“Nếu Trung Quốc không giải
quyết được các vấn đề về nước, thì giấc mộng Trung Quốc cũng chấm dứt”. (Ảnh: China
Revealed - The BL)
Gần đây, khủng hoảng bất động sản và khủng hoảng lương thực của Trung Quốc
đã trở thành chủ đề nóng trên các phương tiện truyền thông, song, có một cuộc
khủng hoảng tàn khốc khác đang âm thầm tấn công, có thể đặt dấu chấm hết cho giấc
mộng Trung Quốc…
Nước: gót chân Achilles của Trung Quốc
Vào đầu tháng 12 năm 2021, chính phủ Trung Quốc thông báo rằng 2 thành phố
Quảng Châu và Thâm Quyến, nằm ở Đồng bằng sông Châu Giang vốn có nguồn nước dồi
dào, sẽ đối mặt với nguy cơ hạn hán nghiêm trọng trong năm nay (2022).
Khoảng 3 tuần sau, Bloomberg công
bố báo cáo, nhấn mạnh rằng hàng nghìn con sông ở Trung Quốc đã biến mất, trong khi quá trình công nghiệp hóa
và ô nhiễm đã làm hỏng phần lớn lượng nước còn lại. 80% đến 90% lượng nước ngầm
của Trung Quốc và một nửa lượng nước sông của nước này quá bẩn đến nỗi không thể
uống. Theo một số ước tính, hơn một nửa lượng nước ngầm và một phần tư lượng nước
sông ở đây không thể sử dụng được ngay cả cho công nghiệp hay nông nghiệp.
Tài nguyên nước của Trung Quốc đang dần cạn kiệt!
Xem video trên kênh YouTube “China Revealed”:
Đây không chỉ là lời cảnh báo của truyền thông phương Tây, như một bài báo
vào đầu năm 2021 trên The Hill đã
viết rằng: “Trung Quốc đang thiếu nước nghiêm trọng để duy trì nền kinh
tế”, mà đó thực sự là điều mà chính quyền Trung Quốc đã nhận ra và đang tận
lực đối phó.
Năm 2005, Thủ tướng Ôn Gia Bảo tuyên bố rằng tình trạng khan hiếm nước đe dọa “sự
tồn vong của đất nước Trung Quốc”. Bộ trưởng Bộ Thủy lợi cũng tuyên bố rằng
Trung Quốc phải “chiến đấu cho từng giọt nước, hay là chết.”
Nước là nguyên liệu đầu vào không thể thiếu cho mọi hoạt động kinh tế.
Ngoài nông nghiệp, nước còn đóng vai trò quan trọng trong sản xuất điện, khai
thác mỏ, công nghiệp và các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu trong cuộc sống. Ví dụ,
để chế tạo một chiếc điện thoại thông minh thông thường cần khoảng 3.000 gallon nước (tương đương khoảng 11.360 lít).
Reuters đưa
tin vào đầu năm 2008, Quốc vụ viện Trung Quốc đã ban hành một văn bản cảnh báo
rằng nguồn nước của Trung Quốc về cơ bản sẽ cạn kiệt vào năm 2030. Văn bản này
nêu rõ: “Tính đến việc tiết kiệm nước tối đa, đến năm 2030, lượng nước sử dụng
của đất nước chúng ta sẽ chạm hoặc gần chạm ngưỡng tổng lượng tài nguyên nước
có thể khai thác và tình hình chống hạn hán sẽ ngày càng nghiêm trọng”.
Trung Quốc đã từng gần như tự túc về đất đai, nước và nhiều nguyên liệu
thô, cũng như nguồn lao động giá rẻ, cho phép đất nước đông dân này khai thác
tài nguyên ở mức tối đa, trở thành công xưởng của thế giới. Tuy nhiên, tài
nguyên thiên nhiên phong phú của Trung Quốc đã là dĩ vãng, theo Bloomberg.
Cuốn sách sắp ra mắt, “The Danger Zone” (tạm
dịch: “Vùng nguy hiểm”), đã cảnh báo rằng Trung Quốc rơi vào tình
trạng cạn kiệt tài nguyên. Một thập niên trước, Trung Quốc đã trở thành nhà nhập
khẩu nông sản lớn nhất thế giới. Diện tích đất canh tác của nó đã bị thu hẹp do
đất đai bị thoái hóa và sử dụng quá mức. Tăng trưởng nhanh chóng cũng đã đưa
Trung Quốc trở thành nhà nhập khẩu năng lượng lớn nhất thế giới: trong khi Hoa
Kỳ là nhà xuất khẩu năng lượng ròng, thì Trung Quốc phải mua 3/4 lượng dầu của
mình từ nước ngoài.
Tình hình tài nguyên nước của Trung Quốc là đặc biệt nghiêm trọng. Trung Quốc
chiếm 20% dân số thế giới, nhưng chỉ có 7% lượng nước ngọt. Tài nguyên nước
bình quân đầu người toàn cầu là 12.900 mét khối, còn tài nguyên nước bình quân
đầu người của Trung Quốc chỉ là 2.300 mét khối, ít hơn một phần tư của thế giới,
một phần năm của Hoa Kỳ, một phần bảy của Nga và Canada. Liên Hợp Quốc đã liệt
kê Trung Quốc là 1 trong 13 quốc gia “nghèo nàn” về tài nguyên nước. Toàn bộ
khu vực bị thiếu nước trầm trọng hơn cả vùng Trung Đông khô cằn.
Sự phân bố nguồn nước không đồng đều địa lý làm cho vấn đề càng trở nên tồi
tệ hơn. 80% nguồn cung cấp nước của Trung Quốc đến từ khu vực phía nam sông
Dương Tử, nhưng chỉ một nửa dân số Trung Quốc cư trú ở đó. Đồng bằng Hoa Bắc
chiếm hơn 40% dân số cả nước, nhưng chỉ có ít hơn 15% tài nguyên nước của cả nước
và nguồn nước đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Theo báo cáo về chất lượng nước của Tổ chức Hòa bình xanh Đông Á
(Greenpeace East Asia), dựa trên 145 bộ dữ liệu từ chính quyền cấp tỉnh, mức độ
ô nhiễm nước ở các thành phố lớn của Trung Quốc là cực kỳ cao. Ở Bắc Kinh, khoảng
40% nước bị ô nhiễm đến mức về cơ bản không còn khả năng sử dụng. Thượng Hải
tình hình còn xấu hơn, với 85% nước không thể uống được và hơn 56% không phù hợp
cho bất kỳ mục đích nào. Ở Thiên Tân, thành phố cảng chính phía bắc Trung Quốc
và là nơi sinh sống của 15 triệu người, chỉ 5% lượng nước có thể được sử dụng
làm nguồn nước uống.
Một nghiên cứu gần đây của các nhà nghiên cứu từ Đại học Thanh Hoa cho thấy
mức độ per và polyfluoroalkyls (PFAS) trong nước uống của hơn 20% các thành phố
được nghiên cứu đã vượt quá giới hạn ô nhiễm được sử dụng ở Mỹ. PFAS là hóa chất
nhân tạo được sử dụng trong mọi thứ, từ vải vóc đến thuốc trừ sâu, được phát hiện
gây ra nhiều vấn đề sức khỏe, trong đó có ung thư thận và gan. Các nhà nghiên cứu
ước tính rằng gần 100 triệu người Trung Quốc đang phải uống thứ nước có lượng
hóa chất độc hại ở mức “không an toàn”.
Mặc dù Bộ Thủy lợi Trung Quốc đã công khai tuyên bố tự tin rằng các tầng chứa
nước sâu của Trung Quốc là nguồn nước uống an toàn, tách biệt khỏi các tác động
ô nhiễm bề mặt do các rào cản địa chất tự nhiên (được các nhà địa chất thủy văn
gọi là “lớp chứa nước”), nhiều nghiên cứu đã chất vấn giả thiết này. Một cuộc khảo sát địa hóa của các nhà khoa học
tại Học viện Khoa học Trung Quốc về nước máy từ các địa điểm khác nhau xung
quanh Bắc Kinh, được bơm từ các giếng nước ngầm sâu, cho thấy một số lượng đáng
kể các mẫu chứa nitrat và các chất ô nhiễm khác. Phát hiện này phù hợp với phát
hiện của Matthew Currell từ Đại học RMIT, Úc, rằng
ô nhiễm đang đến các tầng chứa nước sâu thông qua các con đường ngắn.
Tình trạng ô nhiễm nước nghiêm trọng đã làm trầm trọng thêm vấn đề khan hiếm
nước. Chính quyền Trung Quốc đã phải đi đến một dự án lớn để chuyển nước từ các
vùng tương đối ẩm ướt lên phía bắc bị hạn hán với chi phí khá tốn kém. Các
chuyên gia ước tính rằng Trung Quốc mất hơn 100 tỷ USD mỗi năm do khan hiếm nước.
Thêm vào đó, Dự án chuyển nước Nam-Bắc của Trung Quốc đã gây ra những tác động
đáng kể đến môi trường và xã hội, điều này có thể thấy rõ nhất qua câu chuyện của
những người như Zhao Keqian, một người dân buộc phải di dời khỏi căn nhà của
mình vì kế hoạch chuyển nước. Zhao đại diện cho nghịch cảnh của cư dân tỉnh
phía nam khi nói với The Economist rằng “Chính
phủ không ngó ngàng đến chúng tôi”.
Việc sản xuất năng lượng phụ thuộc vào than đá còn khiến cho tình trạng
khan hiếm nước ở Trung Quốc trở nên tồi tệ hơn. Reuters đưa
tin vào ngày 28 tháng 12 rằng để đảm bảo an ninh năng lượng, Tổng công ty Lưới
điện Nhà nước Trung Quốc cho biết nước này có khả năng sẽ xây dựng 150 GW công
suất nhiệt điện than mới trong giai đoạn 2021-2025.
Không may thay, sản xuất nhiệt điện than cần sử dụng nhiều nước và lượng nước
lớn sẽ được tiêu thụ trong suốt quá trình từ khai thác và chế biến than đến làm
mát các nhà máy điện. Theo Bộ Thủy lợi Trung Quốc, việc phát điện bằng than của
Trung Quốc đã tiêu thụ 114.000 tỷ lít nước vào năm 2010, chiếm 20% tổng lượng
nước tiêu thụ của Trung Quốc và tỷ lệ này dự kiến sẽ đạt 40% trong 10 năm tới.
Hậu quả kinh tế và chính trị của tình trạng thiếu nước rất đáng lo ngại.
Theo Bloomberg,
bằng cách làm cho việc tăng trưởng trở nên tốn kém, các vấn đề tài nguyên của
Trung Quốc đã mang đến những thách thức khác – nhân khẩu học suy giảm, bầu
không khí chính trị ngày càng ảm đạm, phải đình chỉ hoặc hủy bỏ nhiều cải cách
kinh tế quan trọng – tạo ra một cuộc suy thoái với những tác động rõ ràng ngay
cả trước khi bị tấn công bởi Covid. Bloomberg cho biết
thêm: “Khế ước xã hội tại Trung Quốc sẽ đối mặt với kiểm nghiệm khi các
nguồn lực ngày càng cạn kiệt làm gia tăng các cuộc chiến phân phối”.
Jim Rogers, một nhà đầu tư và giáo sư tài chính nổi tiếng quốc tế, người đã
thành lập Quỹ Lượng tử cùng với George Soros và tạo ra Chỉ số Hàng hóa Quốc tế
Rogers (RICI), đã đến Trung Quốc vào năm 1984. Trong một cuộc phỏng vấn với BBC’s
HardTalk vào năm 2011, khi được hỏi về cuộc khủng hoảng lớn nhất trong
nền kinh tế Trung Quốc, câu trả lời của Rogers là “nước”.
“Tôi sẽ không lo lắng nếu Trung Quốc có nội chiến, dịch bệnh, hoảng loạn,
suy thoái, tất cả những thứ đó. Các bạn có thể khôi phục trở lại. Thứ duy nhất
các bạn không thể khôi phục được là nước”, Rogers nói. “Nếu Trung
Quốc không giải quyết được các vấn đề về nước, thì giấc mộng Trung Quốc cũng chấm
dứt”.
Nước cũng là vũ khí lớn nhất của Trung Quốc
Theo thuật ngữ của Jack Silvers trên Harvard
Political Review, nước không chỉ là gót chân Achilles của Trung
Quốc mà còn là vũ khí vĩ đại nhất của nước này. Trung Quốc có một vị trí thuận
lợi: nằm trên nguồn của 10 con sông lớn chảy qua 11 quốc gia và cung cấp nước
cho 1,6 tỷ người. Tây Tạng và Cao nguyên Tây Tạng được gọi là “Cực thứ ba” của
thế giới vì các sông băng của nó sinh ra phần lớn các con sông ở châu Á, cũng nằm
dưới sự kiểm soát của Trung Quốc. Do đó, các hành động ở thượng nguồn của Trung
Quốc như xây đập có nhiều tác động đến các nước hạ nguồn. Dechen Palmo, một nhà
nghiên cứu tại Học viện Chính sách Tây Tạng, rất có lý khi viết trên tờ The
Diplomat rằng “tương lai của nguồn nước châu Á nằm trong tay của Trung
Quốc”.
Mekong bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng và chảy ra ở Biển Đông, đổ đầy hồ
Tonle Sap khổng lồ trên lộ trình. Ông Brian Eyler, một chuyên gia về Mekong tại
Trung tâm Stimson, cho biết hồ Tonle Sap “giống như một nhịp tim bơm
máu của sông Mekong qua hệ thống”. Mở rộng ra gấp 5 lần diện tích bình thường
vào mùa mưa, sau đó thu hẹp lại vào mùa khô, cùng với sông Mekong, hồ này hỗ trợ
cho ngành lương thực của Campuchia và Việt Nam, ngành đánh cá của Thái Lan và
thương mại thủy điện của Lào. Dòng chảy thượng nguồn ổn định và có thể dự đoán
được là điều bắt buộc đối với các hoạt động kinh tế thiết yếu này, nhưng trong
những năm gần đây, dòng chảy đã không còn được đảm bảo.
Trong thập kỷ qua, chính phủ Trung Quốc đã thúc đẩy phát triển đập sông
Mekong – phần chảy qua Trung Quốc được gọi là sông Lan Thương. Địa điểm xây dựng
đập ở tỉnh Vân Nam này đã được xác lập kể từ những năm 1990. Bức tường chắn của
đập Tiểu Loan được hoàn thành vào năm 2011 và có chiều cao tương đương với tháp
Eiffel. Cùng với đập Nọa Trát Độ to lớn tương đương, hai con đập có thể nhấn
chìm toàn bộ Luân Đôn dưới 24 mét nước. Chúng chỉ là 2 trong số 11 đập của
Trung Quốc trên thượng nguồn sông Mekong, được coi là công thức cho thảm họa.
Nghiên cứu mới cho thấy thủy điện Trung Quốc là yếu tố quan trọng dẫn đến hạn
hán.
Harvard
Political Review cũng nhấn mạnh rằng việc xây dựng đập ở
thượng nguồn dẫn đến giảm lưu lượng nước xuống hạ lưu. Đợt hạn hán kinh hoàng
năm 2019 ở các nước hạ lưu sông Mekong đã đưa ra cảnh báo mạnh mẽ về việc hạn
hán có thể trở nên trầm trọng hơn do các con đập của Trung Quốc gây ra. Sản lượng
đánh bắt dọc Tonle Sap ở Campuchia giảm 80% so với những năm trước. Sự mất mát
này không chỉ là một đòn kinh tế: Người Campuchia sử dụng cá để làm mắm Bò Hóc
(prahok), một nguồn protein chủ yếu trong chế độ ăn uống của họ. Ở các khu vực
khác, chẳng hạn như các thành phố của Việt Nam dọc theo Đồng bằng sông Cửu
Long, việc dồn nước trong các hồ chứa của Trung Quốc đồng nghĩa với việc mất
toàn bộ nguồn nước ngọt. Theo lời của Eyler, “Toàn bộ nhịp điệu dòng chảy
của sông đã bị suy yếu và bị tàn phá bởi những gì con người đang làm đối với hệ
thống sông bằng cách xây dựng các con đập”.
Tương tự như thiệt hại mà Trung Quốc xây đập gây ra đối với các nước Đông
Nam Á phụ thuộc vào sông Mekong, sự chuyển hướng của các con sông ở Tân Cương
đã có tác động thảm khốc đối với vùng hạ lưu Trung Á.
Kế hoạch xây dựng các con đập ở các vùng nước quan trọng dọc theo biên giới
Trung Quốc – Ấn Độ của chính phủ Trung Quốc đã gây tốn kém cho Ấn Độ và
Bangladesh, đồng thời làm gia tăng căng thẳng ở dãy Himalaya. Nhà phân tích chiến
lược người Ấn Độ, Brahma Chellaney đã nói: “Sự bành trướng lãnh thổ của
Trung Quốc ở Biển Đông và dãy Himalaya… đi kèm với những nỗ lực lén lút nhằm
chiếm đoạt tài nguyên nước trong các lưu vực sông xuyên quốc gia”.
Nói ngắn gọn, Bloomberg cho
biết một số nhà quan sát lo lắng rằng nếu môi trường trong nước khiến chính quyền
Trung Quốc bất an, nó có thể phát động các cuộc tấn công nhằm vào các đối thủ
quốc tế và vấn đề nguồn nước vẫn đang thúc đẩy xung đột địa chính trị.
Những nỗ lực của nhà cầm quyền Trung Quốc hòng chế ngự và cải tạo thiên
nhiên: Một góc nhìn lịch sử
Theo Harvard
Political Review, kỳ vọng ở chính quyền Trung Quốc sự thay đổi cấp
tiến trong các hành động đối với sông Mekong hoặc các con sông chung khác là điều
không thực tế, nếu nhìn vào lịch sử hiện đại của đất nước này.
“Những thiệt hại do lũ lụt trong quá khứ cho thấy nỗ lực của Trung Quốc
trong việc cải tạo thiên nhiên, trong khi cuộc đấu tranh lâu dài với tình trạng
khan hiếm nước khiến nhà cầm quyền của họ coi nước là tài nguyên có chủ quyền
hơn là tài nguyên chung. Có lẽ, lực lượng lãnh đạo nòng cốt của ông Tập sẽ chọn
tham gia vào các cuộc đối thoại quốc tế về các vấn đề nước – một viễn cảnh mà
nhiều quốc gia, bao gồm cả Hoa Kỳ, nên cởi mở hợp tác. Đợi đến lúc đó, còn tùy
thuộc vào việc ông Tập có noi gương vua Hạ Vũ không, hay là tiếp tục tự mình đấu
tranh với làn sóng thách thức”.
Truyền thuyết Hạ Vũ trị thủy là một trong nhiều câu chuyện trong văn hóa
truyền thống của Trung Hoa, cho thấy người xưa luôn đặt thiên nhiên ở vị trí
linh thiêng. Lão Tử, một nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc, đã nói: “Người
thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự
nhiên”. Người Trung Quốc cổ đại tin vào “Thiên nhân hợp nhất” – sự hòa
hợp của con người với Trời, cũng như sự hòa hợp, cùng tồn tại và phụ thuộc lẫn
nhau giữa con người, trời và đất.
Ngược lại, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đề cao triết lý đấu tranh, đấu
với trời, đất và thiên nhiên, đặt con người lên trên và chống lại tự nhiên. Mao
Trạch Đông nói: “Đấu với trời là niềm vui vô tận, đấu với đất là niềm
vui vô tận, và đấu với người là niềm vui vô tận”.
Theo Ph.Ăngghen, cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản, tự do là sự thừa nhận tính
tất yếu. Mao bổ sung: “và là sự cải tạo thế giới”. Những điều
này làm sáng tỏ quan điểm của ĐCSTQ về tự nhiên, tức là cần phải thay đổi thứ
gì đó. Như đã chỉ ra trong Cửu Bình (Chín bài bình luận về Đảng Cộng sản),
trong hệ tư tưởng cộng sản, “tính tất yếu” là một vấn đề nằm ngoài tầm nhìn của
họ và họ không thể hiểu được nguồn gốc của nó. Họ cho rằng bằng cách huy động ý
thức chủ quan của con người để hiểu biết các quy luật khách quan thì có thể
chinh phục được tự nhiên và con người. Sự kiêu ngạo này có thể được nhìn thấy
qua các bài hát dân gian trong thời kỳ Đại nhảy vọt:
“Hãy để cho núi phải cúi đầu và sông phải dẹp sang một bên”;
“Không có Ngọc Hoàng Thượng Đế trên trời và không có Long Vương dưới đất.
Ta là Ngọc Hoàng Thượng Đế và ta là Long Vương. Ta ra lệnh cho tam núi ngũ đèo
phải dẹp sang một bên, ta đã đến đây!”
Dẫn dắt bởi triết lý đấu tranh này, trong suốt lịch sử của nó, ĐCSTQ đã thực
hiện vô số chính sách phá hủy sự cân bằng trong tự nhiên và thế giới hài hòa vốn
có. Đây là điều có thể thấy phần nào thông qua cuộc khủng hoảng nước ở Trung Quốc
và cách mà chính quyền Trung Quốc chiến đấu với tình trạng này.
Như được tiết lộ trong Cửu Bình:
“Có nhiều hồ chứa nước cỡ lớn được xây dựng ở khu vực Trú Mã Điếm, tỉnh Hồ
Nam. Năm 1975, những cái đập của các hồ chứa nước đó đã theo nhau sập đổ. Chỉ
trong khoảng hai giờ đồng hồ, 60 nghìn người đã bị chết đuối. Tổng số người chết
đã lên đến 200.000. ĐCSTQ vẫn tiếp tục những hành động tự ý hủy hoại đất đai của
Trung quốc. Đập Tam Hiệp trên sông Trường Giang (sông Dương Tử) và Dự án chuyển
nước từ miền Nam lên miền Bắc đều là những cố gắng của ĐCSTQ nhằm thay đổi hệ
sinh thái tự nhiên với số tiền đầu tư lên đến hàng trăm tỷ đô-la Mỹ. Đó là chưa
kể đến những dự án vừa và nhỏ để “đấu đất”. Hơn nữa, trong nội bộ ĐCSTQ đã có lần
đưa ra đề nghị dùng một quả bom nguyên tử để cho nổ và mở một con đường nối
trên cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng để thay đổi môi trường tự nhiên ở miền Tây
Trung Quốc”.
Hệ tư tưởng nền tảng sai lầm, đạo đức xuống cấp và quy hoạch, quản lý kém cộng
lại đã góp phần gây ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước ở Trung Quốc. Arthur
Barbeau, Giáo sư Danh dự Khoa Lịch sử và Nhân chủng học tại Đại học Bang West
Liberty ở Tây Virginia đã thực hiện 15 chuyến đi đến Trung Quốc và giảng dạy ở
đó trong hơn hai năm. Ông nhớ lại ký ức khó quên của mình về cách các nhà máy
làm ô nhiễm nước và nước đã đầu độc tất cả mọi người ở Trung Quốc như thế nào.
“Tôi đã thấy điều tương tự ở cả Tứ Xuyên và Cam Túc. Nhiều người dân trong
làng không bao giờ sử dụng nước sông để uống. Ngay cả khi hoa màu của họ được
trồng bên cạnh một con sông, họ cũng không sử dụng nước đó để tưới tiêu. Một mục
trên tờ China Daily và trên truyền hình đã đề cập rằng gần một nửa số mẫu gạo
được kiểm tra ở Quảng Châu có mức ô nhiễm độc hại đến mức không thể chấp nhận
được. Tất cả đều đến từ Hồ Nam và Hồ Bắc, nơi công nghiệp hóa đang được tiến
hành”.
“Tại một nhà hàng nhỏ, tôi có kể về câu chuyện kết quả ô nhiễm gạo từ Quảng
Châu. Hai người nông dân ở bàn gần đó nói rằng đó là vì một nhà máy sản xuất
pin đã được xây dựng ở đó và chất thải của nó đã làm ô nhiễm nước tưới. Khi tôi
hỏi người dân địa phương có lo ngại không, họ nói rằng những người nông dân đã
tìm ra cách để đối phó. Họ sẽ giao gạo sử dụng nước tưới từ các hồ đó cho chính
phủ, thuộc hạn ngạch của nhà nước. Còn nông dân sẽ ăn gạo và rau từ những mảnh
đất khác được tưới từ những con suối sạch hơn hoặc từ nước giếng! Họ dường như
không lo lắng rằng ngay cả các tầng chứa nước cũng có thể bị ô nhiễm. Tất
nhiên, họ đã đun sôi nước trà của họ rồi…”.
* Tác giả: Teresa Jones
* Thanh Tâm biên dịch.
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire