Chúng ta
đã biết nhà cách mạng Huỳnh Phú Sổ (Giáo Chủ Phật Giáo Hòa Hảo), sau khi khai
sáng Đạo Phật Giáo Hòa Hảo năm Kỷ Mão (1939), Ngài đồng thời cũng đã cách mạng trong
hai lãnh vực Chính Trị và Phật Giáo. Chúng tôi thiển nghĩ, nếu chỉ nói về hai
lãnh vực đó (Chính Trị và Phật Giáo) thì thật là thiếu sót và chưa nói hết ý,
tức chưa nói hết những gì mà Đức Huỳnh Phú Sổ đã tâm huyết mong thực hiện cho
được hoài bảo của Ngài. Vì vậy, hôm nay tôi xin mạn phép lạm bàn thêm lãnh vực
thứ ba của Ngài, đó là “Cách Mạng Xã Hội”. Có người hỏi rằng: Xã hội Việt Nam
trong thập niên 40 có gì lạ mà phải “cách mạng” cho tổn công hao sức? Xin thưa:
Có rất nhiều điều mà Đức Huỳnh Phú Sổ (tức Đức Huỳnh Giáo Chủ) đã lao tâm nhọc
trí, luôn luôn nghĩ tới. Xin mời quý vị chịu khó dành chút thì giờ theo dõi
công cuộc cách mạng nầy.
Song song
với cuộc cách mạng Ðạo Phật, cuộc cách mạng Xã-Hội là một sự nghiệp vĩ đại thứ
hai của Ðức Huỳnh Giáo-Chủ trong thời gian Ngài hành đạo. Ai ai cũng biết:
Chính sách đô hộ của thực dân Pháp trong 2 thập niên 30 và 40, có thể nói là
giai đoạn cực kỳ khắc nghiệt, người dân phải chịu sưu cao thuế nặng, dân trí
kém cõi, bệnh tật tràn lan… Từ những tệ trạng ấy, xã hội nảy sinh ra những hạng
người bòn rút, hư đốn, gian xảo…
Cùng lúc
đó, văn minh vật chất Tây phương (nhất là Pháp) đã xâm nhập vào Việt Nam, làm
cho phong hóa suy đồi, đạo Nho thất bổn… Ðứng trước cảnh xã hội thoái hóa, Ðức
Huỳnh Giáo-Chủ không ngăn được nỗi buồn nên buộc miệng than:
Hạ-ngươn nay đã hết đời,
Phong-ba biến-chuyển đổi-dời gia-cang.
(Sấm
Giảng Khuyên người đời tu-niệm)
Ngài lấy
làm đau xót cho nhơn tâm nên không ngớt cực lực bài xích những thói hư tật xấu
của người đương thời. Theo ý của Ðức Huỳnh Giáo-Chủ, những điều sau đây cần
phải được sửa đổi ngay thì xã hội Việt Nam mới may ra “khá” và “sạch” được.
Theo
Ngài, có 3 lãnh vực chánh cần phải được sửa đổi, đó là: gia đình, phong hóa và
đạo Nho.
1. Về gia đình: Việc loạn
luân cang kỷ đã đến hồi chất ngất. Vậy phải làm thế nào để gây dựng lại lòng hiếu
thảo giữa cha con, ân nghĩa giữa vợ chồng, kính thuận giữa
anh em, thành thật giữa bạn bè, trung tín giữa chủ tớ, trung
nghĩa giữa chúa tôi, thành kính giữa thầy trò…
Ngài
than:
Có đâu như thể bây chừ,
Loạn-luân cang-kỷ bất từ, bất lương.
(Cảm Tác)
Và rằng:
Kẻ
thời phụ nghĩa bố-kình,
Người
thời trung-hiếu chẳng gìn vẹn hai.
(Sấm
Giảng Khuyên người đời tu-niệm)
Ngài
khuyên:
Trung
với hiếu ta nên trau-trỉa,
Hiền
với lương bổn-đạo rèn lòng.
(Kệ Dân
của Người Khùng)
2. Về phong hóa: Xã hội Việt Nam càng ngày càng đồi bại nên
nảy sanh ra nhiều hạng người, như: đàng điếm, chơi bời, gian phi, hung ác, ích
kỷ, sâu dân… Theo ý của Ðức Huỳnh Giáo-Chủ, muốn xã hội được
lành mạnh thì phải bài trừ hết những hạng người nầy.
Thế-gian
ít kẻ làm hiền,
Nhiều
người tàn-bạo làm phiền Hóa-Công.
(Sấm
Giảng Khuyên người đời tu-niệm)
Hoặc:
Lũ giả-dối thường hay thề-thốt,
Nó chẳng kiêng Thần Thánh là gì.
Tâm kẻ hung làm chuyện cố-lỳ,
Chẳng có sợ mang điều tội phước.
(Giác Mê
Tâm Kệ)
Ðức Huỳnh Giáo-Chủ khuyên:
Nhà giàu có xài không sợ tốn,
Phải để tiền cho kẻ nghèo nàn.
Lo ăn xài trà rượu xình-xoàng,
Chừng khổ nảo phàn-nàn căn số.
(Giác Mê
Tâm Kệ)
Và rằng:
Ở
chòm-xóm đừng cho nhơ-bợn,
Rán
giữ gìn phong-hóa nước nhà.
(Kệ Dân
của Người Khùng)
3. Về đạo Nho: Thuyết “Tu-Tề-Trị-Bình” đang suy vi hủ bại,
kẻ học Nho không còn phong độ quân tử nữa. Ðể chấn hưng đạo Nho, theo Ðức Huỳnh
Giáo-Chủ, chỉ còn cách chấn phục đạo ngũ luân, ngũ thường, Tam Tòng, Tứ Ðức.
Ngài khuyên:
Khuyên trai gái học theo Khổng-Mạnh,
Sách Thánh Hiền dạy Ðạo làm người.
(Kệ Dân của Người Khùng)
Và:
Câu
tam-tùng bọn gái nước ta,
Chữ
hiếu-nghĩa trẻ trai cho vẹn.
(Kệ Dân của Người Khùng)
Ngoài ra,
Ngài còn khuyên muôn dân hãy thực hành thêm 8 điều
nhẫn (Bát-Nhẫn) để trợ lực giúp người bền chí vượt qua mọi trở ngại khó
khăn. Bát-Nhẫn, gồm có: Nhẫn-Năng Xử-Thế, Nhẫn-Giải, Nhẫn-Hương-Lân,
Nhẫn-Phụ-Mẫu, Nhẫn-Tâm, Nhẫn-Tánh, Nhẫn-Ðức, và Nhẫn-Thành.
Ðức Huỳnh
Giáo-Chủ giải thích Bát-Nhẫn như sau:
Mùi
đạo diệu chúng dân rán kiếm,
Trễ
thời kỳ khó gặp đặng Ta.
Rồi
hành luôn Bát-Nhẫn mới là,
Thì
muôn việc đều an bá tuế.
Chữ
thứ nhứt Nhẫn-Năng Xử-Thế,
Là
người hiền khó kiếm trong đời.
Lập
thân danh tuần trải nơi nơi,
Chờ
thời-đại mới là khôn khéo.
Chữ
Nhẫn-Giải trì tâm trong trẻo,
Khuyên
dương-trần giữ phận làm đầu.
Nhẫn-Hương-Lân
cùng khắp đâu đâu,
Trên
cùng dưới đều hòa ý hỉ.
Nhẫn-Phụ-Mẫu
gọi trang hiền sĩ,
Phận
xướng-tùy chồng vợ nhịn nhau.
Nhịn
xóm chòm cô bác mới cao,
Nhẫn-Tâm
nọ ngày ngày an-lạc.
Nhịn
tất cả những người tuổi tác,
Nhẫn-Tánh
lành yên-tịnh dài lâu.
Giữ
một lòng hiền-hậu mới mầu,
Quanh
năm cũng bảo toàn thân-thể.
Chữ
Nhẫn-Ðức kể ra luôn thể,
Thì trong đời vạn sự bình
an.
Chữ
Nhẫn-Thành báu-qúi hiển-vang,
Khắp
bá-tánh được câu hòa-nhã.
(Giác Mê
Tâm Kệ)
* * *
Sự nghiệp
Cách Mạng Xã Hội của Ðức Huỳnh Giáo-Chủ không dừng lại ở những điểm tâm lý vừa
nêu, mà Ngài còn vượt xa hơn trong lãnh vực canh nông. Thành công lớn nhất của
Ngài ở lãnh vực nầy là công cuộc “Khuyến Nông” năm
1945 tại Miền Tây, sau khi gần hai triệu người dân Miền Bắc lâm cảnh chết đói (năm Ất Dậu 1945).
Ðứng
trước tình cảnh bi thương của đồng bào Miền Bắc, Ðức Huỳnh Giáo-Chủ cảm thấy có
nhiệm vụ thiêng liêng nên Ngài đứng ra cổ võ đồng bào Miền Nam chung sức góp
tiền, góp gạo đem ra cứu đồng bào Miền Bắc. Ngài còn đi một vòng Hậu Giang
trong 2 tháng liền để khuyến khích tín-đồ của Ngài nên trông gương Miền Bắc mà
gia tăng và chăm lo việc đồng áng hầu tránh nạn đói khủng khiếp có thể xảy ra
bất cứ lúc nào ở Miền Nam.
Sau đây
là các đoạn thơ trích trong bài thơ Khuyến Nông của Ðức Huỳnh Giáo-Chủ viết tại
Sài-Gòn, tháng Tư năm Ất-Dậu (1945):
Hỡi
đồng-bào! Hỡi đồng-bào!
Thần
chết đã tràn vào Trung-Bắc,
Ngày
lại ngày siết chặt giống nòi;
Lật
qua các báo mà coi,
Thấy
con số chết xem mòi kinh nguy.
. . . . .
. . . . . . . . . . .
Quyết
phen nầy kết-liên một khối,
Ðem máu đào tắm gội giang-san.
Giờ
đây đem lại mùa màng,
Năm
rồi miền Bắc tan-hoang còn gì.
Chỉ
có xứ Nam-Kỳ béo-bở.
Cơ-hội
nầy bỏ dở sao xong.
Cả
kêu điền-chủ phú-nông,
Ðứng
lên đừng để ruộng đồng bỏ hoang.
Muốn
cứu khỏi tai nàn cả nước,
No
dạ dày là bước đầu tiên.
Nam
Kỳ đâu phải sống riêng,
Mà
còn cung-cấp cho miền Bắc, Trung.
. . . . .
. . . . . . . . . . . . .
Cùng
chung một giọt máu đào,
Phen
nầy hiệp sức nâng cao nước nhà.
Kẻ
phu-tá cũng là trọng trách,
Cứu
giống-nòi quét sạch non sông.
Một
phen vác cuốc ra đồng,
Thề
rằng ruộng phải được trồng lúa khoai.
Mưa
nắng ấy đâu nài thân xác,
Chí
hy-sinh dầu thác cũng cam.
Miễn
sao cho cánh đồng Nam,
Dồi-dào
lúa chín gặt đam về nhà.
Chừng
ấy mới hát ca vui-vẻ,
Ai
còn khinh là kẻ dân ngu.
Không
đem được chút công-phu,
Không
đem sức-lực đền-bù nước non.
Gởi
một tấc lòng son nhắn-nhủ,
Khuyên
đồng-bào hãy rủ cho đông.
Nắm
tay trở lại cánh đồng,
Cần-lao,
nhẫn-nại Lạc-Long tổ truyền.
(Khuyến
Nông)
Các dẫn
chứng trên đây cũng chưa diễn tả hết ý của Ngài. Chúng tôi thấy rải rác trong 5
tác phẩm Thơ của Ngài (mà tín đồ PGHH gọi là Sấm Giảng) còn rất nhiều câu thơ hay
ý thơ nói về lãnh vực Xã Hội.
Khi tiên
đoán về biến chuyển năm Kỷ Mão (1945), Ngài than:
Năm
Mèo Kỷ-Mão rõ ràng,
Khắp
trong trần-hạ nhộn-nhàng xiết chi.
….
Thấy
đời ly-loạn bất an,
Khắp
trong các nước nhộn-nhàng đao-binh.
….
Từ
đây sắp đến thảm-thê,
Con
lìa cha mẹ, vợ kia xa chồng.
….
Người
khôn nghe nói càng rầu,
Người
ngu nghe nói ngửa đầu cười reo.
Rồi
sau sẽ thấy hùm beo,
Khắp
trong bá tánh hiểm-nghèo đáng thương.
(Sấm
Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm)
Cuộc thế
thay đổi quá nhanh làm cho Đức Huỳnh Giáo Chủ phải cất tiếng than:
Mới
mấy năm sao quá hao-mòn,
Mùa-màng
thất, đói đau không thuốc,
….
Thấy
dân mang sưu-thuế mà thương.
Chẳng
qua là Nam-Việt vô vương,
Nên
tai-ách xảy ra thảm-thiết.
….
Mùa-màng
thất, đói đau không thuốc,
Thương-hại
bầy lê-dân đứt ruột.
Thảm
vợ con đói rách đùm-đeo.
Gẫm
chữ nghèo thường mắc chữ eo,
Thêm
gạo lúa lại tăng giá mắt.
(Kệ Dân
của Người Khùng)
Trước
cảnh thế sự thảm thương, lòng đạo đức của bậc chân tu không khỏi xót xa nên
Ngài than:
Thảm-thương
bá-tánh chín chiều ruột đau.
….
Thương
trong lê-thứ xáo-xào từ đây.
….
Thảm-thương thế-sự lắm ôi!
Dẫy-đầy
thê-thảm lắm hồi mê ly.
….
Anh
em đừng có đổi dời,
Phụ-phàng
dưa muối xe lơi nghĩa tình.
(Sám
Giảng)
Việc khuyên giải nhân dân làm điều thiện, Ngài lúc nào cũng hết lòng căn
dặn:
Việc
bán buôn phải giữ ngang cân,
Chớ
tập tánh lận lường tráo đấu.
….
Phải
sốt-sắng làm ăn cần-thiết.
Nghèo
với đói từ đây sẽ biết,
Hàng
ngoại bang bố-thiết ta hoài.
Nên
bá-gia hãy rán miệt-mài,
Dầu
rách-rưới cũng mau cần-kiệm.
….
Bịnh
ôn-dịch thường hay ói-mửa,
Mà
dương-trần chẳng chịu kiêng-dè.
Qua
năm Dê đến lúc mùa hè,
Trong
bá-tánh biết ai hữu chí.
(Giác Mê
Tâm Kệ)
Về tài
sản sau khi chết, Ngài khuyên:
Nhắm
mắt cũng nắm hai tay,
Đâu
đem tiền của, đem rày hầu non.
….
Thấy
đời khó nỗi yên ngồi,
Thêm
lời Thầy nhắc một hồi thấp cao.
Nữ
nam muốn rõ âm-hao,
Rán
trau đức-hạnh ngày sau sẽ tường.
(Khuyến
Thiện)
Qua 2
cuộc cách mạng ưu việt và vĩ đại nói trên, chúng ta thấy rằng Ðức Huỳnh
Giáo-Chủ, không chỉ là một nhà tu hành thuần túy,
một vị giáo-chủ của một tôn giáo lớn, mà Ngài còn là một nhà đại cách mạng song
toàn trên hai lãnh vực rất tế nhị thời bấy giờ (Phật giáo và Xã hội). Và hơn
hết, Ngài là vị Bồ Tát thương yêu tất cả chúng sanh.
(Avondale,
25/10/2022)
* VĨNH lIÊM.









Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire