(5 Bài về Văn Hiến Việt Nam)
I - DẪN NHẬP:
Người dân Việt
- Danh từ Văn Hiến được phổ biến rộng khắp trên toàn quốc từ khi nào?
- Định nghĩa danh từ Văn
Hiến và lý giải của những nhà nghiên cứu Văn Hóa Văn Hiến thời danh. (Bài
Văn Hiến 1)
- Cứu cánh, Nội dung ,Nôi
hàm của danh từ Văn Hiến
- Khẳng định Việt Nam có
5 Ngàn Năm Văn Hiến (Bài Văn Hiến 2).
- Ba phương thế ứng xử của
con người trong dòng sinh mênh Văn Hiến (Bài Văn Hiến 3)
- Văn Hiến và những vấn đề
Thời Đại (Bài Văn Hiến 4)
- Sứ Mạng Kế thừa, Phục Hiến, Phát Huy Văn Hiến
Việt Nam (Bài Văn Hiến 5)
II - DANH TỪ VĂN HIẾN ĐƯỢC PHỔ BIẾN RỘNG KHẮP TRÊN
TOÀN QUỐC TỪ KHI NÀO?
Danh từ Văn Hiến đã có tại
Việt Nam từ xa xưa. Có thể nói ngay từ thời đại các vua Hùng Vương dựng nước, Việt Nam đã là một quốc
Gia văn Hiến. Tuy nhiên từ giới trí thức, đến quần chúng Quốc Dân được biết
đến hay nghe nói đến Văn Hiến là
do 3 sự kiện sau đây:
Một : Thời nhà Hán , chính
Hán Hiến Đế (189- 220) đã phải thừa nhân: "Giao Chỉ là đất Văn Hiến, núi
sông hun đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất
"
Hai: Từ khi vua Thái Tổ nhà
Minh lên ngôi Dịch Tế Dân được phái sang thông hiếu với nước ta, vua Dụ Tông
nhà Trần sai Doãn Thuấn Thuần sang sứ nhà Minh đáp lễ. Vua nhà Minh trong khi ủy
lạo sứ thần nứớc ta ðã khen phong tục, y phục của dân ta vẫn giữ nguyên văn
minh Trung Hoa từ thời nhà Chu và nhà Tống, nhân đó ngự ban cho mấy câu thơ như
sau:
An Nam tế hữu Trần
Phong tục bất Nguyên nhân
Y quan Chu chế độ
Lễ nhạc Tống quần thần
(An Nam có họ Trần
phong tục không theo
Nguyên
áo mũ vẫn theo chế độ nhà
Chu
lễ nhạc vẫn hệt như vua
tôi nhà Tống)
Sau đó vua nhà Minh còn tặng
bốn chữ "Văn Hiến Chi Bang" và thăng địa vị cho sứ thần Đại Việt lên
trên sứ thần Triều Tiên ba cấp. Đồng thời khi sứ thần ta ra về, vua nha Minh lại
sai Ngưu Lượng mang sắc và ấn vàng sang phong thưởng cho vua ta.(1*)
Ba: Sau mười năm chiến thắng
giặc Minh, Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi
quân xâm lược nhà Minh ra khỏi bờ cõi, Ngài bèn cử ông Nguyễn Trãi (138O- 1442)
làm bài "Bình Ngô Ðại cáo"(Báo cáo rộng rãi công việc
bình định giặc Ngô tức quân MInh) vừa để tôn vinh chiến thắng oanh liệt của
quân ta, vừa để nêu cao chính nghĩa Tự chủ
của dân-tộc. Bài Bình Ngô Ðại cáo ấy là
một áng văn tuyệt tác, được coi là bản "thiên cổ hùng văn" của
nước ta, là bản Tuyên Ngôn Độc lập thứ hai sau bài Tuyên Ngôn Độc Lập thứ nhất
"Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư" của Lý Thường Kiệt. Đức Nguyễn Trãi đã mở đầu bài Đại Cáo Bình Ngô như sau:
"Việc nhân nghĩa
cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo
trừ bạo
Chỉ nước Đại Việt ta từ
trước
Mới có nền văn hiến ngàn
năm
Sơn hà cương vực đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên
Mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Nhưng hào kiệt thời nào
cũng có …"
Chiến lược gia đại tài
Nguyễn Trãi đã khẳng định là: “Duy ngã Đại Việt chi quốc, Thực vi văn hiến
chi bang ..” có nghĩa là “ Chỉ có nước Đại Việt ta từ trước, Mới có nền
văn hiến ngàn năm ..!”.
Qua 2 sự kiện 1 và 2 nói
trên,Hán Hiến Đế và Minh Thái Tổ đều
công nhân Nước Việt Nam ta là nước có nền
Văn Hiến lâu đời đầy cao quý (Việt
Nam Văn Hiến chi bang ) Tuy nhiên sự
công nhận này mới chỉ được phổ biến trong giới
chính trị, hay giới nho sĩ trí thức nói chung !
Phải đợi đến sự kiên thứ
ba: Năm 1428 sau khi chiến thắng giặc
Minh, Bài "Bình Ngô Đại Cáo" của Đức Nguyễn Trãi một bản Đại hùng ca tuyên xưng
một cách chính đáng và vô cùng tự hào:
"Chỉ nước Việt ta từ trước
Mới có nền Văn Hiến ngàn năm"
Bài "Bình Ngô Đại
cáo" được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc thấm vào tim óc của hàng triệu con dân đất Việt , lưu truyền cho hằng hằng thế hệ
"Con Rồng Cháu Tiên" muôn thuở về sau....
III - ĐỊNH NGHĨA DANH TỪ VĂN HIẾN VÀ LÝ GIẢI CỦA NHỮNG NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VĂN HIẾN THỜI
DANH:
Những vị nghiên cứu về
Văn Hiến có những lý giải khác nhau hoặc tương tự nhau- có rất nhiều- Trong phạm
vi bài tham luận này, chúng tôi chỉ xin giới thiệu 4 vị tiêu biểu như dưới
đây:
1 - Nhân định của Học
Giả Nguyễn Đăng Thục:
@ Định nghĩa Văn Hiến:
"Nói đến Văn hiến là ngụ ý có văn chương bút ký và người hiền tài, có
công trình xây dựng cho nước, cho dân mà đời sau còn tôn thờ làm Anh hùng Dân tộc".
@ Việt Nam có 4 ngàn năm
Văn Hiến hay không ?
Theo học giả Nguyễn Đăng
Thục muốn xác định Việt Nam có 4 ngàn
năm Văn Hiến chúng ta phải nghiên cứu về cổ sử:phong tục, tập quán và những sắc
thái đặc thù của giống nòi Dân Tộc Việt Nam...
"Theo giáo sư La
Hương Lâm là nhà sử học danh tiếng Trung Quốc hiện đại, trong tác phẩm “Bách Việt
nguyên lưu dữ văn hóa”: Việt tộc thời cổ lấy cắt tóc vẽ mình “bị phát
văn thân” làm dấu hiệu đặc trưng duy nhất. Mặc tử thiên “Cống Mạnh” “Việt vương
Câu Tiễn phát văn thân”. Hàn Phi tử thiên Thuyết lâm: “Lũ vì lý chi dã, nhi Việt
nhân tiện hành, cảo vi quán chi dã, nhi Việt nhân bị phát”: “dép gai làm giầy
mà người Việt đi chân, the lụa làm mũ mà người Việt búi tóc”. “Hán thư địa
lý chí” viết: “Nay Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Châu, Nam Hải,
Nhật Nam đều là địa phận của người Việt, là sau vua Vũ, con thứ vua Thiếu Khang
Đế, được phong ấp ở Cối Kê, vẽ mình cắt tóc để tránh cái hại về giao long, thuồng
luồng, cá sấu”. Tóm lại, các sách cổ Hán văn đều ghi từ kỷ nguyên trước kỷ
nguyên Thiên Chúa, ở phương Nam nước Tàu ngày nay có một giống người có tục vẽ
mình, Văn Lang phân chia ra nhiều bộ lạc mà sử gia giáo thụ La Hương Lâm đã kê
cứu: Ô Việt, Âu Việt, Mân Việt, Dương Việt, Sơn Việt, Nam Việt, Lạc Việt,
Tây Âu Việt, Việt Thường, Đan Việt, Đằng Việt, Điều Việt, Việt Tuỷ, Cứu Việt, Dạ
Lang, Quỳ Việt v.v… Đấy là tổng danh Bách Việt vậy.
Giáo sư L.E.Aurousseau
trường Viễn Đông bác cổ cũng căn cứ cái tục Văn Lang, nghĩa đen là bộ lạc giống
người vẽ mình để truy nguyên nòi giống Việt, căn cứ vào đoạn văn Sử ký sau đây:
“Tiễn phát văn thân thố tí tả nhậm Âu Việt chi dân dã” (Sử ký q.43 tờ 9) Nghĩa
là: “Cắt tóc vẽ mình, khoanh tay, cài bên trái, đấy là tục của dân Âu Việt”.
Và chú giải của Tư Mã Thành rằng: “Họ Lưu bảo ngày nay (đầu thế kỷ thứ VIII)
người quận Châu Nhai và Đàm Nhĩ có Âu Việt”. Trương Thủ Tiết (737) giải thích:
“Tôi nghĩ gọi là Âu Việt bởi vì dân ấy thuộc về Nam Việt. Theo “Dư Địa chí” thì
Giao Chỉ là xứ Lạc Việt thời nhà Chu (841-256 tr.cn), đến thời nhà Tần gọi là
Tây Âu. Vẽ mình, ngắn tóc để tránh rồng (cá sấu). Nếu người ta gọi là Âu Lạc
phía Tây (Tây Âu Lạc) là cũng vì xứ ấy ở về Tây Nam quận Phiên Ngung. Việt với
Âu Lạc đều họ Mi. Thế Bản nói người Việt họ Mi cùng với người Sở một tổ vậy.”
Rồi Aurousseau suy luận rằng:
“Đoạn văn sử ký Tư Mã Thiên với lời chú giải và văn trích dẫn rất đáng chú ý về
nhiều mặt. Những nét phong tục phác họa ở đấy ứng dụng vào cho nhân dân miền Lưỡng
Quảng và Bắc kỳ hiện nay vào thời thế kỷ thứ III thứ II tr.cn. Không có gì phân
biệt giữa nhân dân trên lãnh thổ rộng lớn ấy cả. Điều ấy rất hợp cho các bộ lạc
miền cực Nam là dân An nam tr.cn cho nên có thể kết luận là toàn thể nhân dân tỉnh
Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam là giống người Việt Nam trước thế kỷ II
tr.cn. Một danh từ nhân chủng là Việt chỉ định tổng quát. “Mặt khác, một tên họ
Mi thời ấy được xác nhận cho người Việt, Việt Quảng Đông và Việt Phúc Kiến. Như
vậy có sự quan hệ mật thiết về dòng dõi giữa nhân dân Phúc Kiến và nhân dân các
xứ Việt Nam vào thế kỷ thứ III tr.cn. “Danh từ Việt vào giữa thế kỷ thứ IV trước
kỷ nguyên Thiên Chúa còn ứng dụng cho một nước mà kinh đô ở tại tỉnh Thiệu Hưng
(Triết Giang) ngày nay. Theo tôi hiểu thì nhân dân của nước ấy là nước Đại Việt
thuộc về nòi giống Việt phương Nam tức là giống người Việt Nam vậy."
“Một tác phẩm khác cổ
xưa, chuyên nói về sự suy bại của nước Việt là “Việt tuyệt thư” (thế kỷ I kỷ
nguyên tây lịch) cũng nói ở mục Bản sự rằng: “Vua Việt Câu Tiễn, ở miền
duyên hải phía Đông và cai trị một dân mọi vẽ mình”. Cái tên Việt với tục “văn
thân” giống nhau ấy là xác chứng danh từ Việt phổ thông chỉ định vào thế kỷ
III tr.cn cho toàn thể chủng tộc nhân dân các tỉnh Trung Hoa miền Nam và các xứ
Việt Nam. “Cùng một nhân chủng Việt, cùng một họ Mi và cùng một phong tục, như
vậy phải kết luận rằng người Việt Nam
nguồn gốc ở nước Việt xưa, thiết dựng tại miền Triết Giang từ bao giờ không biết
và, lần đầu thấy ở trong lịch sử chính thức vào cuối thế kỷ IV trước công
nguyên” (L.Aurousseau, La première conquête chinoise des pays Annamite (IIIè siècle
avant notre ère) BEFEO, t.XXIX, 1929).
Vậy có thể nói chắc rằng
thời cổ xưa ở miền Nam nước Trung Hoa có một giống người theo tục vẽ mình gọi
là “Văn thân, Văn Lang” phân biệt với giống người Hán tộc ở trên phía bắc
Trung Hoa, trong lưu vực Hoàng Hà, còn lưu vực Dương Tử kể từ nước Sở trở xuống
là khu vực sinh hoạt của Việt tộc Văn Lang, họ Mi gọi chung là Bách Việt, mà Việt
vương Câu Tiễn ở kinh đô Cối Kê, miền Triết Giang đã từng có một thời đế bá
oanh liệt"
"Hơn nữa chính sử của
ta đều chép về nhà Trần sự kiện sau đây: “Thượng hoàng (Nhân Tông) thường ra ngự
cung Trùng Quang. Vua Anh Tông đến chầu có Quốc Công, Quốc Tuấn đi theo. Thượng
hoàng nói: Dòng nhà ta vốn sống nghề thuyền chài, đời đời hùng dũng ai ai đều
xâm vẽ ở đùi. Đời nọ sang đời kia chuộng võ nghệ nên phải xem xâm vẽ đùi tỏ ra
không quên gốc".
" Với những tài liệu
của sử học và khảo cổ học mới nhất từ hậu bán thế kỷ thứ 20 của học giả đáng
tin cậy, có quan hệ đến cổ sử dân tộc Việt Nam chúng ta có thể tạm kết luận về
“Bốn ngàn năm văn hiến” của nền văn hóa dân tộc. Người ta không còn có
thể hoài nghi về di tích Cổ Loa với tên nỏ bằng đồng và triều đại nhà Thục của
An Dương Vương vào thế kỷ thứ III tr.cn. Như thế thì cũng không có thể phủ nhận
cuộc chinh chiến giữa nhà Hồng Bàng của nước Văn Lang, nước người xâm mình ở di
tích Phùng Nguyên tỉnh Phú Thọ, Yên Bái theo bờ sông Hồng Hà ngày nay. Văn hóa
Phùng Nguyên đã có đồ đồng đặc biệt là cóng bằng đồng với hình thuyền và người
chim trạm trước văn hóa Đông Sơn với đặc trưng biểu hiệu của Trống đồng. Đồ đồng
ở đây có trước Trung Hoa 1000 năm, vậy thì Văn Lang, Hồng Bàng hay Lạc Việt
ít ra phải có trên 4000 năm văn hiến kể tới nay.
Đặc biệt với tinh thần
truyền thống dân tộc là cái Trống đồng tiêu biểu cho nền văn hóa Đông Sơn Việt
Nam đã từ một dụng cụ kỹ thuật biến thành một đối tượng tín ngưỡng tôn giáo Quốc
gia như là một vị Thần linh. Quốc tổ bắt đầu với triều Lý để thành cái Quốc lễ
long trọng hàng năm triều đình, từ Vua đến các quan chức đến trước Thần Núi Trống
đồng “Đồng cổ sơn thần” để thề trung thành với tổ quốc.
Còn một chứng cứ lịch sử
quý hiếm khác đó là lời khắc trên tấm bia đá dựng tại chùa Tam Thai Bắc Việt. Lời
bia dịch ra như sau:
“Trải qua các thế hệ
chúng ta đã kính thờ thần Đồng cổ. Tiền nhân truyền lại cho chúng ta biết rằng
vào thời Hùng Vương (265 tr.cn) nhà vua có cầm quyền dẹp giặc, và dưới triều
vua Lý (1028-1253) để thuần phong mỹ tục nhà vua có lập tòa án để phạt kẻ phạm
phép. Sơn Thần Đồng cổ là đệ nhất Thượng đẳng Thần cai quản thế gian và bảo vệ
hòa bình, nhân loại. Nhờ những công lao phò trợ ấy mà các Đế vương các triều đại
đã ban sắc phong cho Thần. Danh tiếng của Thần được lan truyền từ ba bốn ngàn
năm nay, do đấy mà nhân dân sâu lắng chúng tôi đều muốn phụng thờ Thần linh quyền
năng siêu việt”. Đấy là nét trọng yếu Thần đạo và Phật đạo, Đình với Chùa hợp
nhất dung thông trong tin tưởng vào một nước”Bốn ngàn năm văn hiến” mà
nhân dân Việt Nam ngày nay đòi trở về nguồn tổ Hùng Vương để biểu dương tinh thần
dân tộc bất diệt vậy. (2*)
2 - Quan điểm của
linh mục triết gia Kim Định:
Những điều kiện để một nước
thành "Văn Hiến Chi Bang":
Cái làm nên một dân tộc
là bộ sách của dân tộc ấy. Thiếu bộ sách nọ không thể có dân tộc trung thực mà
chỉ là một đoàn lũ chung sống với nhau trên cùng một mảnh đất với những liên hệ
chính trị, kinh tế, binh bị… Phải có sách mới thực có yếu tố trường tồn làm như
sợi dây nối các thế hệ xưa với hiện nay thành một thực thể thống nhất về tinh
thần, có vậy mới là dân tộc đích thực. Sách càng lớn dân tộc càng to. Nhưng
sách lớn không đo bằng số lượng mà bằng mức độ tâm linh được tàng ẩn trong sách
và làm như linh hồn sống động của dân, nghĩa là bao nhiêu những việc quan trọng
của con người trong nước đều quy chiếu vào đó như trung tâm; càng giàu chất tâm
linh sách càng lớn lao và dân tộc càng vĩ đại, vĩ đại đến cấp siêu việt thì nước
được gọi là có văn hiến (văn hiến chi bang). Như vậy muốn được gọi là văn hiến
thì phải có những văn kiện cao quý, cao quý đến độ khiến được những phần tử
tinh anh trong dân hi hiến thân tâm mình cho cái văn đó. Những người này vì thế
gọi là hi hiền, hi thánh hay là “hiền nhân quân tử”. Nói vắn tắt muốn nước là
“văn hiến chi bang” thì nước phải có Văn và Hiến (hiến tức hiền). Vậy xin hỏi
Việt tộc có sách chăng? Có đáng gọi là dân tộc chăng? Thưa không mà có. Không
vì chưa có văn tự riêng, đã không chữ viết thì lấy gì mà có sách. Nhưng vậy mà
lại có, đó là những “Kinh vô tự” tức những văn kiện được biểu hiện bằng
dăm ba bộ số với một mớ huyền thoại và vô số tục ngữ ca dao. Các số này gọi là
huyền số, nó không dùng để đo đếm mà dùng để biểu thị cái khác vì vậy chúng làm
nên những tiêu điểm khách quan nhưng câm nín nên cần đến những huyền thoại làm
như những lời nói lên ý nghĩa. Vậy tuy không có chữ nhưng còn có truyền khẩu mà
nội dung là huyền thoại nên kể là có. Hỏi chỉ có số như vậy có đủ giá trị
chăng? Thưa quá đủ vì đây đang nói về giá trị văn hóa thuộc tinh thần. Mà
tinh thần đi ngược với vật chất. Với vật chất càng to càng hay. Còn với tinh thần
thì càng bé càng quý: bé cho đến số Không thì quý vô cùng. Vì thế tất cả các
triết lý Đông phương đều đặt nền trên chữ Không. Ấn Độ là Thái Hư, Lão Tử là Cốc
Thần (hang trống), Nho là vô thanh vô xú, Việt là Trống (trong chữ trống đồng)
muốn nói bằng Nho thì đó là Hư Tâm, cũng là hư linh tức cái tâm có hư có trống
rỗng thì mới đạt được linh thiêng. Tóm lại tất cả đều đặt quan trọng và chữ
Không, nên giá trị phải tim về phía đó, và đó là bí quyết làm cho nước nên văn
hiến, tức là có nền văn hóa giàu chất tâm linh. Để nói lên điều nọ
chúng ta có thể dùng bảng Tứ Linh làm thí dụ để biểu lộ quan niệm linh thiêng của
Việt Nho nằm trong chỗ hư tâm. (Hinh vẽ Bảng Tứ Linh) Xem bảng tứ linh ta thấy
con người được đặt vào giữa bốn con vật: hai con dương có lông là Phượng và Lân
(Lân là lông mao, Phượng là lông vũ) hai con âm có vảy là Li và Quy: Li là rồng
vàng không có ngà nhưng có vảy, còn Quy thì có mu. Con người ở giữa không có mu
không có vảy, không có lông vũ cũng chẳng có lông mao hoàn toàn khoả thân: tức
là trần trụi (Need II, 269). Chính nhờ chỗ trần trụi đó mà người được làm chủ tịch
4 con vật linh kia. Bốn con đã linh mà con người còn linh hơn gọi là “nhân linh
ư vạn vật”. Ấy chỉ vì chữ khỏa. Nhân vật điển hình trong vụ này là Chử Đồng Tử,
không có cả đến cái khố, nhờ vậy mà Chử Đồng Tử đứng vào hàng hi thánh hi hiền
tức là những cột trụ cho văn hiến. Đó là nhờ đã trút bỏ hết những cái thuộc trần
trược. Trở lại bộ sách dân tộc xin hỏi có bao nhiêu sách và những sách nào? Hãy
nhắc lại: các sách Việt toàn là kinh không chữ chỉ biểu hiện bằng bộ số vài
ba. Sau khi nghiên cứu mới thấy bộ số đó quả là một thứ con chấm chủ quyền đã
đóng vào vô số văn kiện, điển chương, lược đồ, di vật, hiện vật, nên có thể nói
đó là bấy nhiêu sách dân tộc. Tuy nhiên vì con chấm đóng hẳn xuống nghĩa là biến
dạng nhiều cách nên khó nhận diện, chỉ sau khi đọc toàn bộ mới thấy rõ. Ỡ đây
xin kể tạm vài ba quyển thôi, một là sách ước gậy thần của Hùng Vương, hai là
sách Tản Viên Ba Vì, ba là Lạc Thư, tất cả đều thành bởi 4 bộ số 2-3, 5, 9. Đó
là những sách có tên. Còn không tên thì vô số: như cái trống, cái đình, cái nhà
sàn, cái giếng và vô số vật dụng khác đều hàm tàng các số 2-3, đôi khi cả 5, 9
nữa. Cũng phải kể tới những huyền thoại mà nét đặc trưng là vắn tắt hết sức chỉ
một vài dòng như truyện “Nữ Thần Mộc dậy anh em Lộ Bàn, Lộ Bộc biết làm nhà chữ
Đinh”, vắn tắt có thế nhưng ý nghĩa lại bao la vô tận. Quả đúng như câu châm
ngôn triết “nội hàm càng nhỏ ngoại hàm càng to”. Nội hàm rút vào cùng cực thì tỏa
ra cũng cùng cực. Nội hàm rút vào còn có một chữ Trống thì tỏa ra man vàn. Viết
cả một quyển lớn về trống đồng vẫn thấy chưa nói hết. Nhưng nhiều tới đâu cũng
vẫn giữ mối liên hệ ngầm làm nên một cái quán triệt nội tại rất mạnh nói được
là có tính cách cơ thể. Trong các kinh vô tự phải kể đến quyển Kinh Dịch. Vì nó
có một địa vị đặc biệt ở chỗ có chân trên cả hai bình diện là văn và tự, tức vừa
vô tự là không có chữ mà chỉ có số, vì thế gọi là văn; vừa có chữ nên gọi là tự
(là các hệ từ). Truy tầm theo lối sinh thành thì thấy Kinh Dịch có đến 5 giai
đoạn (theo tam phần thư). Giai đoạn 1 là Dịch thiên nhiên hay đạo Dịch của Trời
Đất tức hồn Dịch gặp được trong các NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ MỘT NƯỚC THÀNH “VĂN HIẾN
CHI BANG" (3*)
3 - Nhận định của học
giả Hà Văn thùy (4*)
"Văn Hiến là gì?
Văn hiến thuần túy là
khái niệm phương Đông, tồn tại trong môi trường văn hóa Hoa-Việt. Vì vậy, muốn
tìm nghĩa của Văn hiến, cần phải tra cứu cổ thư. Nhiều học giả cho rằng, từ Văn
hiến xuất hiện sớm nhất trong thiên Bát dật sách Luận ngữ: “Tử viết: Hạ lễ, ngô
năng ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã; Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc
trưng dã; văn hiến bất túc cố dã ” (子曰夏禮吾能言之杞不足徴也殷禮吾能言之宋不足徴也文獻不足故也 ). Dịch nghĩa:
“Lễ nhà Hạ thì ta có thể bàn được, nhưng nước Kỷ chẳng đủ để làm chứng; lễ của
nhà Ân, thì ta cũng bàn được, nhưng nước Tống chẳng đủ để làm chứng. Ấy là vì
văn hiến hai nước ấy không đủ” (nước Kỷ là dòng dõi nhà Hạ, nước Tống là dòng
dõi nhà Ân). Từ câu nói của Khổng tử toát lên hai nghĩa:
i . Khoảng 2500 năm TCN, Văn hiến đã là chữ dùng quen thuộc nên khi
nói, Khổng Tử không cần phải thích nghĩa vì người có học đều hiểu.
ii. Trong một câu ngắn, Khổng Tử hai lần nhắc tới chữ Lễ.
Rằng ngài có thể bàn về Lễ của nhà Hạ và nhà Ân nhưng không thể lấy hậu duệ của
hai nước này ra để chứng minh vì lẽ văn hiến của hai nước ấy
không thể đại diện được! Lễ ở hai nước Kỷ và Tống không còn như xưa chứng tỏ văn
hiến của hai nước này thiếu hụt. Điều đó chứng tỏ Khổng Tử quan niệm Lễ
là Văn hiến
Nhưng gần hai nghìn năm sau, vào đời Tống, khi chú thích lời Khổng Tử, Chu
Hy giảng: “Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã 文典籍也獻賢也, (văn là điển tịch;
hiến là người hiền vậy)”. Rõ ràng, khi giảng
như thế, Chu Hy đã hiểu khác lời của Khổng Tử. Khi nói tới Lễ là Khổng Tử nói tới
mối quan hệ nhân luân giữa con người trong xã hội cũng như con người với thiên
nhiên trong đó có thần minh. Chính mối quan hệ hài hòa có tôn ty được gọi là Lễ
ấy làm nên Văn hiến. Khổng Tử đánh giá rất cao vai trò của Lễ. Trong Ngũ thường Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, ông đặt Lễ ở trung tâm. Bốn yếu tố Nhân,
Nghĩa, Trí, Tín khi đứng riêng, không được thể hiện, là những điều vô nghĩa. Chỉ
khi thể hiện ra bằng Lễ, tức là hành động, nó mới có giá trị.
Cũng vì vậy, Ngài soạn riêng kinh Lễ. Khổng Tử không cho văn là điển tịch vì
nhà Hạ chưa có chữ, còn nhà Ân chữ cũng mới xuất hiện nên chưa thể thành điển tịch.
Hiến cũng chưa mang nghĩa hiền tài. Ta có thể hiểu cách giảng của Chu Hy bởi sống
sau Khổng Tử gần 2000 năm, điển tịch đã nhiều, hiền tài cũng lắm. Mặt khác, lúc
này chính điển tịch và hiền tài đang làm nên văn hiến vì vậy ông “hiện đại hóa”
phát ngôn của Khổng Tử!"
4 - Nhân định của học giả Hán Nôm Trần Trọng Dương:
Từ nguyên của từ "văn Hiến" qua bối cảnh trí thức Nho giáo Việt Nam- Trung Hoa (5*)
“Văn hiến” là khái niệm trước nay hay được sử dụng trong nhiều công trình
nghiên cứu, nhất là nghiên cứu về lịch sử văn hóa Việt Nam thời Trung đại. Đây
là một thuật ngữ của Nho gia có lẽ đã được sử dụng tại Việt Nam trong gần hai
thiên niên kỷ qua. Mục đích của bài viết xuất phát từ quan niệm: khi nghiên cứu
bất cứ một lĩnh vực nào thì người nghiên cứu nên tự đặt mình vào bối cảnh thời
đại cũng như bối cảnh tri thức của thời đại đó, tộc người đó. Điều này sẽ giúp
chúng ta có được cái nhìn từ bên trong, tránh đi lối nhìn đã “hiện đại hóa” của
đời sau. Chính vì vậy, bài viết sẽ khảo về từ nguyên của “văn hiến” để ngõ hầu
lý giải được phần nào nội hàm của khái niệm này trong quá khứ từ đó góp phần
vào việc nghiên cứu văn hiến nói riêng và văn hóa truyền thống nói chung.
Bài viết tiến hành khảo cứu về khái niệm văn hiến theo chiều lịch đại.
Phương pháp khảo cứu của chúng tôi gồm các bước sau. Bước thứ nhất, khảo về
cách hiểu về văn hiến qua ghi nhận của các từ điển được biên soạn sau khi Nho học
bị bãi bỏ. Bước thứ hai, khảo khái niệm văn hiến trong bối cảnh văn hóa và ngôn
ngữ của tiếng Hán, từ đó nhằm phân biệt nội hàm của khái niệm này giữa tiếng Việt
và tiếng Hán. Bước thứ ba, khảo về khái niệm này thông qua sự ghi nhận của hệ
thống từ điển và văn liệu của tiếng Việt lịch sử. Bước thứ tư, khảo về các văn
cảnh của Hán văn Việt Nam (qua các tư liệu sử ký, văn bia đề danh tiến sĩ, văn
sách đình đối, và các văn bản nghệ thuật khác), để từ đó phân suất các trường
nghĩa của khái niệm này từ bối cảnh tri thức Nho học.
1 . Từ cách hiểu về “văn hiến” sau khi Nho học bị bãi bỏ.
Văn hiến là từ vựng gốc Hán, được viết bằng tự dạng 文獻. Kể từ sau khi Nho học bị bãi bỏ ở Việt Nam
năm 1919, và nhất là kể từ sau khi chữ Hán chữ Nôm bị thay thế hoàn toàn vào
năm 1945, thì văn hiến cùng những từ gốc Hán khác đã chịu chung một số phận. Đó
là sự cắt đoạn rời khỏi lịch sử vốn có của nó. Thêm nữa, việc cắt rời ấy đã khiến
cho ngành từ nguyên học gặp rất nhiều khó khăn; ấy là chưa kể đến những thất
thiệt khác cho sự đọc hiểu và nghiên cứu về tiếng Việt. Mục này, bài viết sẽ tiến
hành khảo lại các định nghĩa của một số từ điển tiếng Việt được biên soạn trong
thế kỷ XX, để hiểu thêm về lịch sử các cách định nghĩa cho khái niệm này.
Đại từ điển tiếng Việt (2008) kế thừa và bổ sung “văn hiến: dt. Truyền
thống văn hóa lâu đời, có nhiều nhân tài.”[6*] Từ điển từ Hán Việt (2007) của
Lại Cao Nguyện và Phan Văn Các và Từ điển tiếng Việt (2007) của Trung tâm từ điển
ghi: “văn hiến.t.d. truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp” [7*]. Từ điển
bách khoa Việt Nam (2003) ghi: “văn hiến. truyền thống văn hoá tốt đẹp và
lâu đời. Chu Hy đời Tống chú thích một câu trong sách “Luận ngữ” như sau: “Văn
là điển tịch; hiến là tốt đẹp, tài giỏi” (sic). Như vậy, “văn hiến” nguyên
nghĩa là văn chương, sách vở hay, bảo tồn truyền thống văn hoá lâu đời.” [8*]
Từ điển tiếng Việt (2000) của Viện Ngôn ngữ học ghi: “văn hiến d.truyền thống
văn hóa lâu đời và tốt đẹp.” [9*] Từ điển tiếng Việt (tb lần 2, 1977) do
Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý bổ sung ghi: “văn hiến.t. Cg. Văn vật.
Yêu chuộng văn học, văn hóa: Việt Nam là nước văn hiến” [10*] Từ điển Hán
Việt từ nguyên (1999) của Bửu Kế ghi: “văn hiến. văn: sách sử. Hiến: kẻ hiền
tài…Một nước có nhiều hiền tài có sử sách thì gọi là nước văn hiến” [11*].
Tự điển Việt Nam của Ban Thu thư Khai trí (1971) ghi văn hiến cũng như văn
minh. [12*] Từ điển Việt Nam phổ thông (1951) của Đào Văn Tập, sau ghi giải
thích đúng từ nguyên chữ văn hiến, lại phân suất nghĩa thành: “chỉ những cái
hay trong một đời, đáng làm gương mẫu” [13*]. Việt Nam tân từ điển (1951) của
Thanh Nghị ghi: “văn hiến.d. sách vở hay và nhân vật tốt, nghĩa rộng như tiếng
văn minh: nghìn năm văn hiến.”[14*] Tự điển Việt- Hoa- Pháp (1937) của
Gustave Hue ghi nhận văn hiến = văn minh[15*]. Hán Việt từ điển giản yếu
(1932) của Đào Duy Anh ghi: “văn hiến: sách vở và nhân vật tốt trong một đời.”[16*]
Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai trí Tiến đức ghi: “văn hiến文憲.học hành, hiền đức. Nơi văn hiến”
[17*]. Tuy nhiên, chữ Hán chế bản sai do đồng âm, 獻nhầm thành 憲. Đây là cuốn
từ điển sớm nhất có mục từ này. Các từ điển của A.de Rhodes (1651) cho đến
Huình Tịnh Của (1898) đều không thấy ghi nhận.
Có thể nói, các từ điển tiếng Việt hiện đại chỉ phân suất khái niệm này với
một nét nghĩa chung chung mơ hồ. Đặc biệt là sự không phân biệt rạch ròi giữa
khái niệm văn hóa và văn hiến, coi văn hiến là nền văn hóa tốt đẹp được kéo
dài. Gần đây, để kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, bộ sách “Tổng tập
Nghìn năm văn hiến Thăng Long” đã được ấn bản với số lượng trang sách lên đến
8000 trang, trong đó tinh thần làm việc của các soạn giả đều bàng bạc một sự mơ
hồ về khái niệm.
Có tác giả, mặc dù sau khi đã bàn qua về từ nguyên của khái niệm văn hiến vẫn
sẵn sàng quy tất cả những lĩnh vực như toán học, kiến trúc, thương nghiệp,
nghề truyền thống, thiết kế đô thị, và…tinh thần yêu nước vào nội hàm của văn
hiến[18*]. Hơn thế nữa, cách hiểu ôm đồm ấy còn dẫn đến việc tác giả dùng
các khái niệm (văn hiến, văn minh, văn hóa, văn vật,…) một cách lẫn lộn theo cảm
hứng và xúc cảm của người cầm bút.
Năm 1998, Đỗ Trọng Huề đã định nghĩa như sau: “Văn hiến là trình độ văn
hóa của một dân tộc đã thoát khỏi bóng tối của thời tiền sử để bước vào ánh
sáng của thời kỳ lịch sử”[19*].
Đặc biệt, trước đó, văn hiến còn được triết gia Kim Định sáng tạo theo
phong cách tư duy triết học của mình, bất kể sự thực lịch sử và những giới hạn
cho phép của từ nguyên học cũng như văn hóa học và lịch sử tư tưởng. Ông viết:
“Văn hiến là những người hy hiến thân tâm cho văn hóa và được người trong nước
kính nể nghe theo. Đó là một loại tông đồ và có thể nói ở đây cũng tìm ra được
nét đặc trưng của nền văn hóa Việt Nho. Bên Ấn Độ tuy cũng có văn hiến nhưng
không vươn lên đến địa vị cao nhất trong xã hội vẫn dành cho tăng lữ Brahmana.
Bên Âu Châu còn kém nữa đến độ không có văn hiến, chỉ mới có văn hào, văn sĩ.”
[20*] Cách định nghĩa của Kim Định xuất phát từ cách ông hiểu về nguyên tự của
văn hiến. Ông hiểu văn là văn hóa (theo nghĩa rộng và khá hiện đại), và hiến là
hy hiến (hy trong từ hy sinh, hiến với nghĩa cơ bản của nó trong tiếng Hán là
dâng hiến). Ông coi văn hiến là một danh từ trỏ người (người hy hiến, như văn
hào, văn sĩ), chứng tỏ ông cũng từng biết đến nét nghĩa nguyên gốc thứ hai mà cổ
nhân hiểu (hiến còn trỏ hiền nhân). Nhưng tư duy tư biện của ông quá mạnh!
Có thể nói, văn hiến là một khái niệm đến nay khá mơ hồ đối với người hiện
đại, nhất là khi nó được so sánh với một số khái niệm khác như văn hóa[21*],
văn minh [22*], văn vật [23*]. Thực tế, những thuật ngữ cơ bản trên của
ngành văn hóa học đều xuất phát từ kinh điển Nho giáo. Nguyễn Vinh Phúc nói “Phương
Tây không có khái niệm văn hiến. Chỉ ở Việt Nam, Trung Quốc và những nước chịu ảnh
hưởng của Nho giáo mới có khái niệm này”[24*] là hoàn toàn hữu lý.
Như trên đã bàn, văn hiến là một thuật ngữ của Nho gia, thuật ngữ này đã đi
vào hệ thống từ vựng tiếng Việt khá sâu. Sâu đến mức nhiều người Việt (quãng gần
100 năm trở lại đây) dường như đã quên hẳn ý nghĩa từ nguyên của nó vốn được
dùng trong quãng thời gian rất dài. Đây là một ví dụ cho thấy sự đứt gãy văn
hóa do từ bỏ văn tự truyền thống (chữ Hán và chữ Nôm, và nhiều văn tự truyền thống
khác).
Chúng tôi cho rằng từ văn hiến đã gia nhập vào Việt Nam từ trước đây khá
lâu. Nếu theo lý thuyết, thì chữ này có thể được đưa vào nước ta cùng với kinh
sách của Nho học cách nay 2000 năm, ít nhất từ thời Sĩ Nhiếp. Nhưng từ văn
hiến thực sự là một yếu tố của tiếng Việt thì có lẽ chỉ trong khoảng 1200 năm
trở lại đây[25*]. Để xác định được thời điểm gia nhập của nó, chúng ta có
thể tiến hành khảo cứu theo hai hướng. Hướng thứ nhất là tìm được ngữ liệu cụ
thể của nó trong một văn bản tiếng Việt qua các văn bản Nôm. Hướng thứ hai là
tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong văn bản Hán văn Việt Nam. Nhưng trước khi
thực hiện những khảo cứu trên, bài viết sẽ tiến hành nghiên cứu về khái niệm
này trong lịch sử tiếng Hán và văn hóa Hán.
2 . Khái niệm văn hiến trong lịch sử tiếng Hán
2. 1.Sách Luận ngữ thiên Bát dật có đoạn: Tử viết: Hạ lễ, ngô năng
ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã; Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng dã;
văn hiến bất túc cố dã” 子曰夏禮吾能言之杞不足徴也殷禮吾能言之宋不足徴也文獻不足故也 nghĩa là “Lễ nhà Hạ thì ta có thể bàn được, nhưng nước Kỷ (dòng dõi nhà
Hạ) chẳng đủ để làm chứng; lễ của nhà Ân, thì ta cũng bàn được, nhưng nước Tống
(dòng dõi nhà Ân) chẳng đủ để làm chứng. Ấy là vì văn hiến hai nước ấy
không đủ”. Chu Hy chú: Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã 文典籍也獻賢也[26*] nghĩa là: văn là điển tịch; hiến là người
hiền vậy.
Đoạn này cho thấy ý rất quan trọng về văn hiến. Trong đó, ta nên chú ý đến
mối quan hệ giữa văn hiến và lễ. Cộng với lời chú của Chu Hy thì ta có thể có
tam đoạn luận sau:
Đoạn 1: Văn hiến = lễ
Đoạn 2: Văn = điển tịch ; Hiến = người hiền
Đoạn 3 Văn hiến = điển tịch (ghi chép về lễ) + người hiền (người chế lễ,
hành lễ)
Đây có thể coi là nghĩa nguyên bản nhất của từ văn hiến từ bối cảnh tri thức
của Nho học Trung Quốc, và cũng có thể coi đây là khái niệm trùng khít giữa Nho
học Tiên Tần và Tân Nho học.
2.2. Sách Vũ cống đồi chỉ 禹貢錐指(quyển 19) của Hồ Vịnh đời Thanh: “自兩漢以降嶺南之風氣漸移犀象毒冒珠璣銀銅果布之湊於是乎在魁奇忠信材徳之民於是乎生一以為脂膏之地一以為文獻之邦 nghĩa là “từ đời lưỡng Hán về sau, phong khí Lĩnh Nam[27*] dần đổi;
cho nên sừng tê, ngà voi, đồi mồi, ngọc bích, vàng, đồng, hoa trái tích tụ đã
nhiều; mà những bậc khôi kỳ, trung tín, tài đức xuất hiện cũng lắm, có thể coi
[Lĩnh Nam] vừa là đất màu mỡ, vừa là nước văn hiến.”[28*]
Đoạn này nhấn mạnh đến nhân vật – yếu tố chủ thể làm nên văn hiến của một
đất nước. Nhân vật đó phải là bậc khôi kỳ, có đức trung tín và tài năng theo
quan niệm của Nho giáo.
2.3. Từ điển Từ nguyên – cuốn từ điển phổ dụng được soạn vào đầu thế kỷ XX,
đã giải thích trên cơ sở định nghĩa của Chu Hy, nên đã viết: “văn trỏ những
tư liệu văn tự liên quan đến điển chương chế độ, hiến trỏ những người nghe rộng
biết nhiều” [tr.0737].
Cách định nghĩa trên đây của từ điển Từ nguyên là tiếp thu tinh thần của
Chu Hy. Tuy nhiên, định nghĩa hiến (trỏ những người nghe rộng biết nhiều) lại
mang nét nghĩa hơi hẹp hơn so với thực tế. Bậc hiền đương nhiên là “bác lãm
quần thư”, tri thức hoàn bị; song tri thức chỉ là một yếu tố, ngoài ra người hiền
còn phải đáp ứng nhiều tiêu chí khác như đức độ, khí tiết, phải có chính tích,
có trứ thư lập ngôn.
2.4. Từ điển Từ hải sau khi giải thích về từ nguyên, đã ghi nhận nghĩa của
chữ văn hiến trong tiếng Hoa hiện nay chỉ còn một nghĩa mở rộng là “những tư
liệu văn vật có giá trị lịch sử như: lịch sử văn hiến, đồng thời cũng chỉ những
tư liệu sách vở quan trọng liên quan đến một ngành khoa học cụ thể, ví dụ: y học
văn hiến. Nay (văn hiến) còn là tên gọi chung cho bất cứ một dạng vật chất nào
sử dụng văn tự, tranh ảnh, phù hiệu, để kí tải tri thức, thông tin như: ấn phẩm,
băng từ, đĩa CD, băng hình, bản in ốp sét”[29*].
Tóm lại, có thể nói rằng, từ văn hiến trong tiếng Hán đã thu hẹp nét nghĩa
ban đầu của Nho học, mà trỏ chung cho các tư liệu lưu trữ thông tin. Còn từ văn
hiến trong các từ điển tiếng Việt hiện đại được biên soạn trong suốt thế kỷ XX
và đầu thế kỷ XXI thể hiện sự bất nhất và không tường minh về mặt khái niệm như
đã nêu.
3. Từ văn hiến trong tiếng Việt lịch sử
Chúng tôi tìm được văn liệu có niên đại sớm nhất là vào thế kỷ XVII trong
cuốn Thiên Nam ngữ lục khi viết về Sĩ Nhiếp/ Tiếp 士燮[30*]. Tác phẩm này đã ca ngợi “Nam Giao học tổ” như sau:
Quan quân mà lại thầy ta,
Phủ quân tôn vị hiệu là Sĩ vương
Nước nên “văn hiến chi bang”
Đức giáo chẳng nhường Đậu thị Hà Tây (câu 1930-1933)
Ca ngợi Sĩ Nhiếp ở các mặt:
tuần này ắt chẳng lo chi
mối giềng đã tỏ, luật lề đã phân
Đồng niên quý thuế có ngần
Quan quân rõ phép, binh dân rõ đường
Điều hòa chế độ kỷ cương.
Mở kho giáo hóa, rỡ ràng nhân luân” (c.1924-1928)
Đoạn thơ trên ca ngợi họ Sĩ là bậc vương, bởi ông đã có công giáo hóa biến
Giao Chỉ trở thành “văn hiến chi bang”. Về hình thức, ông là “quan quân”, nhưng
thực tế ông lại là bậc sư biểu (thầy ta). Bậc sư biểu ấy đã dùng đức giáo để
cho dân ta hiểu rõ “mối giềng”, “luật lệ”. Chữ mối giềng dịch từ
chữ cương thường. Như thế, văn hiến ở đây tạm có thể phân suất được những nét nghĩa
sau: 1.Cương thường (nhân luân); 2. Luật lệ (cho binh và dân); 3. Giáo hóa.
Trong đó, cương thường là những thiết chế về mặt huyết tộc và đạo đức xã hội.
Luật lệ là những quy phạm mang tính pháp chế và quản lý hành chính nhà nước.
Sử cũ đều ca tụng Sĩ Nhiếp là vị quan tốt, rất có uy tín trong dân chúng.
Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Vương (Sĩ Nhiếp) độ lượng
khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là
vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người”… Nước ta
thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công
đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn
sao? Đoạn trên cho ta hai nét nghĩa nữa của khái niệm văn hiến: 1. thông thi
thư (thông: hiểu nằm lòng; thi: Kinh thi; thư: Kinh thư); 2.học Lễ và Nhạc.
Ngữ cảnh tiếng Việt thứ hai mà chúng tôi biết được, xuất hiện trong lời
giáng bút của thánh mẫu năm 1923, có đoạn mở đầu như sau:
Sông Nhị núi Nùng, nước bốn ngàn năm văn hiến
Con Hồng cháu Lạc, dân hai mươi triệu đồng bào[31*]
Văn cảnh này không cung cấp thêm nét nghĩa nào cho khái niệm văn hiến. Tạm
thời chúng tôi không bàn đến quãng thời gian đã được kéo dài bằng tâm lý dân tộc
bản vị. Giá trị là ở chỗ, đây là văn cảnh tiếng Việt sớm nhất xuất hiện cụm từ“bốn
ngàn năm văn hiến”.
4 . Khái niệm văn hiến qua bối cảnh tri thức Nho gia Việt Nam.
Home [ 1 ] [ 2 ]

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire