Trong năm 2021, chúng tôi (gồm: HQ Trung Tá Nguyễn Văn Quang ở Strasbourg – Pháp, nhà văn Trần Việt Hải – Nam Cali, và Vĩnh Liêm) họp thường xuyên qua Internet để bàn bạc về việc in các thi phẩm của Hữu Phương, tạm gọi là “Tuyển Tập Thi-Sĩ HỮU PHƯƠNG” (gồm Thơ, Văn, và Nhạc phổ thơ). Chúng tôi liên lạc với quý Thi-Văn-Nhạc sĩ HQ và Phó Đề-đốc Hồ Văn Kỳ-Thoại để xin ý kiến và sự hợp tác. Tất cả đều đồng ý và hoan nghênh ý kiến của chúng tôi. Có 2 vấn đề chánh cần phải vượt qua, đó là Tiền in Tuyển Tập và Sự Đồng Ý của thân mẫu của cháu Loan. Theo ý của cháu Loan thì “Tiền” không trở ngại, nhưng “Sự Đồng Ý” thì chưa quyết định. Vì lẽ đó, cho tới nay (năm 2023) các thi phẩm của thi sĩ Hữu Phương (trong “Tuyển Tập Thi-Sĩ HỮU PHƯƠNG”) vẫn chưa được xuất hiện! Chờ đến bao giờ? Tôi không rõ! Chắc chắn Thi-sĩ Hữu Phương cũng không trả lời được!
THƠ HỮU PHƯƠNG: TÂM SỰ CỦA MỘT BẠI TƯỚNG. Kỳ 2. * VĨNH LIÊM.
Chú
thích của Vĩnh Liêm: "Bại Tướng" không có nghĩa là thua trận, mà vì bị Dương Văn Minh, với cương vị là Tổng thống, bắt buộc
đương sự phải buông súng, rã ngũ.
Đôi dòng về Thi sĩ Hữu Phương: Hữu Phương là bút hiệu của Phó Đề Đốc Nguyễn
Hữu Chí. Ông Nguyễn Hữu Chí sinh tháng 11 năm 1931 tại Bến Tre. Năm 1951, ông
theo học trường Hàng hải Thương thuyền ở Sài Gòn. Tháng 7 năm 1953, ông gia
nhập Khóa 3 Hải Quân Việt Nam. Vinh thăng Phó Đề đốc tháng 11 năm 1972. Chức vụ
cuối cùng của ông là Phụ tá Tư lệnh Hải Quân đặc trách Hành quân Lưu động biển
kiêm Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm Duyên phòng 213. Nhà thơ Hữu Phương chính thức
gia nhập làng thơ từ năm 1960. Ông đã xuất bản 3 thi phẩm tại Sài-Gòn: Luống
Biển (1962), Tâm Sự Người Đi Biển (1963) và Neo Tuổi Vàng (1967). Ông có 3 thi
phẩm sáng tác ở hải ngoại, đó là Kiếp Lưu Đày I, II và III (chưa xuất bản).
Kỳ 2:
Hữu-Phương: Kiếp Lưu Ðày;
Hôm nay
tôi nhận được bản sao của hai số Nguyệt san Lướt Sóng, “Chiến Thắng Hoàng Sa”
và số đặc biệt “Ngày Hải Quân 74” do Ông Vũ Hữu San (cựu HQ Trung
Tá) gửi tặng. Tôi lần dở từng trang, bắt gặp những khuôn mặt cũ, những nhà thơ
thân thiết của Hải Quân ngày nào. Tôi gặp lại thi sĩ Hữu-Phương qua bài thơ
“Tỉnh Mộng” của Ông. Ðó là bài thơ tình viết cho người yêu đã bước ra khỏi cuộc
đời của Ông nhưng đã để lại cho tác giả một nỗi buồn ray rứt khôn
nguôi. Thi sĩ Hữu-Phương đã cất lời nhắn nhủ nàng một cách thiết tha:
Ngọn lửa
nào bừng cháy cũng tàn mau
Trừ lửa lòng
ta muôn đời bừng sáng.
Rồi Ông kết luận:
Em còn đó
xin em đừng triệt diệt
Lửa đã
hồng soi tỏ lối trăm năm.
(Lướt
Sóng, số đặc biệt Ngày Hải Quân 74, trang 57)
Bài
thơ "Tỉnh Mộng" của thi sĩ Hữu-Phương làm cho tôi nhớ lại một món nợ
với Ông mà tôi chưa trả được, đó là hai tập bản thảo thơ của Ông đã gửi tặng
tôi ngày 21 tháng 3 năm 1984, “Kiếp Lưu Ðày” (Tập 2?) và “Nỗi Buồn Á-Việt”, với
lời gửi gấm tha thiết: “Bao giờ Vĩnh Liêm có dịp thì viết lời giới thiệu
giùm”. Sau đó vài năm thì Ông đã đột ngột qua đời! Từ đó tới nay, tôi chưa
hề “có dịp” để thực hiện lời căn dặn đó!
Nhân
tiếp chuyện với Ông Vũ Hữu San qua điện thoại và E-mail cách nay hai tuần lễ,
tôi có nhắc lại chuyện tôi đang có trong tay hai thi tập (bản thảo) của thi sĩ
Hữu-Phương và đề nghị Tổng Hội Cựu Hải Quân & Hàng Hải Việt Nam Cộng Hòa in
hai thi tập này khi có điều kiện. Cách đây một tuần lễ, Ông Chu Bá Yến (cựu HQ
Trung Tá) có liên lạc với tôi qua E-mail và Ông cho biết đã liên lạc được với
cháu Loan, ái nữ của cố Ðề Ðốc Nguyễn Hữu Chí (tên thật của nhà thơ
Hữu-Phương), và đề nghị cháu Loan xúc tiến in hai tập thơ nói trên.
Tôi
bèn đi tìm lục bản thảo thi tập “Kiếp Lưu Ðày” (Tập 2?) nằm trong tiểu thư viện
của tôi mà 7 năm qua tôi chưa có dịp đọc lại. Bây giờ bản thảo thi tập “Kiếp
Lưu Ðày” đang nằm trước mặt tôi với 49 bài thơ ngắn dài đủ thể loại, trong đó
có một bài thơ bằng tiếng Pháp (Le Temps en Réduction) và một bài thơ bằng
tiếng Anh (Time in Reduction) được chuyển từ tiếng Việt (Ngày Tháng Thu Dần).
Tại sao lại là “Kiếp Lưu Ðày” mà không là tiếng kêu than nào khác? Ðó là tâm sự
đầy vơi của thi sĩ Hữu-Phương trong kiếp sống tha hương, đang đối diện với tuổi
đời chồng chất mà không biết ngày nào mới được trở lại cố hương:
Thân thế
chỉ còn mộng viễn vông
Cuối đời
hiu hắt bóng hoàng hôn
Từng
trang quá khứ chìm quên lãng
Chết cả
tương lai, đuối cả hồn.
(Ngày Tháng Thu Dần)
Chỉ một
chiều Ðông thôi cũng đủ làm cho nỗi lòng của thi sĩ Hữu-Phương thêm đìu hiu,
cõi lòng càng se sắt:
Quê
ai vẫn lạ trăm chiều
Một lần
diệu vợi hẳn nhiều bâng khuâng
Phải
tiêu cho hết buồn đông
Ðể còn
lay lắt với dòng nổi trôi
Mong
thay một kiếp luân hồi
Trên non
hòn đá không lời buồn vui
(Chiều Ðông)
Mùa Ðông
ở đất nước người sao mà sầu thảm quá! Mỗi một ngày Ðông ở đây là một ngày dài
nhung nhớ, xót đau trong lòng người viễn khách. Một nỗi u hoài trong lòng thi
sĩ khi thấy đàn chim khuất dạng vào cõi xa xăm:
Chơ vơ
hồn thảo mộc
Như viễn
khách chiều nay
Nhìn đàn
chim khuất dạng
Lâng lâng
nỗi u hoài.
(Mùa Ðông Trên Ðỉnh Cây)
Rồi mùa
Ðông đem tới tặng cho thi sĩ những khối tuyết trắng phau, lặng lờ vô tri vô
giác. Khi nhìn thấy tuyết tan, thi sĩ càng mơ tới một mùa Xuân nắng ấm.
Ðêm
qua tuyết xuống lặng lờ
Cái quan
hừng sáng hai bờ trắng phau
Chiếc
xe ngại bước qua cầu
Ðường
trơn lỏm dấu cát rào dưới chân
Thế
rồi cơn nắng ung dung
Tỏa lên
chợt thấy như đông rũ tàn
Hàng
cây nhìn giá băng tan
Cành trơ
lá trụi mơ màng ngóng xuân.
(Tuyết Xuống Trong Ðêm)
Ðối với
kiếp lưu đày như thi sĩ Hữu-Phương thì tuyết là hình ảnh làm cho cuộc đời lưu
vong thêm chán chường, mệt mỏi:
Chán chê
cái kiếp lưu đày
Từng giây
gõ nhịp tưởng đầy là vơi
Dư âm
thân thế xa rời
Chiều nay
tuyết xuống ngày mơi vẫn buồn
(Ngày Mai Vẫn Buồn)
Qua tới
mùa Xuân thì lòng thi sĩ lại bồi hồi xúc động. Không xúc động sao được khi nghĩ
tới quê hương đất nước đang oằn oại trong gông cùm Cộng sản!
Xuân lại
đến
Bồi hồi
sao cuộc sống!
Xuân lại
về
Não nùng
quá Quê Hương!
Nhưng ta
vẫn đốt hương lòng
Cầu xin
Tổ Quốc thắm hồng nơi nơi.
(Xuân Vọng)
Không đau
đớn sao được khi anh hùng bị ngã ngựa một cách tức tửi, bị trói tay, bị buột
miệng một cách oan ức, để rồi phải làm thân nô bộc ở xứ người!
Phải
còn luồn lọt bao nhiêu
Bao nhieu
cho giáp hai chiều thấp cao
Cung
quan ngày trước tự hào
Ngày nay
nô bộc thét gào dửng dưng
Vẫn
mơ gió thốc động rừng
Bứng cây
dời núi một vùng dọc ngang
Nhưng
rồi hổ đã rời hang
Sơn lâm
hùng vĩ ngỡ ngàng đó thôi
Chín
năm hòn đá lăn đồi
Chơ vơ
dưới lủng đỉnh trời bao la.
(Anh Hùng Ngã Ngựa)
Càng đối
diện với tuổi đời, càng ngoái nhìn lại quá khứ, thi sĩ càng thấy mảng trời thơ
càng thu hẹp lại:
Qua lăng
kính xưa đời thôi hết đẹp
Mù trải
xa thu hẹp mảng trời thơ
Như tất
cả vùi say và ngủ thiếp
Núi hoang
sơ giao tiếp biển ơ hờ.
(Qua Lăng Kính Ngày Xưa)
Tuy vậy,
Ông vẫn còn tha thiết tới đại cuộc, tới một ngày trở về Việt Nam khi bóng giặc
không còn. Thi sĩ luôn luôn theo dõi thời cuộc và cảm phục những người dám lên
đuờng đi cứu lấy non sông:
Người ta
cho rằng dởm
Cái việc
đi Tây, Tàu
Của tiền
ai tiêu rởm
Những
chuyện làm cầu âu.
Thật thì
biết nói sao
Nghĩ thôi
đủ nghẹn ngào
Huống gì
trông thế cuộc
Ngày về
giấc chiêm bao
Nhưng nếu
ngồi bó tay
Ai ai
cũng thở dài
Không
màng gì nữa hết
Chỉ bàn
bạc mỉa mai
Thì tội
thay! Người đã
Khêu tiêm
đốt ngọn đèn
Không
bừng lên lửa thật
Cũng còn
thấy nhá nhem
……………..
Dầu mấy
trời ngăn trở
Khi quyết
thắng gian tà
Bây giờ
không thành sự
Trăm năm
chẳng muộn mà.
(Mộng Lớn)
Rồi Ông
khẳng định một điều rất chí lý và quyết liệt:
Ðối với
bè lũ đó
Không thể
tỏ dịu hiền
Dẫu thân
tù xác rọ
Tâm trí
phải vùng lên
(Ðối Với Bè Lũ Ðó)
Dù bị ngã
ngựa một cách đau xót, nhưng thi sĩ Hữu-Phương vẫn mơ một ngày về lại quê hương
một cách cương quyết:
Một tháng
nữa ta về
Ai bảo
rằng không thể được?
Giang sơn
ta sao rằng trong tay cướp
Ðất nước
ta sao rằng mãi hôn mê.
Một tháng
nữa ta về
Hãy bảo
nhau như người Do Thái
Vững niềm
tin ở Ðấng Jehovah
Ngày mai
gặp nhau ở Jerusalem.
Một tháng
nữa ta về
Dẫu thời
gian khuyên nhủ điều nhẫn nhục
Kẻ-bên-này người-bên-kia chúc phúc
Ăn ở ngay
lành để còn thấy lại nhau.
………………..
Một tháng
nữa ta về
Rằng Tự
do phải thắng trước gian tà
Nắng Tự
do sẽ làm mầu mỡ lại
Ðất Việt
Nam không thể chìm xuống mãi
Trong
điêu tàn và sầu hận chia ly
Dẫu trăm
năm ta vẫn hẹn nhau về
Dẫu xa
xăm ta cũng hẹn nhau về
Miền Nam muôn đời vẫn phải thuộc về ta…
(Hãy Hẹn Nhau Về)
Mỗi một
buổi sáng, thi sĩ Hữu-Phương đều có một điều mơ ước, tuy đơn giản nhưng rất
chân thực. Ðiều mơ ước đó là:
Ta về với
mái nhà xưa
Liếp
khoai bụi chuối hàng dừa hân hoan
Giã từ
cuộc sống đi hoang
Ta về với
mẹ thiên đàng của ta
Vẫn mong
từ sớm đến tà
Vẫn mong
cho tới khi xa cõi đời
Rồi mong
vẫn tiếp với người
Ðến khi
non nước xanh ngời tự do.
(Ðiều Mong Mỗi Sáng)
Ðiều mơ
ước sau đây của thi sĩ Hữu Phương cũng là điều mơ ước chung của người Việt ly
hương:
Ước gì ta
thấy cuộn dòng
Cửu Long
nước đổ mênh mông tháng Mười
Lòng ta
rộng một khoảng trời
Bao nhiêu
yêu dấu đời đời không quên.
(Ðiều Mơ Ước Của Người Ly
Hương)
Bỗng có
một ngày buồn bã lòng thi sĩ cảm thấy bâng khuâng, lo lắng cho nhân loại sắp
đến ngày tận thế:
Họ vì
cuồng tín Allah
Lao đầu như điên dại
Ta cũng
vì tin Tự do
Không
nguôi cõi lòng kinh hải.
(Biểu Hiệu Ngày Tận Thế)
Với tấm
lòng yêu mến quê hương đất nước, mặc dù chưa thực hiện được những điều mơ ước
nhỏ nhoi, nhưng thi sĩ Hữu-Phương vẫn bộc lộ tấm lòng tha thiết của Ông:
Nếu mai ta còn sống
Còn tiếp chuyện tương lai
Ðừng cho rằng ảo mộng
Nên nghĩ
đó lâu dài.
(Trông Vào Nguồn Dân Tộc
Mà Ðấu Tranh)
Ðố bạn
biết tại sao thi sĩ Hữu-Phương làm thơ? Xin hãy lắng nghe Ông tâm sự:
Làm thơ
tức nguyện cầu
Cho hồn
ta hóa giải
Những nỗi
sầu niềm đau
Qua đêm
dài khắc khoải.
Nếu tin
cùng thi nhân
Bắc nhịp
cầu tri kỷ
Lời thơ
như tiếng thầm
Ngân sâu
niềm tâm ý.
(Lời Ðáp)
Vâng, quả
thật đúng như vậy! Tôi đã tìm thấy ở thi sĩ Hữu-Phương một tâm hồn thi nhân hơn
là một vị Tướng. Hơn một năm làm việc với nhau để hình thành Ðại Hội Liên Hiệp
Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại (Coalition of Free Vietnamese Convention) tại Hoa
Thịnh Ðốn năm 1983, thi sĩ Hữu Phương đã đối với tôi như một người anh hòa ái,
một người bạn văn nghệ lâu năm. Ông lúc nào cũng cười vui vẻ, ăn nói lịch
thiệp, chừng mực. Khi phát biểu ý kiến thì Ông dùng lời lẽ ôn tồn, khiêm tốn.
Không bao giờ Ông dùng lời lẽ đao to búa lớn ở nghị trường, bởi vì Ông có một
nguyên tắc sống thật là cao cả, từ tốn, an nhiên.
Khi đức
tính trong con người khêu tỏ
Nến tin
yêu soi thấu lớp sa mù
Ta không
sống vô tình như cây cỏ
Thà ngu
khờ hơn chẳng có tâm tư.
Bằng từ
tốn ta hòa trong nhân loại
Vui của
người làm phấn khởi hồn ta
Bằng hỉ
xả ta nghe nhiều nhân loại
Từ bốn
phương phải tụ lại một nhà.
Nguyên
tắc đó không là chi mới lạ
Chỉ làm
sao băng giá được cõi lòng
Vì cơn
nóng như dầu loang lửa phá
Chẳng
được gì càng thấy rõ hư không.
(Nguyên Tắc Sống)
Thật là
cao cả, tuyệt vời! Bởi thế thi sĩ Hữu-Phương đã được mọi người yêu mến. Ngày
Ông qua đời, anh em kéo tới nhà thật đông, trước để chia buồn cùng hiền thê của
người quá cố và thân bằng quyến thuộc, sau là ngồi tán gẫu với nhau, nhắc lại
những kỷ niệm vui buồn với Ông trong cuộc đời quân ngũ.
Sau chuỗi
ngày ly hương tẻ nhạt, Thi sĩ Hữu-Phương đã có cái nhìn về cuộc đời rất chân
rất thực, mang mác mùi thiền cùng nền đạo lý Á Ðông. Ông coi cái chết như là
một áng mây thoáng qua, một cơn gió thoảng dịu dàng.
Sống chết
nay mai nào ai biết được
Máy già
nua lơ đễnh chốc ngừng xoay
Bạn bè
năm xưa tin về bỏ cuộc
Ðến tuổi
này phần số chỉ là may.
Ðã tới
lúc ta không còn hoảng sợ
Hai tay
xuôi không hổ thẹn hơn là
Sống lay
lắt một khoảng đời dang dở
Vá víu
hoài lạnh vẫn thấm vào da.
(Sau Một Khoảng Dài Lau
Lách)
Nhìn
lại quãng đời đã qua, ngoái nhìn lối mòn đã từng giẵm bước, thi sĩ Hữu-Phương
không còn nghe tiếng lòng rạo rực nữa, mà tâm đã lắng xuống nên tự dặn lòng:
Thôi hết
chỉ còn ta
với ta
Trên con
đường nhỏ tháng ngày qua
Chẳng mong tình tứ cho ta được
Giải tỏa
tâm hồn những xót xa…
(Xưa Sau)
Nhân sinh
quan của thi sĩ Hữu-Phương thật đơn giản, nhưng đó là một triết lý sống đôn hậu
đáng yêu:
Ai nào
thấu hiểu càn khôn
Không
gian thời khắc vô cùng đó thôi
Mênh mông
hai chữ đời đời
Mảnh thân
cát bụi dập dồi hẩm hiu.
(Vô Tận)
Ông vẫn
thường dùng dấu chấm ôi (!) sau mỗi khoảng đời nghiệt ngã:
Cho phỉ
đời trai mộng đất trời
Muốn ôm
bốn biển đặt vào nôi
Muốn
quàng tay ấp nghìn tinh đẩu
Cho mỗi
khoảng đời một chấm ôi!
(Chấm Ôi [!] Sau Mỗi
Khoảng Ðời)
Có rất ít
người thấu hiểu tâm sự thầm kín của thi sĩ Hữu-Phương nếu chưa được đọc những
vần thơ lai láng tình yêu quê hương đất nước của Ông. Tuy lời thơ chân phương
nhưng gói ghém biết bao tình.
Ta đã ra
đi bỏ nước rồi
Ngậm ngùi
vương vấn nẻo chia phôi
Mười năm
rồi đó, mười năm nữa
Càng thấy
buồn dâng ngập cõi người.
Nếu chẳng
làm nên chuyện vá trời
Cũng nên
gào thét tiếng than ôi!
Bởi đâu
nhân sử nhiều tri biến
Hạnh phúc
đời đời bánh vẽ thôi!
(Cõi Nhân Gian)
Có lẽ bài
thơ sau đây là điềm báo trước cho sự ra đi vĩnh viễn của nhà thơ Hữu-Phương. Bây
giờ đọc lại tôi mới thấy cái điềm không hay ấy. Chính tác giả đã dịch bài thơ
này sang Pháp ngữ (Le Temps en Réduction) và Anh ngữ (Time in Reduction).
Thân thế
chỉ còn mộng viễn vông
Cuối đời
hiu hắt bóng hoàng hôn
Từng
trang quá khứ chìm quên lãng
Chết cả
tương lai, đuối cả hồn.
(Ngày Tháng Thu Dần)
Và bài
thơ sau cùng cũng là lời bày tỏ về nhân sinh quan của thi sĩ khi bước vào chặng
đường cuối cùng của cuộc đời. Mặc dù mới lưng chừng ngũ tuần, thân thể còn
tráng kiện, thế mà thi sĩ Hữu-Phương đã cho mình là già nua!
Bây giờ
nửa kiếp già nua,
Buồn vui
thấp thoáng niềm trưa nỗi chiều.
(Niềm Tin Cuối Một Ðời
Người)
Mặc dù
vui buồn đau khổ ngổn ngang trong người nhưng thi sĩ hy vọng Trời sẽ thấu hiểu
cho mình:
Trời am
hiểu nỗi vui buồn
Trước sau
sau trước một hồn một thân.
(Niềm Tin Cuối Một Ðời
Người)
Một buổi
sáng đẹp trời nọ, thi sĩ Hữu-Phương bỗng buông cây vợt Tennis đang cầm trên
tay, không một lời từ giã người thân, vội vàng ra đi tới miền đất lạ như Ông đã
từng đột ngột ra đi trong năm 1975! Thế là Ông đã chấm dứt “Kiếp Lưu Ðày” bằng
cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng!
Tôi viết
lời giới thiệu này không nhằm mục đích “trả nợ” cho thi sĩ Hữu-Phương như đã
nói ở đoạn đầu, mà là lời tưởng niệm thân thương của tôi đối với Ông trong tình
anh em nghĩa cả, bằng những xúc động chân thành dành cho người anh yêu qúi.
Thi tập
“Kiếp Lưu Ðày” (Tập 3) có đến tay bạn đọc được hay không là còn tùy thuộc vào
thân nhân của người quá cố. Việc làm của người giới thiệu nằm trong khuôn khổ
làm sao nói lên được những điều gì mà tác giả đã gửi gấm trong từng bài thơ. Có
thể tôi nói hãy còn thiếu sót hoặc chưa nói hết những gì mà tác giả đã kỳ vọng
nơi tôi. Nếu đúng như vậy, xin độc giả vui lòng miễn chấp, và xin hương hồn thi
sĩ Hữu-Phương vui lòng tha thứ.
(Ðức Phố.
ngày 11-02-2001)
* VĨNH LIÊM
GHI
CHÚ CỦA VĨNH LIÊM (Ngày 01-09-2023 nhân đọc lại bài giới thiệu này) – Cách đây
khá lâu (không nhớ rõ năm), thể theo lời yêu cầu của cháu Loan (Nguyễn Thị
Hoàng-Loan) – ái nữ của nhà thơ Hữu Phương – tôi đã gửi cho cháu 2 tập bản thảo
thơ của Hữu Phương (“Kiếp Lưu Đày”) đã tặng cho riêng tôi. Theo ý của cháu Loan
là sẽ in 2 tập thơ đó, nhưng cho đến nay (năm 2023), tôi chưa thấy cháu Loan
thực hiện lời hứa với tôi.
Inscription à :
Publier les commentaires (Atom)


Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire