Có những hiện vật khó/không thể quy đổi thành tiền, vì nhiều khi có tiền
cũng không kiếm được. Nào có thể mua được định mệnh, mua được những hạnh ngộ
hãn hữu, những tình cờ…được sắp đặt. Những gom góp chắp vá qua tơi bời của điêu
linh, của tàn nhẫn thời gian…mà mỗi tờ báo đã như là một sinh mệnh.
“Đầy đủ mọi lập trường, khuynh hữu có, lừng khừng có,
khuynh tả có; đầy đủ mọi thế hệ, trẻ có, già có; đầy đủ mọi tài năng, nghiệp dư
có, chuyên nghiệp có; đầy đủ mọi chiều hướng, cổ điển, lãng mạn, tả chơn, siêu
thực, hiện thực, hiện sinh, hiện đại và nhiều thứ khác nữa. Chính nhờ mô hình
làm văn như vậy, xin nhắc: độc lập, cởi mở, không quy lụy bất cứ định chế hay
trường phái nào, mà tạp chí Văn và đặc san Tân văn đáp ứng được nhu cầu khẩn
thiết của độc giả lẫn tác giả bấy giờ.
Đúng như họ mong muốn, đòi có một chỗ để viết và để
đọc nhiều loại tác phẩm chiều hướng khác nhau, phong cách khác nhau, giọng nam
giọng trung giọng bắc song song với nhau. Họ đã quá ngấy thứ văn chương lụt đầy
hai nửa đất nước thời ấy, thứ văn chương độc thoại một chiều và đúng lập trường
trong lời ăn tiếng nói, vừa thô thiển vừa nhạt nhẽo.” - xin dẫn lại một đoạn ngắn dịch giả Trần
Thiện Đạo tóm tắt về các “khuynh hướng” trên Văn. Quả thật vậy, lần giở từng số
một ta có thể điểm qua:
- Những số rất “đương thời”, tiệm cận với văn chương thế giới khi giới
thiệu rất nhanh chóng & gần như cùng lúc những nhà văn & tác phẩm thời
danh lúc bấy giờ: Albert Camus, Stefan Zweig, Alberto Movaria, Guy de
Maupassant, André Malraux,Jacques Prevert, William Faulkner, Kafka, Francoise
Sagan, Ernest Hemingway, Saint-Exupéry, Graham Greene, Hermann Hesse, Simone de
Beauvoir, Marcel Proust,André Gide, Léon Tolstoi, Kawabata, Jean Paul Satre…
Những số trang trọng tưởng niệm những tài danh của văn chương Việt: Nhất
Linh, Lê Văn Trương, Triều Sơn, Tản Đà, Nguyễn Bính, Vũ Trọng Phụng, Hàn Mạc
Tử, Hồ Biểu Chánh, Đinh Hùng, Bích Khê, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Phạm Duy Tốn,
Thạch Lam, Tchya Đái Đức Tuấn, Y Uyên, Doãn Dân…
Những số “tưởng mộ” các văn nhân: Bùi Giáng, Vũ Khắc Khoan, Thanh Tâm
Tuyền, Võ Hồng, Hồ Dzếnh, Quách Tấn…Những số Văn về “văn chương nữ giới” tuyển
tập một “hiện tượng” đặc sắc của văn chương trước 1975. Những số Giáng Sinh,
Xuân & “đầu xuân lộc mới” mang một dư vị & cảm hoài khó tả của một miền
Nam & Việt Nam đẹp-buồn.
Tập hợp những tên tuổi cự phách của các tác giả thời danh, quy tụ các tên
tuổi ba miền. Từ “lão thành” Vũ Hoàng Chương, Đông Hồ, Vũ Bằng, Lê văn Trương
cho đến “thời danh” và “ăn khách” như: Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến, Linh Mục
Thanh Lãng, giáo sư Nguyễn Văn Trung, Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Bình Nguyên Lộc,
Sơn Nam, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường, Vĩnh Lộc, Văn Quang, Phan Du,
Võ Hồng, Đặng Tiến, Trần Thiện Đạo, Tô Thùy Yên, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Minh
Hoàng, Vũ Đình Lưu, Nguyễn Đình Toàn, Tuấn Huy, Viên Linh, Đỗ Quí Toàn, Phạm
Công Thiện, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Xuân Hoàng, Hoàng Ngọc Biên, Dương Nghiễm
Mậu, Thanh Nam, Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ,
Nguyễn Mộng Giác, Tạ Ký, Trần Dzạ Từ… Về các nhà văn nữ, có Túy Hồng, Nhã Ca,
Trùng Dương, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ…
Những số Xuân Đặc Biệt chính là một chứng từ khi muốn nói đến cái đẹp của
văn chương & cũng là một thế giới thu nhỏ khi ai muốn đọc hoặc tìm hiểu về
“văn chương miền Nam”. Ở đó lấp lánh chút niềm bình an qua từng con chữ khi
những hoài vọng của một tương lai tươi sáng hơn, yên bình hơn dù rằng qua ngọt
ngào của “nắng thi ca, mưa tiểu thuyết” hay qua những những tiếng kêu trầm
thống của những cây bút tràn đầy sinh lực “ngoài vòng đai” trong cơm trầm luân
của chiến tranh…qua những số Xuân rất “nặng ký” (cả nghĩa đen & nghĩa
bóng).
Các Tuyển Tập với tên của một tác phẩm được lấy ra làm tên số báo trên
trang bìa rất thơ như một làn gió làm dịu nhẹ bớt cái rát buốt của chiến tranh,
cái căng thẳng của thời cuộc lúc bấy giờ (hầu hết đều theo tiêu chí ủy lạo cho
các cây bút trẻ, những gương mặt không-thời-danh, những cây bút dấn thân trong
cuộc chiến...).
Có thể kể đến như: Mây mùa thu, Lệ đá đêm sâu, Mưa khóc tan mùa,
Lối về chợ Trúc, Nói với mùa thu, Phiến đá chưa mòn, Sầu xưa chín rụng, Mưa
chưa dứt hạt, Bóng tối vây quanh, Khi mùa mưa tới, Trên ngọn sầu đông, Mịt mờ
thức mây, Tiếng hát lên trời, Trong nỗi buồn vàng, Mảnh vụn trong hồn người,
Mùa đông trong trí nhớ…Mạnh mẽ và trực diện hơn cho cuộc chiến như: Viết
Trong Khói Lửa, Văn chương trong thời bình, Mở mắt nhìn quê hương, Trên vai
Việt Nam…
Những số đặc biệt về Thơ về Hội Họa về Sân Khấu. Những số ghi thẳng chủ đề
“cây bút trẻ” ân cần giới thiệu & khai phá những giọng văn rất mới và chính
là những khởi đầu cho những tên tuổi và đều có những dấu ấn riêng sau này, như
thư ngỏ mở đầu số 11 “Những cây bút trẻ đang lên”: “…
Văn nghiệp của những cây bút góp mặt nơi đây mặc dù còn đang được xây đắp
bằng rất nhiều công khó, cũng đã có được ít nhiều sắc thái riêng biệt khả dĩ
xác nhận sự hiện diện của họ trên văn đàn. Họ đang cố vươn tới, đi lên. Nội sự
cố gắng đó thiết tưởng đã đủ để bạn đọc tiếp nhận tác phẩm của họ bằng rất
nhiều thiện cảm” (có thể kể đến: Trần Hoài Thư, Hà Thúc Sinh, Hồ Minh Dũng,
Trần Dzạ Lữ, Nguyễn Lương Vỵ, Mường Mán, Ngụy Ngữ, Cao Thoại Châu, Lâm Chương,
Huy Tưởng, Đynh Trầm Ca, Phan Nhự Thức, Hà Nguyên Thạch, Lâm Hảo Dũng, Vũ
Hữu Định, Phạm Cao Hoàng, Nguyễn Thị Minh Ngọc…)
- Về hình thức, các bìa Văn còn là một tuyển tập những bức tranh rất u
hoài, rất “văn chương”, rất “trữ tình”. Những vóc dáng “em gầy như liễu trong
thơ cổ”, những gương mặt đẹp-đau-thương, những đường nét khêu gợi trí tưởng,
những mảng màu siêu thực…trên bìa của Văn khiến tạp chí này - ngoài giá trị nội
dung không thể phủ nhận - còn bật lên với những giá trị thẩm mỹ. Và có thể được
xem là một trong số ít những tạp chí văn chương được chăm chút nhất về mặt “mỹ
thuật” của làng báo chí “ngàn hoa đua nở” trước 1975. Những họa phẩm ấy đến từ
các họa sĩ: Văn Thanh (cũng là người vẽ logo), Ngọc Dũng, Rừng, Thái Tuấn,
Nguyễn Trung, Nguyên Khai, Lê Vĩnh Ngọc, Hồ Đắc Ngọc, các bức chân dung văn
nghệ sĩ “kinh điển” & hình màu chụp bởi Trần Cao Lĩnh…
- Tòa soạn Văn ở 38 Phạm Ngũ Lão, cũng là nhà in của ông Nguyễn Đình Vượng.
Ông Vượng đứng tên chủ nhiệm Văn với Trần Phong Giao lo phần bài vở. Trần Phong
Giao, trước khi đảm nhận tờ Văn làm việc ở tạp chí Tin Sách của Hội Văn Bút do
linh mục Thanh Lãng làm Chủ tịch. Ngoài công việc làm báo, Trần Phong Giao còn
sáng tác và dịch sách.
Văn như ngay từ số đầu đã đề ra chủ trương: dành cho lớp độc giả hiếu học
ham đọc, ưa suy nghĩ.
Tờ Văn, Trần Phong Giao đảm nhận từ số 1 năm 1964 đến cuối năm 1971 thì
ngưng. Ông rời khỏi tòa soạn với một lá thư gởi bạn đọc cùng ngỏ lời chia tay
với những người viết trẻ. Tiếp tục công việc cho Văn, ông Nguyễn Đình Vượng mời
hai nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng và Mai Thảo. Hơn một năm giữ vai trò phụ trách
bài vở, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng vì bận công việc dạy học lại thôi, để một
mình nhà văn Mai Thảo cáng đáng. Nhà văn Mai Thảo một mình với tờ Văn, đã giữ
được tới số cuối cùng, ngừng hẳn khi cuộc chiến đi tới giai đoạn kết thuc
(& sau đó, ông đã tục bạn Văn hải-ngoại…từ 1982 - 1996 & trao lại giai
đoạn sau (cũng cho) Nguyễn Xuân Hoàng từ 1/1997 – 4/2007)
- Ngoài những tác giả thời danh hoạt động tại Saigon thời bấy giờ, trong
một bài viết nhà văn Nguyễn Chí Kham đã tổng kết những gương mặt không đến từ
Saigon nhưng góp một tiếng nói hết sức mạnh mẽ trong quá trình Văn được phát
hành như sau: “…báo Văn đã có một công lớn dạy viết văn cho lớp người
trẻ bằng sự kích thích họ đọc nhiều, suy nghĩ nhiều, tự dưng khám phá vỡ ra
được một cách nhìn, một cách viết.
Chỉ sau một năm đầu còn ít ỏi, lớp trẻ chỉ mới có một
số tên tuổi sớm xuất hiện trên Văn như Y Uyên, Phan Duy Nhân, Đào trường Phúc,
NH Tay Ngàn, Trần Như Liên Phương, Nguyễn Vũ Đan Vy, Nguyên Vũ, Thái Lãng, Lê
Cao Nguyên, Văn Lệ Thiên. Qua những năm sau, những cây bút lúc đầu hẳn còn non
kém dần tiến lên làm nên một đội ngũ, một lực lượng dự trữ cho Văn. Khi được
một đội ngũ trẻ có học vấn, yêu thích văn chương, anh Trần Phong Giao rất hài
lòng và kỳ vọng. Từ tỉnh đầu giới tuyến đến Sài Gòn, đến miền Đông, miền Tây đã
có:
- Quảng Trị: Phan Phụng Thạch, Thạch Nhân, Sương Biên
Thùy
- Huế: Trần Doãn Nho, Hồ Minh Dũng, Trần Dzạ Lữ, Lê Bá
Lăng, Thái Ngọc San, Lê Văn Ngăn, Lữ Quỳnh, Mường Mán, Ngụy Ngữ, Hoàng Hạ Lan,
Hoàng Ngọc Tuấn, Huỳnh Hữu Ủy, Lê Nhược Thủy, Yên My, Trần yên Du, Trần Đình
Sơn Cước, Võ Quê.
- Đà Nẵng: Nguyễn Nho Sa Mạc, Chu Trầm Nguyên Minh,
Phương Tấn, Luân Hoán, Thành Tôn, Hà Thúc Sinh
- Hội An: Thái Tú Hạp, Đinh Trầm Ca, Hoàng Thị Bích
Ni.
- Tam Kỳ: Huy Tưởng, Tần Hoài Dạ Vũ, Nguyễn Nhật Ánh,
Trần Hoài Thư
- Quảng Ngãi: Hà Nguyên Thạch, Mê Cung, Phan Nhự Thức,
Vương Thanh.
- Qui Nhơn: Trần Phiên Ngung, Đặng Tấn Tới, Võ Chân
Cửu.
- Tuy Hòa: Nguyễn Lệ Uyên, Trần Huyền Ân, Hoàng Đình
Huy Quan, Mang Viên Long, Cảnh Cửu.
- Nha Trang; Phạm Chu Sa, Văn Lệ Thiên.
- Phan Rang: (không nhớ)
- Phan Thiết, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Thị Ngọc Minh.
- Pleiku: Kim Tuấn, Lâm Hảo Dũng.
- …
Dù ở xa thủ đô Sài Gòn, nhưng từ các tỉnh miền Trung,
miền Đông, miền Tây, hay cao nguyên, sáng tác của những cây bút trẻ kể trên vẫn
gởi đến Văn một cách đều đặn và thể hiện sự tiến bộ rõ rệt. Những sáng tác của
người viết mới, không chỉ giữa anh em cùng lứa tuổi biết nhau mà còn được các
nhà văn đàn anh để mắt đến. Từ đó, mỗi người viết trẻ có chỗ đứng, một vị trí
vững vàng trên Văn. Để khích lệ, mỗi năm, người phụ trách bài vở Trần Phong
Giao cũng dành một vài số đặc biệt cho tất cả những cây bút trẻ được thành
danh.”
…
- “Bàn tay làm sao níu một đời vừa đi qua
Bàn tay làm sao giữ một thời yêu thiết tha…” (Trầm Tử Thiêng)
Tôi đang giữ đây, tròn một giáp - 12 năm 1964-1975 của một “di tích” văn
chương thăng trầm nhưng rực rỡ… Để có được những số liên tiếp, may mắn thôi
chưa đủ, còn là một chữ duyên & phận. Đằng đẵng của hơn 4.000 ngày &
sống sót sau hơn nửa thế kỷ chứa trong nó nhiều hơn là những áng văn đoạn thơ -
còn là khai phóng, còn là nhân bản, còn là rộng mở của viết & đọc. Còn là
khói lửa, còn là máu & nước mắt, là chôn sâu, là xé nát, là một “chứng từ”
tri thức. Còn là Nam Việt Nam, còn là một “quê hương thu nhỏ”, còn là một “Sài
Gòn kiếp trước”...ngỡ như “kiếp xưa bước nhẹ về”.
(*) Bán nguyệt san Văn ra đời đầu tháng giêng năm 1964, với chủ nhiệm:
Nguyễn Đình Vượng, thư ký tòa soạn: Trần Phong Giao, ban biên tập: Tràng-Thiên,
Nguyễn Minh-Hoàng, Nguyễn Ngọc-Phách, Trần Thiện-Đạo và Thư-Trung. Số 209 (ra
ngày 01/09/1972) là số ra quyết định kết thúc hình thức Bán Nguyệt San (đọc lý
do trong “Thư tạm biệt thân hữu & bạn đọc”) và số 210 (ra ngày 15/09/1972)
là số loan tin đổi thành Giai Phẩm Văn.
- 210 số bán nguyệt san Văn chính xác theo danh sách của chính báo Văn lập
ra để bạn đọc theo dõi & hỏi mua các số thiếu (list cuối cùng cập nhập
chính trong số bán nguyệt san đánh số cuối: 210). Giai Phẩm Văn mình đang có
(tính luôn 3 số Xuân 1973-1974-1975) tổng cộng 47 số thay vì 57 như trong một
số list chưa xác minh đó giờ hay thấy trên internet. Theo quá trình sưu tầm
& tìm kiếm của mình thì tạm thời vẫn chưa thấy quyển nào khác ngoài các
quyển này.
- Hình bìa, Mục lục & ngày phát hành của 210 + 47 cuốn này sẽ được cập
nhập sắp tới.
* NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG HUY 20.12.2023






Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire