(1924 Ninh
Bình - 9/1/2017 Paris). Hưởng thọ 93 tuổi.
“Múa bút
vườn hoang, vẽ láo chơi!
Xôn xao sỏi
đá nói nên lời!
Ðỏ, xanh xáo
trộn hồn cây cỏ
Nhẹ gót vào
tranh, chiếc lá rơi!
* Phạm Tăng.
Ông sinh năm
1924 tại Ninh Bình-Bắc Việt, học ngành Kiến Trúc trước khi chuyển sang hội họa
ở trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Ðông Dương.
Vẽ hí họa
cho nhật báo Tự Do từ 1954 tới 1959, tuần báo Văn Nghệ Tự Do năm 1956. Một số
hí họa châm biếm trên Tự Do và Văn Nghệ Tự Do của ông đã khiến ông bị bắt, giam
ở khám Catinat một thời gian.
Ðược xuất
ngoại học thêm năm 1959, ông lấy được bằng tốt nghiệp của hầu hết các khoa ở
Viện Mỹ Thuật La Mã (Accademia de Belle Arti di Roma): Hội Họa, Trang Trí, Ðiêu
Khắc, Thiết Kế Sân Khấu. Ông được giải nhất về Hội Họa của tổ chức UNESCO với
bức tranh “Vũ Trụ” năm 1967, và nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng khác.
Họa sĩ Phạm
Tăng qua đời sáng ngày 9 Tháng Giêng, 2017, tại Paris, hưởng thọ 93 tuổi.
Vũ Trụ Phạm
Tăng. Thụy Khuê.
Hội họa và
thi ca, hai ngành nghệ thuật có những tương quan mật thiết, nhưng hiếm hoi là
những nghệ sĩ làm sáng tỏ được mối tương quan đó trong tác phẩm của mình, từ
Vương Duy.
Họa sĩ Phạm
Tăng vào thơ, theo lời ông "chỉ để trò truyện tâm sự với mình". Ông
làm thơ tài tử. Sau hành trình hội họa dài của một họa sĩ Việt Nam, gây nhiều
tiếng vọng bên trời Tây, tập thơ Phạm Tăng đầu tiên ra đời, như một món quà
muộn.
Thơ kèm phụ
bản: Hai bức tranh tiêu biểu Phạm Tăng, tượng trưng quan niệm sống và sáng tạo
nghệ thuật. Bức thứ nhất, họa sĩ đặt tên là Vũ Trụ, và bức thứ nhì, xin tạm gọi
là Hữu Hình Vô Thể.
Người đọc sẽ
không tìm thấy ở thơ Phạm Tăng những khám phá mới lạ về hình thức. Ông nói
những chuyện đã cũ, cũ như trái đất, như hành tinh, như vũ trụ, như hạt cát,
hòn sỏi, con người. Nhưng thơ ông có những tia "mắt sao" dõi buồn về
một cố nhân xa:
Quê nhà từng
mảnh con con
Khâu khâu vá
vá đã mòn đường kim.
Hiếm có hình
ảnh nào xa xót quê hương đến thế. Mảnh đất Việt Nam, nhìn từ máy bay xuống, rất
khác nhiều nơi: Làng xóm, ruộng đồng san sát, lỗ mỗ như ô ăn quan, không khác
gì những mảnh vá trên tấm áo nâu của người làm ruộng. Ngày đi, Phạm Tăng đã
chụp tấm hình kỷ niệm ấy, đem may thành áo. Quê hương không còn xa xôi nữa, mà
trở thành lớp da thứ nhì, đắp lên mình, mang theo cùng trời, cùng đất. Ở những
bước dừng, chiếc áo da vàng đã sứt chỉ, sờn vai, người nghệ sĩ lại tìm kim, vá
thêm lần nữa, khâu những đường mòn vụn rách, ráp những thửa ruộng, mảnh vườn,
bờ tre, bụi nước... Từ tấm áo da nhầu nát quê hương, ông sống, ông đi....
- Thơ ông vẽ con đường nghìn trùng hải lý về những chuyến đi " nửa phiêu
lãng, nửa lưu đầy". Không hành khách. Không hành lý. Không cả con
người:
Hành trang
đến cả linh hồn cũng dư.
Hành trang
hữu cơ và tâm cơ không cần thiết, nhưng hành trang thơ có họa. Họa làm sáng thơ
và thơ khơi mạch cho họa. Cả hai giao ứng trong đồng thuận và nghịch lý như một
trắc họa nghiệm sinh những triền miên trăn trở của con người: Từ cái không đến
cái có, cái riêng đến cái chung, cái hữu hình đến cái vô thể.
Từ niềm đau
riêng của một Phạm Tăng lưu vong gần trọn cuộc đời, toát ra cái đau chung của
cõi người lưu vong trong chính bản thân mình. Từ nỗi đau riêng của một mối tình
đứt đoạn, rạng nở bình minh những mối tình miên viễn, thực thụ hiện hình sau
cái chết. Những đối cực ấy, Phạm Tăng thể hiện song song trong họa và thơ.
Dường như trong thơ đã có họa và trong họa đã có thơ như lời Tô Đông Pha nói về
Vương Duy ngày trước.
Phạm Tăng
họa như thế nào?
Xé mây làm
vải vẽ
Chấm mực
nghiên mặt trời
"Ngông"
thì vẽ thế. "Tuyệt vọng" vẽ rằng:
Năm đầu tay
xé rách không gian
Về bức tranh
Vũ Trụ, Phạm Tăng đề:
Trông lên
thiên thể bao la
Nhìn vào sâu
thẳm trong ta mịt mùng
Xác thân:
vạch nối đôi vùng
Khoát tay
một nét: Cuộn vòng càn khôn.
Một vũ trụ
ngông trong thơ, trong họa, trong chuyển động và tư tưởng. Ngoảnh lên nhìn
tranh, người xem không biết tranh minh họa thơ hay thơ phụ đề tranh. Cả hai tạo
thành một chủ đề, một cơ cấu, một càn khôn ngông, thách đố giữa con người và vũ
trụ, giữa cái nhỏ vô song và cái lớn vô cùng.
Hội họa Phạm
Tăng khởi hành từ những vi phân, vi bản, từ những nguyên tử, những tế bào của
sự sống để đi đến cái vĩ mô trong vũ trụ phổ quát. Tất cả vận hành trong không
gian thiên di, thời gian biến động: Dòng đời cuồng lưu, vũ trụ càn khôn. Giữa
cuồng và càn, con người truân chuyên, vận chuyển, bức tranh Hữu Hình Vô Thể,
phác họa hành trình của luân hồi:
Trăm ngàn
vạn ức cái ta
Chết trong
lúc trước thành ta lúc này
Ngừng đây
nhưng vẫn vần xoay
Nằm đây
nhưng vẫn tung bay khắp trời
Ở Phạm Tăng,
người đi trong vũ trụ như một tinh thể, như tế bào vận hành trong da thịt, và
như con người luân hồi trong dĩ nghiệp tử sinh truyền kiếp:
Đi từ đâu?
Để về đâu?
- Trong vị trí thiên di ấy, con người tự bản chất đã mang dư vị "lưu
vong"
Đi hoài sao?
Liệu có chăng đường về
Đêm đêm
ngẩng mặt tìm Quê
Hỏi thầm sao
rụng sao về nơi đâu?
Lạc loài
trong vũ trụ càn khôn, trạng thái lưu vong gắn liền với số phận, vận mệnh, trở
thành một định mệnh, một thiên thể, một hằng sáng. Trước Phặm Tăng, Thanh Quan
đã "lưu vong" trên đất nước: Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc. Cùng
Phạm Tăng, Đặng Đình Hưng đã sống "lưu vong" trong quản thúc suốt
đời: Những chiếc va-li cứ về bến lạ. Lưu vong, do đó, đối với nhà thơ không
phải chỉ là sự "ra đi" hiện thực và lý tính, mà còn ẩn những viễn du
trong tâm linh, trong nội tại:
Nghe trôi,
không biết trôi mình về đâu.
Về "lưu
vong", người Việt hải ngoại đã tốn nhiều giấy mực, bàn cãi, sáng tác...
Nhưng mấy ai viết được ngắn gọn và sâu xa như thế?
Nửa trời nửa
nước chênh vênh
Thấy mình
trôi giữa mông mênh: cũng mình.
Lưu vong,
đối với Phạm Tăng, dường như không những là sự vận chuyển con người trên trái
đất, trong không gian tinh cầu, mà còn là hành trình du lịch trong thời gian,
từ thuở sơ sinh đến lúc bạc đầu: Lang thang khắp mặt địa cầu.Thịt xương: áo đã
ngả màu hoàng hôn. Với người lữ hành đặc biệt ấy, những chuyến đi ngoài trùng
lấp những chuyến đi trong: Chỗ đâu chứa cả thế gian trong lòng.Với người lữ
hành đặc biệt ấy, đi nhiều, bụi trần đã ngấm vào lục phủ ngũ tạng: Trong ta
cũng bụi, rũ hoài chưa ra. Đi mòn, đi mãi, nhưng sau mỗi hành trình hỏi rằng:
Chép lại gì chăng? Một chữ: Không. Thế còn tranh? Vẽ bao nhiêu mộng không đầy
khoảng không.
Và như thế,
hư vô trở thành định mệnh thứ nhì mà người nghệ sĩ đem vào cuộc sống lưu vong
trường cửu của mình:
Thôi chuyến
đi này, đi tay không
Tội chi tay
xách với vai gồng
Thịt xương
trút gánh hành trang nặng
Xóa cả linh
hồn: con số không
...
Không cái
tôi này, không xác thân
Không sau,
không trước, chẳng xa gần
Không đi,
không đến, không còn mất
Vũ trụ và
tôi, một, bất phân
Tại đây, vũ
trụ quan và nhân sinh quan của người thơ, người họa đã giao hòa thành một khối
hư vô:
Soi gương,
bóng ảnh, bóng mình... đều không.
Phạm Tăng
gặp gỡ lưu vong trong định mệnh, trở thành bạn đời, nẩy sinh quý tử: cô đơn. Cô
đơn là "thế hệ thứ nhì", là con đẻ của nỗi đau thơ và họa. Và là bản
thể của sáng tác:
Sống cô đơn,
chết một mình
Trí tâm thác
loạn - xác hình quặn đau
Xé từng chữ
- nghiến từng câu
Xoáy từng
nét bút, khoan sâu từng lời.
Niềm đau của
họa sĩ không còn là nỗi đau trừu tượng nữa, mà đã trở thành vật thể, một kết
tinh máu thịt, xương da, toát ra từ tinh lực của cây cọ, ngòi bút: Đục sầu,
khoét khổ, đầu tay. Từ hoàn cảnh riêng tư của tác giả, nỗi đau trở thành một
sinh linh, có tâm thức, tri thức và hành động. Nỗi đau tự tạo: Trăm năm khơi
một nguồn đau tự mình, trở thành đời sống thứ nhì, hướng về căn cước của sáng
tạo: cái chết.
Đi vơ vất
giữa đêm trường ngơ ngác
Tìm xương
thịt để trở về nhập xác
Ta rùng mình
hun hút gió tha ma
Trong mê
cuồng ta gặp chính hồn ta.
Đã Hàn Mạc
Tử, rồi một Đinh Hùng, giờ đến Phạm Tăng, kết tinh niềm đau đến mức thượng
thừa, thác loạn:
Ôi Thượng
Đế! Tôi vô cùng đau khổ
Sao sinh tôi
cùng một thuở sinh em.
Thổi linh
hồn, cát bụi chắp nên duyên
Yêu tuyệt
đối, nên căm hờn vĩnh viễn.
Từ sự cách
biệt âm dương, xa lìa thân xác, phát xuất niềm đau. Tuyệt đối. Edgar Poe. Nhưng
cũng chính từ niềm đau tuyệt đối đó, người nghệ sĩ khám phá chân lý. Chân lý
lóe sáng như một trực giác, một niết bàn, một Poe-Phật:
Anh chợt
hiểu ra
Mộ cũ ngày
xưa
Chỉ là nơi
em trút bỏ thân hình
Để sát nhập
vào anh
Kết tình
thương làm một.
Chết có
nghĩa là thay hình bỏ lốt
Cho tâm linh
nhẹ gánh thịt xương
Hình hài ta
nay là cát bụi vướng trên đường
Làm mờ ám
chân tâm thanh khiết.
...
Giũ thân xác
để linh hồn hợp nhất
Em còn
đây
và sát nhập
trong anh...
Sự thức tỉnh
kể như toàn diện, vì từ nay, không cần tìm nữa: em chính là Tâm, mà Tâm chính
là em: Đi tìm đâu nào biết ở trong Tâm?
- Sự thức tỉnh không chỉ ở mức độ âm dương sát nhập, giao hòa, mà còn đến cả
với vũ trụ vi tinh, vi thể. Hình ảnh giao duyên "mắt sao" lạ và đẹp.
Họa sĩ lồng sao trong mắt, lồng mắt trong vũ trụ, tỏa cái nhìn phổ quát, hòa
đồng tinh thể và con người, hòa con người với bao la vũ trụ. Trong bối cảnh tâm
- thân - vũ - trụ hợp nhất, không rõ đâu là vật thể, đâu là khách thể. Tất cả
bật ra một dấu hỏi: Sao? Âm vang phiếm định, hư vô, huyền bí, mà chung nhất,
bởi trong - ngoài - có - không, từ thuở tiên thiên vẫn chỉ là một:
Tưởng đâu vũ
trụ vô hình
Cớ sao thao
thức như mình trắng đêm?
Vòm cao thăm
thẳm vô biên
Có sâu hơn
chốn u huyền trong ta?
Trong ngoài
- cách một lần da
Sao hơi thở
vẫn chan hòa chuyển thông?
Bên ngoài
lẫn với bên trong
Mắt sao hay
mắt mình trông lại mình?
Ta - sao,
đồng cảm đồng tình
Cả hai chung
một cái mình bao la.
Tuy nhiên sự
xác định không có trong thơ. Thơ chỉ là phiếm định và những dấu hỏi. Người nghệ
sĩ đặt những câu hỏi từ đầu đời đến cuối đời. Không lời giải đáp.
Khi chưa
xương thịt, nơi nào ngụ?
Đến lúc tàn
tro, có chốn bay?
Mà nghệ
thuật cũng chỉ là một dấu hỏi. Nói thế không sợ phật ý Phạm Tăng, bởi chính nhà
thơ báo trước với chúng ta:
Những lời
thơ, thực là thơ
Chưa từng
viết, chẳng bao giờ viết nên
Như lời
nguyện ước không tên
Ở ngoài sự
vật, bên trên cuộc đời.
Phải chăng
đây là một trong những định nghĩa sâu xa nhất của thi ca nói riêng, và của nghệ
thuật nói chung? Mà chỉ những nghệ sĩ đã "xoáy từng nét bút"
"khoan sâu từng lời" mới cảm thấy những mịt mùng, bấp bênh, chênh
vênh, vô thường trong sáng tạo.
* Thụy Khuê.

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire