chị Mùi chết thảm cùng
với gia đình, tôi thật sự không còn người thân ruột thịt nào nữa ở trên đời!
Biết được ngoài
trại có xe Hồng thập tự thường chạy ngang qua, tôi lập kế hoạch trốn thoát. Sau hơn một tháng bị nhốt, lao động khổ sai, tôi
không thể chờ đợi thêm cái ngày được "ông lớn" của trại Khmer Tự do
này vui vẻ tha cho.
Một buổi chiều,
sau giờ lao động gần con đường lớn ngoài trại, tôi giả vờ đau bụng và xin phép
người lính Miên cho tôi đi
giải quyết. Người
lính Miên đứng chờ. Tôi chui vào một lùm cây rậm. Khi thấy người lính Miên châm thuốc hút và lơ đãng nhìn đi nơi khác, tôi vụt chạy ào ào một quãng xa rồi
phóng ra khỏi hàng rào trại. Vài tiếng súng nổ ở phía sau, nhưng tôi đã chạy tới đường lớn cách trại khoảng
trăm mét. May mắn thay, từ xa có xe Jeep cắm cờ Hồng thập tự chạy tới. Tôi đứng
giữa đường, giơ hai
tay lên. Xe ngừng lại trước mặt tôi. Hai người Mỹ xuống xe hỏi:
- Are you
Vietnamese"
Tôi mau mắn trả
lời:
- Yes! I am
Vietnamese. I came from Saigon . I looking
for freedom. Please help me.
- OK! We help you.
Tôi mừng rỡ như chết đi sống lại,
nhảy lên xe Jeep. Nghe tôi khai bị đói, lạnh trong rừng suốt tám ngày đêm, Hồng
thập tự chở tôi vào một bệnh viện dã chiến trong vùng Khmer Tự do, nằm dưỡng bệnh
ba ngày. Tôi được cho uống thuốc, ăn cháo và các trái cây bổ dưỡng.
Đươc sự che chở và chăm sóc của Hồng thập tự, tôi đã thật sự hồi sinh, nhìn thấy
trước mắt một tương lai tươi sáng.
Tôi thầm cảm tạ Trời cao thiêng liêng và Ông Bà, Cha Mẹ, Anh Chị Em linh hiển
đã phù hộ cho tôi được chuyển nguy thành an.
Sau khi khỏe mạnh, tôi được Hồng thập tự chở vào trại tị nạn NW9. Bấy giờ là giữa
tháng 1/1980. Tôi mừng rơi nước mắt.
Cảm ơn Hồng thập tự Quốc tế. Cảm ơn những tấm lòng nhân ái của nhân
viên Hồng thập tự và Cao ủy Liên hiệp quốc.
Trại Tị Nạn
Trại NW9 là trại tị nạn dành cho người vượt biên
đường bộ. Trại nằm trên lãnh thổ Campuchia nhưng ở
sát bờ hào biên giới Thái. Một cây cầu nhỏ bắc ngang từ bờ hào biên giới qua đến
cổng trại. Hàng ngày, nhân viên Hồng thập tự từ bên đất Thái chỉ bước vài bước trên
cầu nhỏ này là vào trại để làm việc. Ngày đầu được vào trại, lòng rộn ràng vui
sướng, tôi hớn hở nhìn những người tị nạn khác đang tập trung ở gần
văn phòng trại xem bảng niêm yết tin tức hay thư từ. Đồng
bào Việt Nam tôi
đây. Tôi có cảm giác thân thiết với tất cả mọi người, luôn
miệng cười với người này, người nọ.
Tôi được xếp cho một chổ ngủ trong một dãy lều dài thuộc khu dân sự. Vài hôm
sau, được vài thanh niên cho biết, nếu là bộ đội Việt cộng tị nạn chính trị sẽ
được cứu xét cho đi Mỹ nhanh hơn. Tôi lên văn phòng khai mình đã từng
là bộ đội, được chuyển ngay qua một dãy lều trong khu bộ đội. Tất cả bộ đội nơi đây đều
từ các đơn vị Việt cộng ở gần biên giới đào ngũ chạy qua Thái.
Dân tị nạn trong trại sinh hoạt rất vui vẻ. Dù việc ăn uống có hơi thiếu
thốn, nhất là nước, mỗi người chỉ
được bốn lít mỗi ngày để uống và tắm rửa, nhưng ai
ai trong trại cũng được yên ổn sống qua ngày. Vài ba tối thì có nhiều người tụ tập
liên hoan đưa tiễn người được xuất trại. Chỉ với nước trà
và bánh, kẹo đơn sơ, họ mời nhau và đàn ca, nhảy nhót với
nhau thật vô tư. Họ an tâm từ nay không còn phải sống với
cộng sản nữa. Qua những buổi liên hoan đó, tôi quen thân với một người bạn
tên Khúc duy Viễn, cũng là bộ đội tị nạn chính trị.
Tôi viết thư thăm anh chị Hải Vân và các bạn
thân ở thương xá Rex như Phuợng, Đức, Minh... Một tháng sau, nhận
được thư anh Vân và các bạn, tôi nhảy tưng tưng. Ở
trại tị nạn, người ta rất khát khao thư từ người thân.
Nhận được thư là người ta
vui lắm. Vui nhất là những người có thân nhân ở các nước tự do
gửi cho tiền. Nhờ đọc báo Văn nghệ tiền phong, tôi liên lạc được một hội thiện
nguyện ở bang Kansas, xin hội làm hồ sơ bảo lãnh. Tháng rưởi sau,
tôi nhận được giấy tờ bảo lãnh của bà hội trưởng Mai
Liên. Nhờ có hồ sơ bảo lãnh này, sau bốn tháng ở trại NW9,
tôi được chuyển đến trại Sikiu, cũng là trại tị nạn đường bộ nhưng ở
sâu trong đất Thái.
Trại Sikiu được chia thành hai khu. Khu gia đình và phụ
nữ ở chung. Khu khác dành cho thanh niên độc thân, có hai building giống như nhà tù,
bị cách biệt với khu gia đình bằng một vòng rào kẻm gai cao lút đầu. Building 1
gồm nhiều thanh niên ở trại trên một năm vì không có thân nhân bảo lãnh, là
building nhà giàu, có bàn đánh ping pong và ai cũng có máy hát nghe nhạc, tiền
bạc tiêu xài rủng rỉnh. Đời sống họ sung túc trong hoàn cảnh tị nạn nhờ họ, ai
cũng giả tên con gái đăng báo Văn nghệ tiền phong, mục tìm bạn bốn phương, dụ
dỗ đàn ông độc thân ở Mỹ gửi tiền, quà cho họ. Tên cô "đực rựa" nào
cũng đẹp: Hồng Ngọc, Thu Thảo v.v... Rồi họ gửi hình của thiếu nữ xinh đẹp nào
đó mà họ có được, làm cánh đàn ông ở Mỹ chết mê, chết mệt. Thời đó, đàn ông độc
thân bên Mỹ chịu cảnh khan hiếm đàn bà, khao khát tình cảm lắm, nên dốc
túi gửi tiền và quà lia chia cho các cô bạn "đực rựa” này, hy
vọng sẽ bảo lãnh được một cô vợ đẹp như tiên.
Building 2 là building nhà nghèo gồm những bộ đội tị nạn
chính trị mới đến như tôi. Đa số là dân bộ đội có gốc rễ ở Sài
Gòn hay miền Tây, trong hoàn cảnh tị nạn nghèo rớt mùng tơi vẫn
còn tánh ăn chơi. Hàng đêm các chàng ta tụ tập thành từng
nhóm ca hát, ôm nhau nhảy đầm, rồi kết bè, kết đảng quánh lộn, thường bị
an ninh trại kéo ra ngoài building đánh cho một trận. Tôi cứ an phận sống qua
ngày tháng. Ban ngày thì lặng lẽ đi vòng vòng trong khu độc thân, nhìn cảnh
sinh hoạt mua bán nơi cổng trại, hoặc trò chuyện với Viễn. Mỗi
tối, tôi thui thủi một mình trên cái chiếu trải trên sàn nhà ở một góc
building. Đi tìm đời sống tự do, không phải là tự do kết bè đảng để đánh người hay bị
người đánh !.
Hai tháng sau, tôi được phái đoàn Mỹ vào trại làm hồ sơ phỏng
vấn, chụp hình. Thêm ba tháng rưởi nữa, tôi được chuyển đến trại
Phanatnikhom. Được rời trại Sikiu, tôi mừng như người vừa
ở tù ra.
Trại Phanatnikhom là trung tâm tị nạn lớn nhất ở Thái
Lan, gồm người vượt biên từ các trại đường bộ và đường biển đã có hồ sơ bảo
lãnh của thân nhân hay hội đoàn. Họ được chuyển đến đây để chờ được phái đoàn
các nước thứ ba phỏng vấn chính thức, quyết định cho đi định cư hay
không. Ở trung tâm này có đủ các sắc dân tị nạn: Việt, Miên, Lào. Vì quá đông
nên trại không tổ chức phát cơm canh nấu sẵn cho người tị nạn,
mà mỗi tuần phát thực phẩm cho từng tổ độc thân hay từng gia đình để tự nấu ăn.
Tổ độc thân tôi có năm thanh niên. Cả tổ lãnh thực phẩm về rồi chia nhau ai muốn
nấu ăn sao thì tùy. Sinh hoạt ở trung tâm vui nhộn như trong
một thị trấn. Có chợ bán đủ loại hàng hóa và nhiều hàng quán bán thức ăn, thức
uống như cơm dĩa, hủ tíu, cà phê, bánh mì, nước sinh tố... Dân tị
nạn có thân nhân gửi tiền thì tha hồ vui chơi, tiêu
xài ở chợ và các hàng quán này.
Phượng, Đức ở thương xá
Rex giới thiệu tôi với người bạn của hai cô ở bang California tên
Nguyễn ngọc Lưu. Tôi được Lưu gửi
cho 50 dollars. Nhờ vậy, thỉnh thoảng tôi cũng vào quán phong lưu chút
đỉnh sau gần một năm gian truân khổ ải trong hành trình viễn xứ.
Giữa tháng 11 / 1980, tôi được phái đoàn INS Mỹ chính
thức phỏng vấn và chấp thuận cho tôi đi Mỹ. Nhìn hai chữ OK của nhân viên INS
phê vào hồ sơ, tôi mừng quá cỡ, cả người nhẹ hẫng
như muốn bay lên trời.
Tình Đầu Đời Tị Nạn
Nỗi mừng được phái đoàn Mỹ chấp thuận chưa tiêu
hóa xong thì qua hôm sau tôi lại có thêm một niềm vui khác không thể nào ngờ trước được.
Tôi từ cửa phòng thư tín chen ra khỏi đám đông, vừa đi vài bước thì gặp
một thiếu nữ đang đi tới. Cô mặc áo thun trắng ngắn tay bó sát thân mình và cái
quần Jean xanh. Nhìn phục sức trẻ trung và khuôn mặt kiều diễm của cô, trông
quen quá. Tôi ngẩn người nhìn cô một thoáng và bật reo lên :
- Trời ơi...Diệu !
Cô gái ngỡ ngàng nhìn tôi rồi cũng reo lên :
- Anh Quý ! Sau tiếng reo là Diệu nhào tới quàng
hai cánh tay qua hai vai tôi, ôm chặc lấy tôi và nói trong xúc động :
- Anh Quý. Em không ngờ được gặp anh ở đây.
Tôi cũng ôm chặc cô, lòng bồi hồi, vui sướng. Trong hoàn cảnh
tị nạn xa xứ này lại được gặp cố nhân. Người con gái xinh đẹp
ở Thị Nghè ngày nào có với tôi tình thân thiết, và một thời gian tôi đã nhớ
nhung cô muốn phát điên vì ám ảnh nụ hôn đầu đời do cô chủ động ban cho. Buông
nhau ra, tôi mời Diệu vào quán. Chúng tôi ngồi sát bên nhau, vừa ăn uống vừa
chuyện trò vui vẻ. Tôi nói :
- Từ sau tháng 4 / 1975, không còn gặp Diệu, anh
nhớ quá chừng.
- Sao anh không đến gặp em"
- Ngay ngày 1 tháng 5 anh có đến tìm Diệu mà cả
nhà Diệu đi vắng. Sau đó, phải lo toan đời sống mới nhiều khó khăn, anh không
có dịp đến thăm em. Khoảng tháng 11 / 1975, anh nhớ em quá nên đến nhà em ở xóm
chợ Thị Nghè thì em đã dọn nhà đi đâu rồi. Thấm thoát đã năm năm rưởi rồi hở
Diệu.
- Đời sống mới trong chế độ Việt cộng khó khăn thiệt. Bố em bị đi tù
"cải tạo". Mẹ bán nhà để lấy tiền nuôi Bố, nên dọn đến căn nhà nhỏ
khác. Em sống đời con gái nhà nghèo, hết vui chơi phóng
túng như trước.
Tôi nhìn Diệu mỉm cười :
- Đời sống con gái nhà nghèo mà Diệu vẫn đẹp.
Bây giờ Diệu đẹp hơn xưa nhiều lắm.
Diệu cũng mỉm cười, không phủ nhận
sắc đẹp của mình :
- Có đẹp hơn mà tình thì thiếu
vắng !...
Sau câu nói, Diệu nhìn tôi với ánh mắt long lanh. Tôi
muốn chìm sâu vào đôi mắt đẹp của Diệu. Sự rung động của cái tình nam nữ mà từ
lâu tôi đã quên đối với Diệu bây giờ lại nổi lên mạnh mẽ trong tim tôi...
Ăn uống xong, Diệu nói :
- Thôi, mình đi anh. Về chổ em chơi nhé.
Gặp mẹ em luôn. Mẹ em cũng hay nhắc đến anh.
Ra tới đường, Diệu nhoẻn miệng cười nhìn
tôi :
- Anh nắm tay em đi. Như hồi ở
Thị Nghè vậy.
Tôi nắm lấy bàn tay mềm dịu, mịn màng của Diệu, lòng lâng lâng vui sướng. Trời
buổi chiều mùa Đông se se lạnh. Diệu đi nép vào tôi như người tình
bé bỏng. Diệu hỏi :
- Anh Quý đã có vợ chưa"
- Đã ai yêu anh đâu mà có vợ.
- Vậy anh đi Úc với em nhé.
- Hôm qua, anh mới được INS phỏng vấn cho đi Mỹ.
- Tiếc quá! Em cũng thích đi Mỹ lắm. Nhưng em
có người chị ruột ở Úc, nên mẹ muốn đi Úc. Vài ngày nữa mẹ và em sẽ được phái
đoàn Úc phỏng vấn.
Về tới chổ Diệu ở, dì Sáu, mẹ Diệu, cũng vui mừng khi bất ngờ gặp lại tôi. Nói
chuyện một hồi, dì Sáu nói : "Hai con cứ nói chuyện đi, mẹ qua thăm bà bạn
mới đến trại". Khi dì Sáu đi rồi, Diệu kéo tấm màn che chổ ngủ của cô. Hai
đứa tôi có khoảng không gian riêng tư để tâm tình. Tôi hỏi : --
Còn bố đâu Diệu "
Diệu buồn rầu trả lời:
- Bố em mất rồi. Bố chết rất thảm trên biển...
Diệu lấy tay dụi đôi mắt vì xúc động rồi kể cho tôi nghe hành trình vượt biển
của cô : "Bố em đi tù cải tạo về vài tháng thì cùng mẹ và em vượt biên.
Thuyền em có 43 người, gồm
đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Đi được sáu ngày, tàu chết máy, lênh đênh trên biển.
Rồi một tàu hải tặc Thái áp sát. Chúng 13 tên trang bị nhiều vũ khí nhảy sang
tàu em. Chúng lục soát tất cả mọi người, cướp hết mọi
thứ vàng, bạc, nữ trang. Sau đó, chúng lôi các cô trẻ đẹp ra để thỏa mãn thú
tính. Em cũng..." Diệu ngập ngừng không nói tiếp, rồi gục vào vai tôi. Tôi
hiểu chuyện gì đã xảy ra cho Diệu. Tôi xúc động nắm chặt bàn tay Diệu, im lặng.
Vài phút trôi qua, Diệu kể tiếp "Bố thấy em bị làm nhục thì nhào tới chống
cự, bị hai tên hải tặc túm đánh, lấy súng nện liên tục lên đầu bố rồi ném xác bố
xuống biển. Sau khi thỏa mãn, chúng về lại tàu rồi cho tàu húc lủng thuyền em.
Nước tràn vào và thuyền lật. Em và mẹ mỗi người may mắn
bám được một mảnh gỗ trôi vào bờ, được người Thái đưa vào trại
Songkhla. Vào trại rồi em mới được gặp lại mẹ. Nghe mẹ nói, số người trên
thuyền bị chết hết 23 người".
Kể xong chuyện buồn, Diệu im lặng, mắt có ngấn lệ
Tôi không biết nói gì để an ủi Diệu, chỉ biết bóp nhẹ
bàn tay Diệu, im lặng cảm thông. Một lát sau, bổng Diệu ôm ghì lấy tôi, đôi mắt
lá răm tuyệt đẹp nhìn sâu vào mắt tôi như hớp hồn tôi, rồi
hôn tôi say đắm. Lần thứ hai tôi được Diệu chủ động hôn. Nụ hôn lần này kéo dài
càng ngọt lịm bờ môi, truyền dẫn vào người tôi cảm giác đê
mê, ngây ngất. Không tự chủ được trước hương sắc
và sự nồng nàn của Diệu, tôi cũng ôm chặt cô, say sưa hôn lại.
Diệu thỏ thẻ ngọt ngào bên tai tôi:
- Anh Quý. Em đã yêu anh từ hồi còn ở Thị Nghè.
Tôi cảm động :
- Sao em không nói cho anh biết "
- Tại em thấy anh có vẻ không yêu em. Anh chỉ
coi em như bạn. Anh có hỏi em, người em thật sự yêu là ai. Em không
nói vì... chính là anh đó.
Lòng xao xuyến, tôi nói với giọng run run :
- Anh cũng yêu em... Chẳng qua hồi đó... anh có
nhiều mặc cảm...
- Vậy bây giờ...anh yêu em đi...
Diệu vừa nói với giọng nhiều cảm xúc vừa quàng hai
cánh tay trắng nõn nà quanh cổ tôi, kéo tôi cùng nằm xuống...Từ hôm đó, tôi
luôn khăng khít bên Diệu. Một tuần sau, tôi có tên trong danh sách xuất trại đi
đảo Galang , Indonesia . Ngày
cuối ở bên nhau, Diệu tha thiết nói:
- Chúng mình đã có với nhau kỷ niệm đẹp tuyệt vời.
Mai đây mỗi người một phương trời,
chúng mình sẽ vẫn luôn nhớ đến nhau. Nha anh.
Tôi xúc động :
- Anh cảm ơn em...Anh sẽ nhớ
mãi về tình yêu em dành cho anh.
Hôm sau, Diệu tiễn tôi lên đường. Phút biệt ly giữa
hai người yêu nhau buồn não nuột. Diêu rươm rướm nước mắt.
Chúng tôi ôm nhau thật lâu lần cuối. Tôi hôn lên hai má Diệu rồi lặng lẽ đi
theo đoàn người chuyển qua Transit Center , đối
diện với Trung tâm Phanatnikhom.
Ngoái nhìn lại, thấy Diệu vẫn còn đứng nhìn theo với
đôi mắt buồn vời vợi, tôi giơ tay vẫy vẫy. Diệu vẫy tay lại.
Chào biệt Diệu. Chào biệt cuộc tình đầu đời tị nạn !...
Tự Do Ơi...Tự Do !
Sau bốn ngày ở Transit Center , tôi
và nhiều người được xe Bus chở đến một trạm chuyển tiếp gần thủ đô Bangkok , nằm
chờ ba ngày.
Khi có chuyến bay, chúng tôi được phát mỗi người một
túi thức ăn và lên xe Bus đến phi trường Bangkok . Cảnh
đêm thủ đô Bangkok thật đẹp
với muôn ánh đèn màu. Ngồi chờ ở phi trường hai tiếng thì
đoàn người tị nạn lần lượt lên máy bay. Nửa tiếng sau, máy bay cất
cánh. Lòng tôi phơi phới, vui như ngày lễ
hội. Khoảng ba tiếng sau, máy bay đáp xuống phi trường Singapore . Hôm
sau, chúng tôi được chuyển đến đảo Galang , Indonesia bằng
thuyền lớn.
Tại đảo, tôi gặp lại Viễn, đến trước tôi một
tháng. Chúng tôi càng thân với nhau hơn. Rồi Viễn cũng
lên đường đi Mỹ trước tôi. Nghe theo lời Viễn, tôi chuyển hồ sơ đi
theo bảo lãnh của người anh bà con Viễn là anh Dương Minh
Hiệp ở bang South Dakota.
Sau bốn tháng rưỡi ở Galang 2, học văn hóa Mỹ và thêm chút
tiếng Anh, tôi được rời đảo ngày 21/4/1982 . Ở
thêm ba ngày trong trạm chuyển tiếp Singapore , tôi
chính thức được lên đường đi định cư tại Hoa Kỳ ngày 24/4/1982.
Hành trình viễn xứ của tôi đã tới đích. Khát Vọng Tự
Do của tôi giờ đây được toại nguyện. Tôi đã thật sự đặt bước chân
lên miền đất Tự Do mà tôi hằng mong ước từ bao năm qua. Xin chào UNITED
STATES OF AMERICA - Đất nước tự
do, dân chủ, văn minh, nhân bản và giàu mạnh nhất thế giới. Một lần nữa, tôi thầm
cảm tạ Trời cao thiêng liêng, Ông Bà, Cha Mẹ, Anh Chị Em linh hiển đã phù hộ
cho tôi, trong hành trình nhiều gian truân, trắc trở, được may mắn chuyển nguy
thành an. Tự Do ơi...Tự Do ! Tôi đã có được Người !....
Xin cảm ơn Chính phủ Mỹ, Nhân dân Mỹ đã nhân
ái dang rộng vòng tay đón nhận tôi và cưu mang tôi 28 năm
qua.
Trưa nay, trời cuối thu se se lạnh,
tôi đến viếng Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân Việt Nam trong khuôn
viên nghĩa trang Westminster, tọa lạc trên đại lộ Bolsa góc đường Hoover, quận
Cam. Tôi cúi đầu thật lâu trước Tượng Đài
để tưởng niệm tất cả vong linh Đồng bào Việt Nam đã bỏ
mình trong Hành Trình Tìm Tự Do.
Đã có khoảng 200 ngàn người Việt
tử nạn trên biển cả trùng khơi hay nơi rừng
sâu, nước độc bởi đói khát, bão tố, biển động, hay hải tặc hãm hiếp, giết chết.
Trước Tượng Đài có tấm bảng đồng ghi:
"Tưởng niệm đến hàng trăm ngàn Thuyền
Nhân, Bộ Nhân Việt Nam đã chết
trên đường tìm Tự Do, Nhân Phẩm, Nhân Quyền. Gợi nhớ về cuộc hành trình đầy đau
thương và khổ nạn của hàng triệu người Việt rời bỏ Quê
Hương sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 vì không chấp nhận chế độ Cộng sản. Lưu truyền
chứng tích đến các thế hệ mai sau về nguyên nhân sự hiện hữu của người Việt
tại Hoa Kỳ và các quốc gia Dân Chủ, Tự Do trên thế giới".
Tôi lại cúi đầu thật lâu trước Tượng Đài.
Những Thuyền Nhân, Bộ Nhân đã chết trên đường vượt biển
hay đường bộ để cho nhiều người thân ruột thịt được sống, được đến
bến bờ Tự Do an toàn. Nhờ đó, ngày nay đã có hơn ba
triệu người Việt được sống đời an bình, thăng tiến tại hải ngoại. Và mai đây, sẽ
có biết bao nhiêu người con ưu tú của
Tổ quốc Việt thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba trở về quê hương Việt
không cộng sản, đem tài năng, kiến thức học được nơi xứ người để
xây dựng nước Viêt nhanh chóng trở thành cường quốc.
Cá nhân tôi ngày rời xa quê hương,
hành trang lên đường là ý chí của Tống Biệt Hành : "Ly khách! Ly khách!
con đường nhỏ. Chí lớn không về, bàn tay không. Thì không bao giờ nói trở lại...".
Nên tôi cũng đang âm thầm hoạt động trong một tổ chức chính trị, với hoài bão
được đóng góp tất cả tâm trí, tài sức vào công cuộc đấu tranh chung của toàn
dân Việt trong và ngoài nước, nhằm xoá tan bóng tối đêm đen
trên quê hương Việt Nam . Cho
những đau thương, thù hận của một thời nô lệ ngoại bang
sẽ bị nhạt nhòa, tiêu tán vào dĩ vãng của lịch sử đã sang trang. Cho những xiềng
xích, chuyên chế, hung tàn, bạo ác của cộng nô phải bị sụp đổ, tiêu vong. Cho
viết lên trang sử mới của bình minh nước Việt ngày xanh tươi rạng
rỡ, huy hoàng, kiến tạo nên một xã hội mới thật sự dân chủ, tự do, văn minh,
nhân bản, công bình, bác ái để toàn dân Việt mãi mãi được sống an hòa, vui sướng, hạnh
phúc.
Kính nguyện cầu Đấng Thiên Thựợng Đế tối cao và Hồn
thiêng sông núi phù hộ cho toàn dân Việt sớm có ngày "đắc lộ thanh
vân", đưa nước Việt lên đỉnh đài vinh quang thịnh trị
ngàn đời.
- Ghi dấu 30 năm rời xa quê hương: 1980 -2010.
* HUYÊN CHƯƠNG QUÝ
(Trích sách “Khát
Vọng Tự Do”
Nguồn :
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire