Sau ba lần thắng quân Nguyên Mông, dâng trào hào khí Đông A, các nhà nho Việt
Nam đầy hứng khởi đua nhau bắt tay vào viết cuốn sử huy hoàng của dân tộc. Mọi
cuốn sử đều bắt đầu từ nguồn cội. Lúc này, những truyền thuyết về dòng giống tổ
tiên, về thời mở nước từng trôi dạt trong tâm thức cộng đồng đã được định hình
trong các sách Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh…
Và Hồng Bàng thị truyện
được nhiều tác giả đưa vào sách của mình. Với cuốn Đại Việt sử lược cũng không
phải ngoại lệ.Nhưng Đại Việt sử lược có số phận đặc biệt. Là một tác phẩm khuyết
danh được sinh ra vào thời Trần ở Việt Nam nhưng có thời gian biến mất để rồi
“tái xuất giang hồ” trên đất Trung Quốc thời Càn Long nhà Thanh (1736 - 1795).
Sách được học giả thời danh Tiền Hy Tộ hiệu đính, cho khắc in và lưu giữ trong
Tứ khố toàn thư dưới danh xưng Việt sử lược với mục đích “bổ cứu cho phần
ngoại truyện của Tống sử và Nguyên sử.”
Một cuốn sách trầm luân lưu lạc như vậy không thể không gợi lên những mối
nghi ngờ! Dù nàng muôn phần trong trắng, một khi qua tay người, trinh tiết cũng
thành dấu hỏi! Đó không chỉ là cách nghĩ của người ta thường tình! Cố nhiên, một
khi được “hiệu đính” có nghĩa là đã được thêm bớt. Nhưng thêm bớt những gì khi
chữ đã hòa với chữ, nước sông hòa vào nước biển? Điều rõ nhất là xóa bỏ mỹ tự
“Đại” “tiếm xưng” trong tên sách để đưa trở về với vị trí do thiên triều “ban tặng.”
Bên cạnh đó là xóa bỏ tước hiệu “đế” của kẻ “tiếm vị” để đưa vua Việt trở lại với
vai trò vương của chư hầu. Chỉ vậy thôi sao? Với khát vọng muôn đời là tiêu diệt
văn hóa để vĩnh viễn thôn tính nước Việt Nam thì việc thay đổi như thế liệu có
đáng để làm?! Tất cả những người Việt có đầu óc bình thường sẽ cho rằng, hẳn
người Trung Quốc sẽ còn những thay đổi nào đó sâu xa hơn! Nhưng thay đổi gì
đây? Bí mật thách đố suốt mấy trăm năm. Nếu thừa nhận có thay đổi thì đó phải
là sự thay đổi ít nhất về câu chữ nhưng đạt hiệu quả cao nhất về lịch sử!
Sau nhiều đắn đo, chúng tôi cho rằng, trước hết, Tiền Hy Tộ loại bỏ Hồng
Bàng thị truyện. “Không, một tiểu nhược quốc của dân man di không thể là “Đại,”
không thể là dòng dõi Tiên Rồng. Càng không thể ra đời năm Nhâm Tuất, trước
thiên triều Hoàng Đế Hoa Hạ những 182 năm!” Ngay khi đọc những dòng đầu tiên của
cuốn sách, viên sử quan triều Thanh liền quyết định xóa bỏ điều “trái đạo” này.
Nhưng thay vào đó là gì? Đọc tiếp đoạn: “Đến đời Thành Vương nhà Chu Việt Thường
Thị mới đem dâng chim bạch trĩ, sách Xuân Thu gọi là khuyết địa, sách Đái ký gọi
là Điêu đề.” Điều này chấp nhận được vì đây là lần đầu nước Việt được ghi vào sử.
Và có lẽ, sau nhiều suy nghĩ, ông “sáng chế” ra câu chuyện chưa từng có trong
sách sử: “Đến đời Trang Vương nhà Chu (696-682 trước Công nguyên) ở bộ Gia
Ninh có người lạ, dùng ảo thuật qui phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương
đóng đô ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang.” Và để cho “món lạ” dễ nuốt,
bèn thêm chút đường: “phong tục thuần lương chân chất, chính sự
dùng lối thắt gút.” Một đoạn rất ngắn thêm vào, nhưng liền mạch với những
tình tiết diễn ra trước và sau đó. Thành tựu tuyệt vời của nghệ thuật cắt ghép!
Chỉ với 63 chữ, khiến cho lịch sử Việt Nam đổi thay hẳn diện mạo. Trước hết là
thay đổi về thời gian! Từ “4000 năm văn hiến,” từ nhà nước Xích Quỷ 2879 TCN,
sau đoạn văn đó, toàn bộ thời gian sử Việt chỉ còn lại 2700 năm! Có nghĩa là mất
đi một nửa! Không chỉ vậy, còn là sự thu hẹp lớn lao về lãnh thổ. Từ nhà nước
Xích Quỷ, Văn Lang mênh mông: “Bắc đến Hồ Động Đình, đông giáp Biển Đông, Tây
giáp Ba Thục, nam tới Hồ Tôn” rộng hơn nửa Trung Quốc, chỉ còn lại 15 bộ, hoàn
toàn nằm trong ranh giới được áp đặt sau cuộc xâm lăng của nhà Hán! Vượt xa võ
công của Lộ Bác Đức, của Mã Viện, hay Cao Biền; chỉ cần một lần vung bút, Tiền
Hy Tộ đã xác lập biên giới Hán ngay trong sử Việt! Một con ngựa thành Troa mai
phục. Một cái bẫy giương ra, chờ đến ngày có kẻ sập bẫy!
Phải chăng sớm nhận ra âm mưu này mà các sử gia Việt Nam Trung đại, từ Ngô
Sỹ Liên, Lê Quý Đôn đến các sử quan triều Nguyễn đều kiên trì quan điểm “Kinh
Dương Vương lập nước Xích Quỷ năm 2879 TCN. Hùng vương lập nước Văn Lang bắc đến
Hồ Động Đình, đông giáp Biển Đông, tây giáp Ba Thục…”
Nhưng từ thập niên 1970, sử gia đương đại Việt Nam dẫn đầu bởi “tứ trụ”
Lâm, Lê, Tấn, Vượng ghi: “Không rõ tác giả Đại Việt sử lược căn cứ vào tư liệu
nào, nhưng đặt sự ra đời của nước Văn Lang với tư cách là một nhà nước phôi
thai vào khoảng thế kỷ VII TCN, tức là vào giai đoạn phát triển của văn hóa
Đông Sơn, là phù hợp với những kết quả nghiên cứu hiện nay và được nhiều người
chấp nhận.” (Lịch sử Việt Nam NXB Giáo dục. Phan Huy Lê chủ biên. Hà Nội,
2012 P. 150) Phán quyết của “tứ trụ” được đưa vào sách giáo khoa rồi trở thành
pháp lệnh. Cái bẫy dương ra lúc này sập xuống. Đúng theo lập trình 200 năm trước.
Sử Việt không còn Xích Quỷ với Kinh Dương Vương. Nước Văn Lang 2700 năm từ
trong tay áo của Tiền Hy Tộ bỗng hiện hình lừng lững trong sử Việt.
Tuy nhiên, việc kết luận như vậy, về phương pháp luận là rất có vấn đề. Đó
là dù đã biết tác giả Đại Việt sử lược đưa ra nhận định mà không dựa trên chứng
cứ xác thực, nhưng “tứ trụ” vẫn tin theo một cách hồ đồ: “Dựa theo những kết quả
nghiên cứu hiện nay và được nhiều người chấp nhận.” Một việc làm thiếu khoa học.
Người xưa lấy nghi truyền nghi, có nghĩa là có điều hoài nghi thì cũng ghi lại
để hậu nhân cùng tham khảo nhưng ở đây chuyển điều nghi vấn thành xác tín chỉ dựa
vào suy luận!
Đúng là văn hóa Đông Sơn có nhiều thành tựu so với các văn hóa trước đó.
Nhưng lấy gì đảo bảo rằng sự tiến bộ của Đông Sơn là nguyên nhân dẫn đến hình
thành nhà nước Văn Lang mà không phải là kết quả hoạt động của nhà nước ra đời
trước đó?
Năm 2016, sau 80 năm khai quật và nghiên cứu văn hóa Lương Chử tỉnh Chiết
Giang (1936-2016), học giả Trung Quốc xác nhận, Lương Chử là kinh đô của nhà nước
cổ đại đầu tiên ở phương Đông, được thành lập khoảng 3200 năm TCN, vào cuối Thời
Đá mới. Với diện tích bằng nửa Trung Quốc, Lương Chử là nền văn hóa tiến bộ nhất
phương Đông thời đó với công cụ đá mài đạt kỹ thuật cao, đồ gốm đa dạng, có độ
nung cao và có kho ngọc khí lớn nhất và tinh xảo nhất mà cho tới nay cả thế giới
không đâu so sánh được. Nông nghiệp tiến tới giai đoạn cày bằng trâu bò. Tại
đây chữ Giáp cốt đã ở mức trưởng thành, xã hội có độ phân hóa cao với sự phân
công lao động rõ rệt. Chủ nhân văn hóa Lương Chử là người Lạc Việt mang mã di
truyền O3M122. Từ những vật thờ và hình tôtem cho thấy người Lương Chử là “Vũ
nhân” hay “Vũ dân,” thờ vật tổ kép là chim và thú, biểu tượng của Tiên và Rồng.
Những chi tiết này xác nhận người Lương Chử là người Lạc Việt, thuộc họ Hồng
Bàng. Đối chiếu truyền thuyết với cổ thư, có thể tin rằng người dựng nhà nước
Lương Chử chính là Thần Nông, vị tổ thứ hai của người Việt. Hiện vật văn hóa
Lương Chử tập trung ở Lương Chử nhưng cũng phân bố khắp Quảng Đông, Quảng Tây.
Năm 1999, nhà sưu tập cổ vật Vũ Tân ở Hà Nội tìm được hầm ngọc tại Uông Bí Quảng
Ninh với 67 hiện vật Lương Chử ở giai đoạn điển hình. Trong số hiện vật có chiếc
ấn rùa (Quy ấn) hình vuông, mỗi cạnh 13
cm , khắc bốn chữ Giáp cốt. Theo truyền thống thì đây là ấn
của một quan chức địa phương. Điều này chứng tỏ đất Việt Nam lúc đó thuộc về
nhà nước Xích Quỷ - Văn Lang. Những tài liệu khảo cổ và văn hóa học có được cho
thấy, khoảng năm 2200 TCN, do nước biển dâng, kinh đô Lương Chử bị chìm, Vua
Hùng dời đô về địa điểm Thành Đầu Sơn ở Tây Bắc Hồ Động Đình. Thời gian này diễn
ra việc Việt Thường thị (người Việt mặc váy) giao thiệp và tặng rùa thần cho
Vua Nghiêu. Có lẽ cái tên dân gian Việt Thường thị phổ biến hơn nên được sử nhà
Chu ghi mà không biết đến quốc hiệu Văn Lang. Các vua Hùng thay nhau trị vì Văn
Lang thời gian dài, chứng kiến sự xuất hiện và trưởng thành của các nước Ngô,
Việt, Sở. Khoảng 800 năm TCN, do sức ép của nước Việt, nước Sở, Hùng Vương rời
bỏ Thành Đầu Sơn ở Hồ Nam, dời đô về Việt Trì để từ đây lãnh đạo phần đất còn lại
của Văn Lang ở Nam Dương Tử. Như vậy, sau thời kỳ này, diện tích Văn Lang còn
chiếm một phần quan trọng của Quảng Đông, Quảng Tây cho đến khi nhà Tần xâm lược.
Từ phân tích trên cho thấy, nhà nước Văn Lang được thành lập rất sớm và tồn tại
lâu dài mà không phải ra đời vào thế kỷ VII TCN. (1,2)
Một nguyên nhân khác, cũng rất xác đáng phủ định việc thành lập Văn Lang thế
kỷ VII TCN là tình hình địa chất thủy văn đồng bằng sông Hồng. Tài liệu khảo cổ
Hà Nội cho biết, 700 năm TCN phần lớn diện tích đồng bằng sông Hồng còn chìm
trong biển nước của vịnh Hà Nội. (3,4) Chỉ tới khoảng 300 năm TCN, do biển rút,
phần chủ thể của đồng bằng mới xuất hiện và người Việt từ xung quanh kéo về
khai phá. Điều này nói lên rằng, thế kỷ VII TCN chưa có đồng bằng sông Hồng.
Không ai có thể dựng nước trên mặt biển! Các địa danh mang tên 15 bộ chỉ xuất
hiện đầu Công nguyên, sau cuộc xâm lăng của người Hán.
Từ phân tích trên có thể khẳng định, việc các sử gia nhà nước Việt Nam dựa
vào lời văn mơ hồ trong cuốn sách có “lý lịch bất minh” rồi quyết đoán nước Văn
Lang được thành lập thế kỷ VII TCN với ranh giới được áp đặt từ thời Hán là sai
lầm cực kỳ nghiêm trọng. Điều này khiến cho lịch sử dân tộc bị rút ngắn một nửa
cùng với phần lớn lãnh thổ bị cắt bỏ. Việc làm đó không chỉ hợp pháp hóa tham vọng
chiếm đất Việt của nhà nước Đại Hán mà còn cắt đứt mốt liên hệ của người Việt
hiện nay với quá khứ. Ý tưởng này cũng là quan niệm nhất quán của giới sử gia
nhà nước Việt Nam, được Giáo sư Phan Huy Lê tuyên bố: “Một quan điểm tuy không được
đưa vào các văn kiện của Liên Hợp Quốc nhưng gần như tất cả các quốc gia, dân tộc
trên thế giới đều thừa nhận, đó là lịch sử của bất cứ một quốc gia dân tộc
nào cũng đều xuất phát từ lãnh thổ hiện nay để viết sử (HVT nhấn mạnh). Tất
cả những gì diễn ra trên không gian địa lý, lãnh thổ đó đều thuộc về chủ quyền
khai thác, bảo quản và nghiên cứu của chính quốc gia đang làm chủ đó, dù trước
đó có những dân tộc đã từng có nhà nước riêng. Tất cả các tầng lớp cư dân, cộng
đồng, tộc người hay các vương quốc từng tồn tại trên các không gian lãnh thổ đó
đều thuộc về lịch sử và văn hóa của nhà nước hiện nay đang quản lý lãnh thổ
đó”. (4) Một cách tự nguyện, phần quan trọng của lịch sử và lãnh thổ của tổ quốc
được dâng cho ngoại bang! Rõ ràng đó là một quan điểm phản khoa học và phi lịch
sử. Một dân tộc không phải tự nhiên xuất hiện rồi nhất thành bất biến trên một
vùng đất hiện tồn mà có nguồn cội rồi qua quá trình vận động trong chiều dài lịch
sử để định hình diện mạo như hôm nay. Vì vậy, lịch sử của một dân tộc phải bao
gồm cả những gì đã diễn ra trên tiến trình thời gian cùng không gian hoạt động
của mình. Nếu chỉ viết sử người Việt trên biên giới hiện nay sẽ cắt đứt mối
liên hệ với quá khứ. Một quá khứ vinh quang khi 40.000 năm trước, người Hòa
Bình Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục, trở thành chủ thể của dân cư Trung Quốc.
Tiếng Việt là chủ thể của tiếng nói Trung Quốc. Văn hóa Việt là chủ thể làm nên
văn hóa Trung Quốc… Chính vì sự thống trị của quan điểm này mà nước Nam Việt
cùng nhà Triệu bị loại bỏ khỏi sử Việt, cắt đứt mối liên hệ huyết thống cũng
như lịch sử của Việt Nam với cộng đồng người Việt không chỉ ở Nam Dương Tử mà
trên toàn cõi Trung Hoa.
Công việc cấp thiết của sử học Việt Nam hôm nay là viết lại cuốn sử chân thực
của dân tộc, không phải với nước Văn Lang 700 năm TCN mà từ 70.000 năm trước,
khi người Khôn ngoan châu Phi di cư tới đất Việt, làm nên tổ tiên của dòng giống
chúng ta.
* Hà Văn Thùy
Sài Gòn, 10.10.2021
Tài liệu tham khảo.
1. Hà Văn Thùy. Nhà nước
Xích Quỷ từ huyền thoại đến hiện thực. NXB Hội Nhà Văn. H, 2017.
2. Hà Văn Thùy. Xoá bỏ
huyền thoại “Nhà nước Văn Lang 2700 năm” -...https://nghiencuulichsu.com ›
2019/09/06 › xoa-bo-hu
3. DOÃN ĐÌNH LÂM, “TIẾN
HOÁ TRẦM TÍCH HOLOCEN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG”.Viện Địa chất, Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam:
4. Vũ Đức Liêm: “Lịch sử
khai thác tự nhiên ở châu thổ sông Hồng” (http://tiasang.com.vn/-khoa-hoc-cong-nghe/Lich-su-khai-thac-tu-nhien-o-chau-tho-song-Hong-11118)
5. Trang thông tin Ban Tuyên giáo Trung ương

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire