Một Trung Quốc Hiếu Chiến Hơn Bao Giờ * Trịnh Khải Nguyên Chương


Hải quân Trung Quốc đang thao diễn tại biển Đông Hoa, 5/2019. (Ảnh Reuters)

Mấy tháng qua từ khi đại dịch COVID-19 xuất phát từ Vũ Hán, theo nhận xét chung của giới quan sát chính trị quốc tế, các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày nay thay vì hiểu biết và trở nên hòa hoãn với các quốc gia

khác trên thế giới thì họ lại có thái độ trái ngược đáng ngạc nhiên là càng lúc càng hung hăng. Họ lớn tiếng khoe khoang thành tích ưu việt của hệ thống cai trị và điều hành quốc gia trong trận chiến chống vi khuẩn mới Corona; họ tung ra thuyết âm mưu quy kết chính Hoa Kỳ là quốc gia gây nên trận đại dịch mà con số tử vong trên thế giới đã lên đến mức khủng khiếp không ai tiên đoán nổi, và có thể bùng nổ đợt hai vào những ngày sắp tới; họ theo đuổi chính sách ngoại giao “wolf warrior / chiến sĩ sói,” bằng các phương tiện truyền thông và mạng xã hội, công kích thành quả yếu kém của Hoa Kỳ và thế giới vì đã không có những phương án hiệu quả thanh trừ chứng dịch bệnh nguy hiểm; họ gia tăng cường độ tập trận trên biển Nam Hoa gần những hòn đảo nhân tạo cưỡng chiếm từ các quốc gia khác trong vùng; họ gây hấn và tạo những cuộc giao tranh nhỏ với Ấn Độ tại vùng biên giới núi cao giữa hai quốc gia khiến cả chục quân nhân Ấn thiệt mạng (và chắc chắn một số không nhỏ quân nhân phía họ). Và, mặc dù phản ứng của thế giới là khá gay gắt – Quốc hội Hoa Kỳ bỏ phiếu thuận sắc luật trừng phạt kinh tế – nhưng họ vẫn ban hành luật an ninh quốc gia áp đặt lên Hong Kong.

Tất cả cho thấy một Trung Quốc ngày nay hiếu chiến hơn bao giờ.

Ngược dòng lịch sử, sau những thất bại to lớn của Đại Nhảy Vọt và Cách Mạng Văn Hóa do Mao Trạch Đông chủ động thúc đẩy, Trung Quốc cuối thập niên 70 lâm vào tình trạng “không cải cách thì chết,” mà chính các nhà lãnh đạo Bắc Kinh lúc đó cũng phải công nhận. Sau khi Mao qua đời, trong cương vị “Tổng thiết kế sư,” Đặng Tiểu Bình đã khôn ngoan và táo bạo thực hiện những thay đổi sâu rộng từ thôn quê đến thành thị dựa trên tám chữ “đối nội cải cách, đối ngoại mở cửa” để cứu nguy. Không tròn 40 năm sau, Trung Quốc nghiễm nhiên trở thành một siêu cường kinh tế, quân sự trên thế giới và điều tất yếu xảy ra là Trung Quốc tìm kiếm mọi cách hòng thay thế Hoa Kỳ như một quốc gia kinh tế hàng đầu với tất cả những tiến bộ sản xuất, khoa học, kỹ thuật. Tham vọng trước mắt trong vòng hai, ba mươi năm tới của Trung Quốc là trở thành quốc gia bá chủ toàn vùng Đông Á, và muốn được như thế, họ phải đẩy lui Hoa Kỳ về vùng biển phía đông quần đảo Hawaii.

Theo đại kế hoạch của Lưu Hoa Thanh thì Trung Quốc sẽ đi những bước tiệm tiến để đạt mục tiêu đó. Gần đây Bắc Kinh bắt đầu gia tăng nỗ lực khai thác những kẽ hở của các quốc gia tự do dân chủ trên thế giới hầu gây ảnh hưởng lên chính sách của những quốc gia này theo đường hướng có lợi cho mình. Đường dài, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh hy vọng họ có thể gây chia rẽ, tạo xáo trộn làm suy yếu các nền dân chủ, đồng thời phô trương tính ưu việt của chế độ Xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc, để các quốc gia này từ bỏ liên minh với Hoa Kỳ, hay cao lắm, chỉ còn là một liên minh lỏng lẻo, yếu ớt.

Ít nhất đó là giấc mơ của Tập Cận Bình. Nhưng mơ là một chuyện, thực hiện được hay không lại là chuyện khác. Hiển nhiên, Trung Quốc ngày nay mạnh lên rất nhiều, cả mặt kinh tế lẫn quân sự, so với thời của Mao cách đây nửa thế kỷ, nhưng không phải vì thế mà Trung Quốc không có những điểm yếu như: nền kinh tế bắt đầu chậm lại; một dân số già nua; và một hệ thống cai trị dựa trên nghị quyết của Trung ương Đảng chứ không phải sự đồng thuận tự do của nhân dân. Những nhược điểm này sẽ gây khó khăn không ít cho những kế hoạch của tập đoàn lãnh đạo, và có thể không cho họ thực hiện sách lược khống chế Hoa Kỳ và toàn cầu theo ý muốn một cách dễ dàng.

Tuy vậy, thật thiếu khôn ngoan nếu Hoa Kỳ và các quốc gia đồng minh không cảnh giác trước thái độ hung hăng của Trung Quốc hiện nay. Theo nhận định chung của giới quan sát quốc tế thì họ phải cứng rắn hơn nữa trong những vụ va chạm hàng hải, phải bảo vệ hơn nữa nền kinh tế quốc gia, và phải đề xuất những biện pháp có hiệu quả nhằm ngăn chặn sự xâm nhập và lũng đoạn của Trung Quốc vào hệ thống xã hội, chính trị của họ.

Thuần túy phòng ngự ở thế thủ sẽ không đủ để chống đỡ mối hiểm họa. Một sách lược hiệu quả phải bao gồm cả thế công lẫn thế thủ; thay vì chỉ phản ứng một cách thụ động hoặc đem sức mạnh tương đương ra chống đỡ, cần điều nghiên để tìm ra và khai thác những nhược điểm của chế độ Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Biện pháp thủ chỉ hiệu quả nếu kẻ địch yếu hơn nhiều, nó sẽ không thành công khi đối phó với một kẻ địch mạnh và hung hăng như Trung Quốc.

Người ta có thể hiểu tại sao Trung Quốc ngày nay trở nên hung hăng hơn bao giờ. Tập Cận Bình hành động như thế bởi ông ta nhận ra tình trạng khẩn trương. Hơn ai hết, Tập biết rõ những vấn nạn Trung Quốc đang phải đối phó. Các chiến lược gia ĐCSTQ từ lâu đã nhận thức rằng sức mạnh của Trung Quốc sớm muộn sẽ bị các quốc gia khác phản trọng, tìm cách quân bình trên nhiều bình diện. Nếu việc đó xảy ra quá sớm, Trung Quốc sẽ mất cả thị trường lẫn kỹ thuật cao từ Tây phương, cả hai địa hạt đều góp phần chủ yếu tạo thành sức mạnh của Trung Quốc. Nhưng với quyền lực gần như tuyệt đối trong tay, strong-man Tập Cận Bình chủ trương bành trướng nhanh và mạnh. (Chính sách đối nội cũng như đối ngoại những năm gần đây của Trung Quốc đều mang dấu ấn của Tập, chỉ Tập mà thôi.) Gần biên giới nhà hơn, Bắc Kinh áp dụng chiến lược “chống xâm nhập/ ngăn vùng” [1], đồng thời tăng cường khả năng võ khí nguyên tử nhằm mục đích làm suy yếu tiềm năng bảo vệ an ninh của Hoa Kỳ trong vùng khiến liên minh giữa Hoa Kỳ và các quốc gia tự do dân chủ ở Á Đông bị đe dọa. Nhưng càng xa biên thùy, khả năng quân sự của Trung Quốc càng giới hạn, và họ phải sử dụng đến lá bài kinh tế, ngoại giao, chính trị.

Aucun commentaire: