Kinh tế thị
trường thúc đẩy tăng trưởng, giảm đói nghèo. Nhưng nếu cải cách đặt sự tồn vong
chế độ lên trên lợi ích người dân có thể làm tổn hại quá trình chuyển đổi dân
chủ.
Ngày nay, sau hơn 30 năm, Việt Nam đã vươn lên là quốc
gia có thu nhập trên đầu người ở mức trung bình thấp. Từ năm 2002 đến năm 2018,
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng hơn 2,7 lần. Theo ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc
tế (IMF), quy mô nền kinh tế Việt Nam năm 2020 theo GDP danh nghĩa đạt 340,6 tỷ
đô la Mỹ hay 3.498 USD/người, và nếu tính theo sức mua tương đương đạt 1.047 tỷ
đô la Mỹ và 10.755 USD/người.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh của Việt Nam
trong suốt giai đoạn qua, mặc dù bất bình đẳng cũng gia tăng, đã mang lại lợi
ích cho phần lớn dân số, trước hết tác động đến việc xoá đói giảm nghèo. Số người
nghèo, tính theo chuẩn nghèo quốc tế, đã giảm liên tục từ khoảng 40 triệu vào
năm 1990, xuống còn 14 triệu vào năm 2004 và theo chuẩn nghèo mới (đa chiều)
tính đến cuối năm 2019, số nguời nghèo còn khoảng 10 triệu… Như vậy, mặc dù chuẩn
nghèo thay đổi theo hướng nâng cao, thì trong một phần ba thế kỷ có hơn 40 triệu
người Việt Nam thoát đói nghèo.
Thực tế quá trình chuyển đổi kinh tế cho thấy về sức mạnh
của kinh tế tư bản, vốn, năng lực và động lực thị trường cho tăng trưởng. Các
nguyên lý của kinh tế thị trường tự do đã từng bước được áp dụng, sở hữu tư
nhân được khuyến khích. Hầu như toàn bộ nền kinh tế đang chuyển động theo những
nguyên tắc kinh tế như nhau – hoạt động sản xuất kinh doanh hướng đến lợi nhuận,
dùng lao động làm công ăn lương và tự do về phương diện pháp lý, các doanh nghiệp
phối hợp phi tập trung theo quy luật cung cầu. Đồng thời với việc sử dụng các
công cụ, thước đo, chỉ tiêu của kinh tế thị trường, sự can thiệp của nhà nước
toàn trị đối với nền kinh tế cũng giảm dần.
Những thay đổi như trên chứng tỏ sức mạnh của kinh tế thị
trường đối với sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, cách giải thích các thành tựu
kinh tế thường gắn với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản (ĐCS) về công lao trong giải
phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội có thể khắc phục các mặt trái của thị trường
như thể biện minh cho tính chính danh của chế độ khi các lãnh đạo không được bầu
bởi tất cả người dân.
Các chế độ chính trị đều phải thay đổi để thích nghi với
kinh tế thị trường thúc đẩy tăng trưởng trong bối cảnh toàn cầu hoá, trong đó
chế độ Đảng Cộng sản toàn trị ở Việt Nam không là ngoại lệ. Những đặc điểm chủ
yếu của mô hình chính trị này là tập trung quyền lực quá mức, tính chính danh
của đảng yếu, dựa quá nhiều vào áp bức, và để cho quyền lực cá nhân chi
phối các chuẩn mực thể chế. Giữ nguyên chế độ đảng trị với cấu trúc tháp tập
trung quyền lực: Tổng bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành trung
ương…. quá trình thích nghi của chế độ với sự chuyển đổi kinh tế sang thị trường
diễn ra theo hướng thể chế hoá, nghĩa là tạo dựng các quy tắc, chính thức
hoặc không chính thức, để ràng buộc các hành vi của con người, đặc biệt đối
với quan chức bộ máy cai trị.
Đồng thời với cải thiện môi trường khuyến khích đầu tư,
kinh doanh và khởi nghiệp thì quá trình thể chế hoá, tăng cường pháp trị được
thực hiện trên các phương diện sau: Một là, xác lập các tiêu chuẩn để chuyển
giao quyền lực giữa các thế hệ lãnh đạo. Không quá hai nhiệm kỳ năm
năm làm lãnh đạo trong bộ máy công quyền, tổ chức công lập và giới hạn tuổi được
quy định trong các văn bản pháp lý, thậm chí trong Điều lệ Đảng CS; Hai là, tuyển
chọn, sử dụng cán bộ dựa trên năng lực hơn là quan hệ bè phái, ưu tiên quá
trình ‘thử thách’ và kinh nghiệm công tác; Ba là, phân công, phân quyền theo hướng
chuyên môn hoá chức năng trong bộ máy nhà nước. Các nhánh quyền lực như chính
phủ, quốc hội, tư pháp có nhiều không gian hoạt động hơn; Bốn là, nới lỏng sự
tham gia chính trị qua các tổ chức như xã hội dân sự, phi chính phủ, thiện nguyện…
nhằm tăng sự hấp dẫn với người dân và củng cố tính chính danh của đảng.
Tuy nhiên, những thay đổi như trên về thể chế chính trị
đã không đáp ứng được sự phát triển của kinh tế thị trường. Sự quản lý của Đảng,
Chính phủ đối với toàn bộ tài nguyên, đất đai và sự can thiệp quá mức vào nền
kinh tế, mà quyền lực công thiếu cơ chế kiểm soát hữu hiệu, là nguyên nhân trực
tiếp của chủ nghĩa thân hữu, sự liên kết giữa quan chức và doanh nhân, sinh sôi
nạn tham nhũng nghiệm trọng, nạn hối lộ, trục lợi bất chính tràn lan, thất
thoát tài sản công, suy thoái đạo đức và lối sống, văn hóa, phá hỏng luật chơi
của thị trường. Tình hình nghiêm trọng đến mức đe doạ sự tồn vong của chế độ.
Đảng đang tìm cách cứu vãn chế độ, thoát ra khỏi khủng hoảng.
Tuy nhiên, việc “củng cố” nội bộ đảng đồng thời với chống tham nhũng bằng tập
trung quyền lực cao hơn, đang đi ngược với quá trình thể chế hoá nêu trên. “Các
trường hợp đặc biệt” đã phá vỡ các chuẩn tắc chuyển giao quyền lực; đề bạt cán
bộ dựa trên lòng trung thành với lãnh tụ, lý tưởng thay thế cho năng lực kỹ trị;
quyền lực của Chính phủ bị kiểm soát chặt chẽ hơn; dân chủ trong Đảng bị hạn chế,
các tổ chức xã hội dân sự như hội, đoàn bị hạn chế. Ngoài ra, kỷ luật Đảng đang
được siết chặt hơn. Hội nghị Trung ương 3 khoá 13 vừa sửa đổi hoặc ban hành các
quy định thực hiện Điều lệ Đảng, quy chế làm việc và phối hợp giữa các cơ quan
quyền lực cao nhất của Đảng, tăng cường quyền lực cho Uỷ ban kiểm tra Đảng…
Những động thái trên là nỗ lực đưa chế độ theo đúng đặc
điểm toàn trị mà các nhà nghiên cứu có ảnh hưởng nhất về chủ nghĩa toàn trị đã
chỉ ra. Đó là đảng, nhà nước cố gắng động viên toàn thể dân chúng theo ý thức hệ
chủ nghĩa xã hội và không khoan nhượng đối với những hoạt động không hướng về mục
tiêu của đảng, lãnh đạo toàn diện các cơ quan quyền lực nhà nước (lập pháp,
hành pháp, tư pháp, công an, quân đội...), tăng cường lãnh đạo các tổ chức
trong hệ thống chính trị và quần chúng, đồng thời với kiểm soát truyền thông,
các cơ sở học thuật, các cơ sở tôn giáo….
Thực tế chỉ ra rằng, trong cùng bối cảnh toàn cầu hoá,
sau những thành công kinh tế nhờ thị trường, chế độ chính trị độc đoán trong
các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… đã từng chuyển đổi sang chế độ
dân chủ. Tuy nhiên, chế độ đảng CS toàn trị không lựa chọn cách thay đổi này.
Quá trình cải cách thể chế chính trị chưa bao giờ suôn sẻ và nhất quán, đặc biệt
trong những năm gần đây, còn chứa đựng những mâu thuẫn, chủ trương xây dựng “Đảng
mạnh, nhà nước mạnh” hiện nay theo kiểu “thể chế hoá ngược” có thể cản trở chuyển
đổi kinh tế sang thị trường.
* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do.
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire