Trầm Tư về VĂN HIẾN VIỆT NAM. (12 Bài về Văn Hiến Việt Nam). * Chu Tấn.

I - DẪN NHẬP:
Người dân Việt Nam thường tự hào là nước Việt có bốn ngàn năm Văn Hiến. Song có người hoài nghi đặt câu hỏi có thực như vậy không? và văn hiến có nghĩa là gì? Một số nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa khác lại cho rằng Việt Nam chỉ có 2000 hay 2500 Văn Hiến mà thôi! Cứu cánh nội dung nội hàm của danh từ Văn Hiến- Văn Hiến và những vấn đề thời đại-Nhất là trách nhiệm hay sứ mạng của người con dân Việt đối với nền Văn Hiến nước nhà trong thời đại mới cần được đặt ra như thế nào?  Nhằm trả lời những câu hỏi trên, trong bài chuyên luận này chúng tôi xin đề cập đến:
- Danh từ Văn Hiến được phổ biến rộng khắp trên toàn quốc từ khi nào?
- Định nghĩa danh từ Văn Hiến và lý giải của những nhà nghiên cứu Văn Hóa Văn Hiến thời danh.(Bài Văn Hiến 1)
- Cứu cánh, Nội dung ,Nôi hàm của danh từ Văn Hiến   
- Khẳng định Việt Nam có 5 Ngàn Năm Văn Hiến (Bài Văn Hiến 2).
- Triết lý Hiển Sinh trong dòng sinh mênh Văn Hiến Việt Nam (Bài Văn Hiến 3)  
- Văn Hiến Việt Nam thúc dục chúng ta “Tìm về Nguồn Cội Dân Tộc
(Bài Văn Hiến 4)
 - Văn Hiến Việt Nam và những vấn đề Thời Đại (Bài Văn Hiến 5)
- Văn Hiến Việt Nam và “Quốc nạn Cộng Sản” (Bài Văn Hiến 6)
- Văn Hiến Việt Nam và sinh lộ Tư Do Dân Chủ (Bài Văn Hiến 7)
- Văn Hiến Việt Nam và cơ chế Dân Chủ Đa Nguyên (Bài Văn Hiến 8)
- Văn Hiến Việt Nam và “Bản Hiến Pháp tương lai cho Việt Nam hậu Cộng Sản” (Bài Văn Hiến 9)
- Văn Hiến Việt Nam và Vấn đề “Đào tạo Nhân Tài” cho Quốc Gia (Bài Văn Hiến 10)
- Văn Hiến Việt Nam “Quốc sách thăng tiến toàn diện đời sống quốc dân” (Bài Văn Hiến 11)
 - Sứ Mạng Kế thừa, Phục Hiến, Phát Huy Văn Hiến Việt Nam (Bài Văn Hiến 12)
II- DANH TỪ VĂN HIẾN ĐƯỢC PHỔ BIẾN RỘNG KHẮP TRÊN TOÀN QUỐC TỪ KHI NÀO? 
Danh từ VănHiến đã có tại Việt Nam từ xa xưa. Có thể nói ngay từ thời đại các vua Hùng Vương dựng nước, Việt Nam đã là một quốc Gia văn Hiến.Tuy nhiên từ giới trí thức, đến quần chúng Quốc Dân  được biết   đến hay nghe nói đến Văn Hiến  là do 3 sự kiện sau đây:
Một : Thời nhà Hán , chính Hán Hiến Đế (189- 220) đã phải thừa nhân: "Giao Chỉ là đất Văn Hiến, núi sông hun đúc, trân bảo rất nhiều, văn vật khả quan, nhân tài kiệt xuất " 
Hai: Từ khi vua Thái Tổ nhà Minh lên ngôi Dịch Tế Dân được phái sang thông hiếu với nước ta, vua Dụ Tông nhà Trần sai Doãn Thuấn Thuần sang sứ nhà Minh đáp lễ. Vua nhà Minh trong khi ủy lạo sứ thần nứớc ta ðã khen phong tục, y phục của dân ta vẫn giữ nguyên văn minh Trung Hoa từ thời nhà Chu và nhà Tống, nhân đó ngự ban cho mấy câu thơ như sau:
An Nam tế hữu Trần
Phong tục bất Nguyên nhân
Y quan Chu chế độ
Lễ nhạc Tống quần thần
(An Nam có họ Trần
 phong tục không theo Nguyên
 Áo mũ vẫn theo chế độ nhà Chu
 Lễ nhạc vẫn hệt như vua tôi nhà Tống)
 Sau đó vua nhà Minh còn tặng bốn chữ "Văn Hiến Chi Bang" và thăng địa vị cho sứ thần ĐạiViệt lên trên sứ thần Triều Tiên ba cấp. Đồng thời khi sứ thần ta ra về, vua nha Minh lại sai Ngưu Lượng mang sắc và ấn vàng sang phong thưởng cho vua ta.[1]
Ba: Sau mười năm chiến thắng giặc Minh, Bình Định Vương Lê Lợi  đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh ra khỏi bờ cõi, Ngài bèn cử ông Nguyễn Trãi (138O- 1442) làm bài "Bình Ngô Ðại cáo"(Báo cáo rộng rãi công việc bình định giặc Ngô tức quân MInh) vừa để tôn vinh chiến thắng oanh liệt của quân ta, vừa  để nêu cao chính nghĩa Tự chủ của dân-tộc. Bài Bình Ngô  Ðại cáo ấy là một áng văn tuyệt tác, được coi là bản "thiên cổ hùng văn" của nước ta, là bản Tuyên Ngôn Độc lập thứ hai sau bài Tuyên Ngôn Độc Lập thứ nhất "Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư" của Lý Thường Kiệt . Đức Nguyễn Trãi  đã mở đầu bài Đại Cáo  Bình Ngô như sau:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
 Chỉ nước Đại Việt ta từ trước
Mới có nền văn hiến ngàn năm
 Sơn hà cương vực đã chia,
 Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần
 Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên
 Mỗi bên hùng cứ một phương
 Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Nhưng hào kiệt thời nào cũng có …”
Chiến lược gia đại tài Nguyễn Trãi đã khẳng định là: “Duy ngã Đại Việt chi quốc, Thực vi văn hiến chi bang .” có nghĩa là “ Chỉ có nước Đại Việt ta từ trước, Mới có nền văn hiến ngàn năm .!”.
Qua 2 sự kiện 1 và 2 nói trên,Hán Hiến Đế  và Minh Thái Tổ đều công nhân Nước Việt Nam ta là nước  có nền Văn Hiến lâu đời  đầy cao quý
( Việt Nam  Văn Hiến chi bang ) Tuy nhiên sự công nhận này mới chỉ được phổ biến trong giới chính trị, hay giới nho sĩ trí thức nói chung !
Phải đợi đến sự kiên thứ ba: Năm 1428  sau khi chiến thắng giặc Minh, Bài "Bình Ngô Đại Cáo" của Đức Nguyễn Trãi  một bản Đại hùng ca  tuyên xưng  một cách chính đáng và vô cùng tự hào:
"Chỉ nước Việt ta từ trước
Mới có nền Văn Hiến ngàn năm"
Bài "Bình Ngô Đại cáo" được phổ biến rộng rãi trên toàn quốc thấm vào tim óc của hàng triệu con dân đất Việt, lưu truyền cho hằng hằng  thế hệ  "Con Rồng Cháu Tiên" muôn thuở về sau....
Chú Thích: [1] Xen Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi- Lý tử Tấn  Chương XLVIII, bản dịch của Á Nam Trần Tuấn Khải của miền Nam, và Chương 48, bản dịch của của Viện Sử Học Hà Nội.
III - ĐỊNH NGHĨA  DANH TỪ VĂN HIẾN VÀ LÝ GIẢI CỦA  NHỮNG NHÀ NGHIÊN CỨU VĂN HÓA VĂN HIẾN THỜI DANH:
(Bài Văn Hiến 1)
Những vị nghiên cứu về Văn Hiến có những lý giải khác nhau hoặc tương tự nhau- có rất nhiều- Trong phạm vi bài tham luận này, chúng tôi chỉ xin giới thiệu 4 vị tiêu biểu như dưới đây: 
       1- Nhân định của Học Giả Nguyễn Đăng Thục:
  @ Định nghĩa Văn Hiến: "Nói đến Văn hiến là ngụ ý có văn chương bút ký và người hiền tài, có công trình xây dựng cho nước, cho dân mà đời sau còn tôn thờ làm Anh hùng Dân tộc".
 @ Việt Nam có 4 ngàn năm Văn Hiến hay không ?
Theo học giả Nguyễn Đăng Thục muốn xác định Việt Nam có 4 ngàn năm Văn Hiến chúng ta phải nghiên cứu về cổ sử:phong tục, tập quán và những sắc thái đặc thù của giống nòi Dân Tộc Việt Nam...
  ""Theo giáo sư La Hương Lâm là nhà sử học danh tiếng Trung Quốc hiện đại, trong tác phẩm “Bách Việt nguyên lưu dữ văn hóa”: Việt tộc thời cổ lấy cắt tóc vẽ mình “bị phát văn thân” làm dấu hiệu đặc trưng duy nhất. Mặc tử thiên “Cống Mạnh” “Việt vương Câu Tiễn phát văn thân”.Hàn Phi tử thiên Thuyết lâm: “Lũ vì lý chi dã, nhi Việt nhân tiện hành, cảo vi quán chi dã, nhi Việt nhân bị phát”: “dép gai làm giầy mà người Việt đi chân, the lụa làm mũ mà người Việt búi tóc”. “Hán thư địa lý chí” viết: “Nay Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Châu, Nam Hải, Nhật Nam đều là địa phận của người Việt, là sau vua Vũ, con thứ vua Thiếu Khang Đế, được phong ấp ở Cối Kê, vẽ mình cắt tóc để tránh cái hại về giao long, thuồng luồng, cá sấu”. Tóm lại, các sách cổ Hán văn đều ghi từ kỷ nguyên trước kỷ nguyên Thiên Chúa, ở phương Nam nước Tàu ngày nay có một giống người có tục vẽ mình, Văn Lang phân chia ra nhiều bộ lạc mà sử gia giáo thụ La Hương Lâm đã kê cứu: Ô Việt, Âu Việt, Mân Việt, Dương Việt, Sơn Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Tây Âu Việt, Việt Thường, Đan Việt, Đằng Việt, Điều Việt, Việt Tuỷ, Cứu Việt, Dạ Lang, Quỳ Việt v.v… Đấy là tổng danh Bách Việt vậy.
Giáo sư L.E.Aurousseau trường Viễn Đông bác cổ cũng căn cứ cái tục Văn Lang, nghĩa đen là bộ lạc giống người vẽ mình để truy nguyên nòi giống Việt, căn cứ vào đoạn văn Sử ký sau đây: “Tiễn phát văn thân thố tí tả nhậm Âu Việt chi dân dã” (Sử ký q.43 tờ 9) Nghĩa là: “Cắt tóc vẽ mình, khoanh tay, cài bên trái, đấy là tục của dân Âu Việt”. Và chú giải của Tư Mã Thành rằng: “Họ Lưu bảo ngày nay (đầu thế kỷ thứ VIII) người quận Châu Nhai và Đàm Nhĩ có Âu Việt”. Trương Thủ Tiết (737) giải thích: “Tôi nghĩ gọi là Âu Việt bởi vì dân ấy thuộc về Nam Việt. Theo “Dư Địa chí” thì Giao Chỉ là xứ Lạc Việt thời nhà Chu (841-256 tr.cn), đến thời nhà Tần gọi là Tây Âu. Vẽ mình, ngắn tóc để tránh rồng (cá sấu). Nếu người ta gọi là Âu Lạc phía Tây (Tây Âu Lạc) là cũng vì xứ ấy ở về Tây Nam quận Phiên Ngung. Việt với Âu Lạc đều họ Mi. Thế Bản nói người Việt họ Mi cùng với người Sở một tổ vậy.”
Rồi Aurousseau suy luận rằng: “Đoạn văn sử ký Tư Mã Thiên với lời chú giải và văn trích dẫn rất đáng chú ý về nhiều mặt. Những nét phong tục phác họa ở đấy ứng dụng vào cho nhân dân miền Lưỡng Quảng và Bắc kỳ hiện nay vào thời thế kỷ thứ III thứ II tr.cn. Không có gì phân biệt giữa nhân dân trên lãnh thổ rộng lớn ấy cả. Điều ấy rất hợp cho các bộ lạc miền cực Nam là dân An nam tr.cn cho nên có thể kết luận là toàn thể nhân dân tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và đảo Hải Nam là giống người Việt Nam trước thế kỷ II tr.cn. Một danh từ nhân chủng là Việt chỉ định tổng quát. “Mặt khác, một tên họ Mi thời ấy được xác nhận cho người Việt – Việt Quảng Đông và Việt Phúc Kiến. Như vậy có sự quan hệ mật thiết về dòng dõi giữa nhân dân Phúc Kiến và nhân dân các xứ Việt Nam vào thế kỷ thứ III tr.cn. “Danh từ Việt vào giữa thế kỷ thứ IV trước kỷ nguyên Thiên Chúa còn ứng dụng cho một nước mà kinh đô ở tại tỉnh Thiệu Hưng (Triết Giang) ngày nay. Theo tôi hiểu thì nhân dân của nước ấy là nước Đại Việt thuộc về nòi giống Việt phương Nam tức là giống người Việt Nam vậy."
“Một tác phẩm khác cổ xưa, chuyên nói về sự suy bại của nước Việt là “Việt tuyệt thư” (thế kỷ I kỷ nguyên tây lịch) cũng nói ở mục Bản sự rằng: “Vua Việt Câu Tiễn, ở miền duyên hải phía Đông và cai trị một dân mọi vẽ mình”. Cái tên Việt với tục “văn thân” giống nhau ấy là xác chứng danh từ Việt phổ thông chỉ định vào thế kỷ III tr.cn cho toàn thể chủng tộc nhân dân các tỉnh Trung Hoa miền Nam và các xứ Việt Nam. “Cùng một nhân chủng Việt, cùng một họ Mi và cùng một phong tục, như vậy phải kết luận  rằng người Việt Nam nguồn gốc ở nước Việt xưa, thiết dựng tại miền Triết Giang từ bao giờ không biết và, lần đầu thấy ở trong lịch sử chính thức vào cuối thế kỷ IV trước công nguyên” (L.Aurousseau, La première conquête chinoise des pays Annamite (IIIè siècle avant notre ère) BEFEO, t.XXIX, 1929).
Vậy có thể nói chắc rằng thời cổ xưa ở miền Nam nước Trung Hoa có một giống người theo tục vẽ mình gọi là “Văn thân, Văn Lang” phân biệt với giống người Hán tộc ở trên phía bắc Trung Hoa, trong lưu vực Hoàng Hà, còn lưu vực Dương Tử kể từ nước Sở trở xuống là khu vực sinh hoạt của Việt tộc Văn Lang, họ Mi gọi chung là Bách Việt, mà Việt vương Câu Tiễn ở kinh đô Cối Kê, miền Triết Giang đã từng có một thời đế bá oanh liệt"
"Hơn nữa chính sử của ta đều chép về nhà Trần sự kiện sau đây: “Thượng hoàng (Nhân Tông) thường ra ngự cung Trùng Quang. Vua Anh Tông đến chầu có Quốc Công, Quốc Tuấn đi theo. Thượng hoàng nói: Dòng nhà ta vốn sống nghề thuyền chài, đời đời hùng dũng ai ai đều xâm vẽ ở đùi. Đời nọ sang đời kia chuộng võ nghệ nên phải xem xâm vẽ đùi tỏ ra không quên gốc".
" Với những tài liệu của sử học và khảo cổ học mới nhất từ hậu bán thế kỷ thứ 20 của học giả đáng tin cậy, có quan hệ đến cổ sử dân tộc Việt Nam chúng ta có thể tạm kết luận về “Bốn ngàn năm văn hiến” của nền văn hóa dân tộc. Người ta không còn có thể hoài nghi về di tích Cổ Loa với tên nỏ bằng đồng và triều đại nhà Thục của An Dương Vương vào thế kỷ thứ III tr.cn. Như thế thì cũng không có thể phủ nhận cuộc chinh chiến giữa nhà Hồng Bàng của nước Văn Lang, nước người xâm mình ở di tích Phùng Nguyên tỉnh Phú Thọ, Yên Bái theo bờ sông Hồng Hà ngày nay. Văn hóa Phùng Nguyên đã có đồ đồng đặc biệt là cóng bằng đồng với hình thuyền và người chim trạm trước văn hóa Đông Sơn với đặc trưng biểu hiệu của Trống đồng. Đồ đồng ở đây có trước Trung Hoa 1000 năm, vậy thì Văn Lang, Hồng Bàng hay Lạc Việt ít ra phải có trên 4000 năm văn hiến kể tới nay.
Đặc biệt với tinh thần truyền thống dân tộc là cái Trống đồng tiêu biểu cho nền văn hóa Đông Sơn Việt Nam đã từ một dụng cụ kỹ thuật biến thành một đối tượng tín ngưỡng tôn giáo Quốc gia như là một vị Thần linh. Quốc tổ bắt đầu với triều Lý để thành cái Quốc lễ long trọng hàng năm triều đình, từ Vua đến các quan chức đến trước Thần Núi Trống đồng “Đồng cổ sơn thần” để thề trung thành với tổ quốc.
Còn một chứng cứ lịch sử quý hiếm khác đó là lời khắc trên tấm bia đá dựng tại chùa Tam Thai Bắc Việt. Lời bia dịch ra như sau:
“Trải qua các thế hệ chúng ta đã kính thờ thần Đồng cổ. Tiền nhân truyền lại cho chúng ta biết rằng vào thời Hùng Vương (265 tr.cn) nhà vua có cầm quyền dẹp giặc, và dưới triều vua Lý (1028-1253) để thuần phong mỹ tục nhà vua có lập tòa án để phạt kẻ phạm phép. Sơn Thần Đồng cổ là đệ nhất Thượng đẳng Thần cai quản thế gian và bảo vệ hòa bình, nhân loại. Nhờ những công lao phò trợ ấy mà các Đế vương các triều đại đã ban sắc phong cho Thần. Danh tiếng của Thần được lan truyền từ ba bốn ngàn năm nay, do đấy mà nhân dân sâu lắng chúng tôi đều muốn phụng thờ Thần linh quyền năng siêu việt”. Đấy là nét trọng yếu Thần đạo và Phật đạo, Đình với Chùa hợp nhất dung thông trong tin tưởng vào một nước”Bốn ngàn năm văn hiến” mà nhân dân Việt Nam ngày nay đòi trở về nguồn tổ Hùng Vương để biểu dương tinh thần dân tộc bất diệt vậy.[1]
2- Quan điểm của linh mục triết gia Kim Định:
Những điều kiện để một nước thành "Văn Hiến Chi Bang":
Cái làm nên một dân tộc là bộ sách của dân tộc ấy. Thiếu bộ sách nọ không thể có dân tộc trung thực mà chỉ là một đoàn lũ chung sống với nhau trên cùng một mảnh đất với những liên hệ chính trị, kinh tế, binh bị… Phải có sách mới thực có yếu tố trường tồn làm như sợi dây nối các thế hệ xưa với hiện nay thành một thực thể thống nhất về tinh thần, có vậy mới là dân tộc đích thực. Sách càng lớn dân tộc càng to. Nhưng sách lớn không đo bằng số lượng mà bằng mức độ tâm linh được tàng ẩn trong sách và làm như linh hồn sống động của dân, nghĩa là bao nhiêu những việc quan trọng của con người trong nước đều quy chiếu vào đó như trung tâm; càng giàu chất tâm linh sách càng lớn lao và dân tộc càng vĩ đại, vĩ đại đến cấp siêu việt thì nước được gọi là có văn hiến (văn hiến chi bang). Như vậy muốn được gọi là văn hiến thì phải có những văn kiện cao quý, cao quý đến độ khiến được những phần tử tinh anh trong dân hi hiến thân tâm mình cho cái văn đó. Những người này vì thế gọi là hi hiền, hi thánh hay là “hiền nhân quân tử”. Nói vắn tắt muốn nước là “văn hiến chi bang” thì nước phải có Văn và Hiến (hiến tức hiền). Vậy xin hỏi Việt tộc có sách chăng? Có đáng gọi là dân tộc chăng? Thưa không mà có. Không vì chưa có văn tự riêng, đã không chữ viết thì lấy gì mà có sách. Nhưng vậy mà lại có, đó là những “Kinh vô tự” tức những văn kiện được biểu hiện bằng dăm ba bộ số với một mớ huyền thoại và vô số tục ngữ ca dao. Các số này gọi là huyền số, nó không dùng để đo đếm mà dùng để biểu thị cái khác vì vậy chúng làm nên những tiêu điểm khách quan nhưng câm nín nên cần đến những huyền thoại làm như những lời nói lên ý nghĩa. Vậy tuy không có chữ nhưng còn có truyền khẩu mà nội dung là huyền thoại nên kể là có. Hỏi chỉ có số như vậy có đủ giá trị chăng? Thưa quá đủ vì đây đang nói về giá trị văn hóa thuộc tinh thần. Mà tinh thần đi ngược với vật chất. Với vật chất càng to càng hay. Còn với tinh thần thì càng bé càng quý: bé cho đến số Không thì quý vô cùng. Vì thế tất cả các triết lý Đông phương đều đặt nền trên chữ Không. Ấn Độ là Thái Hư, Lão Tử là Cốc Thần (hang trống), Nho là vô thanh vô xú, Việt là Trống (trong chữ trống đồng) muốn nói bằng Nho thì đó là Hư Tâm, cũng là hư linh tức cái tâm có hư có trống rỗng thì mới đạt được linh thiêng. Tóm lại tất cả đều đặt quan trọng và chữ Không, nên giá trị phải tim về phía đó, và đó là bí quyết làm cho nước nên văn hiến, tức là có nền văn hóa giàu chất tâm linh. Để nói lên điều nọ chúng ta có thể dùng bảng Tứ Linh làm thí dụ để biểu lộ quan niệm linh thiêng của Việt Nho nằm trong chỗ hư tâm. (Hinh vẽ Bảng Tứ Linh) Xem bảng tứ linh ta thấy con người được đặt vào giữa bốn con vật: hai con dương có lông là Phượng và Lân (Lân là lông mao, Phượng là lông vũ) hai con âm có vảy là Li và Quy: Li là rồng vàng không có ngà nhưng có vảy, còn Quy thì có mu. Con người ở giữa không có mu không có vảy, không có lông vũ cũng chẳng có lông mao hoàn toàn khoả thân: tức là trần trụi (Need II, 269). Chính nhờ chỗ trần trụi đó mà người được làm chủ tịch 4 con vật linh kia. Bốn con đã linh mà con người còn linh hơn gọi là “nhân linh ư vạn vật”. Ấy chỉ vì chữ khỏa. Nhân vật điển hình trong vụ này là Chử Đồng Tử, không có cả đến cái khố, nhờ vậy mà Chử Đồng Tử đứng vào hàng hi thánh hi hiền tức là những cột trụ cho văn hiến. Đó là nhờ đã trút bỏ hết những cái thuộc trần trược. Trở lại bộ sách dân tộc xin hỏi có bao nhiêu sách và những sách nào? Hãy nhắc lại: các sách Việt toàn là kinh không chữ chỉ biểu hiện bằng bộ số vài ba. Sau khi nghiên cứu mới thấy bộ số đó quả là một thứ con chấm chủ quyền đã đóng vào vô số văn kiện, điển chương, lược đồ, di vật, hiện vật, nên có thể nói đó là bấy nhiêu sách dân tộc. Tuy nhiên vì con chấm đóng hẳn xuống nghĩa là biến dạng nhiều cách nên khó nhận diện, chỉ sau khi đọc toàn bộ mới thấy rõ. Ỡ đây xin kể tạm vài ba quyển thôi, một là sách ước gậy thần của Hùng Vương, hai là sách Tản Viên Ba Vì, ba là Lạc Thư, tất cả đều thành bởi 4 bộ số 2-3, 5, 9. Đó là những sách có tên. Còn không tên thì vô số: như cái trống, cái đình, cái nhà sàn, cái giếng và vô số vật dụng khác đều hàm tàng các số 2-3, đôi khi cả 5, 9 nữa. Cũng phải kể tới những huyền thoại mà nét đặc trưng là vắn tắt hết sức chỉ một vài dòng như truyện “Nữ Thần Mộc dậy anh em Lộ Bàn, Lộ Bộc biết làm nhà chữ Đinh”, vắn tắt có thế nhưng ý nghĩa lại bao la vô tận. Quả đúng như câu châm ngôn triết “nội hàm càng nhỏ ngoại hàm càng to”. Nội hàm rút vào cùng cực thì tỏa ra cũng cùng cực. Nội hàm rút vào còn có một chữ Trống thì tỏa ra man vàn. Viết cả một quyển lớn về trống đồng vẫn thấy chưa nói hết. Nhưng nhiều tới đâu cũng vẫn giữ mối liên hệ ngầm làm nên một cái quán triệt nội tại rất mạnh nói được là có tính cách cơ thể. Trong các kinh vô tự phải kể đến quyển Kinh Dịch. Vì nó có một địa vị đặc biệt ở chỗ có chân trên cả hai bình diện là văn và tự, tức vừa vô tự là không có chữ mà chỉ có số, vì thế gọi là văn; vừa có chữ nên gọi là tự (là các hệ từ). Truy tầm theo lối sinh thành thì thấy Kinh Dịch có đến 5 giai đoạn (theo tam phần thư). Giai đoạn 1 là Dịch thiên nhiên hay đạo Dịch của Trời Đất tức hồn Dịch gặp được trong các NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ MỘT NƯỚC THÀNH “VĂN HIẾN CHI BANG" [2]
3- Nhận định của học giả Hà Văn thùy [3]
"Văn  Hiến là gì?
Văn hiến thuần túy là khái niệm phương Đông, tồn tại trong môi trường văn hóa Hoa-Việt. Vì vậy, muốn tìm nghĩa của Văn hiến, cần phải tra cứu cổ thư. Nhiều học giả cho rằng, từ Văn hiến xuất hiện sớm nhất trong thiên Bát dật sách Luận ngữ: “Tử viết: Hạ lễ, ngô năng ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã; Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng dã; văn hiến bất túc cố dã  ” (子曰夏禮吾能言之杞不足徴也殷禮吾能言之宋不足徴也文獻不足故也 ). Dịch nghĩa: “Lễ nhà Hạ thì ta có thể bàn được, nhưng nước Kỷ chẳng đủ để làm chứng; lễ của nhà Ân, thì ta cũng bàn được, nhưng nước Tống chẳng đủ để làm chứng. Ấy là vì văn hiến hai nước ấy không đủ” (nước Kỷ là dòng dõi nhà Hạ, nước Tống là dòng dõi nhà Ân).  Từ câu nói của Khổng tử toát lên hai nghĩa:
i. Khoảng 2500 năm TCN, Văn hiến đã là chữ dùng quen thuộc nên khi nói, Khổng Tử không cần phải thích nghĩa vì người có học đều hiểu.
ii. Trong một câu ngắn, Khổng Tử hai lần nhắc tới chữ Lễ. Rằng ngài có thể bàn về Lễ của nhà Hạ và nhà Ân nhưng không thể lấy hậu duệ của hai nước này ra để chứng minh vì lẽ văn hiến của hai nước ấy không thể đại diện được! Lễ ở hai nước Kỷ và Tống không còn như xưa chứng tỏ văn hiến của hai nước này thiếu hụt. Điều đó chứng tỏ Khổng Tử quan niệm Lễ là Văn hiến
Nhưng gần hai nghìn năm sau, vào đời Tống, khi chú thích lời Khổng Tử, Chu Hy giảng: “Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã 文典籍也獻賢也, (văn là điển tịch; hiến là người hiền vậy)”. Rõ ràng, khi giảng như thế, Chu Hy đã hiểu khác lời của Khổng Tử. Khi nói tới Lễ là Khổng Tử nói tới mối quan hệ nhân luân giữa con người trong xã hội cũng như con người với thiên nhiên trong đó có thần minh. Chính mối quan hệ hài hòa có tôn ty được gọi là Lễ ấy làm nên Văn hiến. Khổng Tử đánh giá rất cao vai trò của Lễ. Trong Ngũ thường Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, ông đặt Lễ ở trung tâm. Bốn yếu tố Nhân, Nghĩa, Trí, Tín khi đứng riêng, không được thể hiện, là những điều vô nghĩa. Chỉ khi thể hiện ra bằng Lễ, tức là hành động, nó mới có giá trị. Cũng vì vậy, Ngài soạn riêng kinh Lễ. Khổng Tử không cho văn là điển tịch vì nhà Hạ chưa có chữ, còn nhà Ân chữ cũng mới xuất hiện nên chưa thể thành điển tịch. Hiến cũng chưa mang nghĩa hiền tài. Ta có thể hiểu cách giảng của Chu Hy bởi sống sau Khổng Tử gần 2000 năm, điển tịch đã nhiều, hiền tài cũng lắm. Mặt khác, lúc này chính điển tịch và hiền tài đang làm nên văn hiến vì vậy ông “hiện đại hóa” phát ngôn của Khổng Tử!"
4-Nhân định của học giả Hán Nôm Trần Trọng Dương: 
Từ nguyên của từ "văn Hiến" qua bối cảnh trí thức Nho giáo  Việt Nam- Trung Hoa [4]
“Văn hiến” là khái niệm trước nay hay được sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu, nhất là nghiên cứu về lịch sử văn hóa Việt Nam thời Trung đại. Đây là một thuật ngữ của Nho gia có lẽ đã được sử dụng tại Việt Nam trong gần hai thiên niên kỷ qua. Mục đích của bài viết xuất phát từ quan niệm: khi nghiên cứu bất cứ một lĩnh vực nào thì người nghiên cứu nên tự đặt mình vào bối cảnh thời đại cũng như bối cảnh tri thức của thời đại đó, tộc người đó. Điều này sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn từ bên trong, tránh đi lối nhìn đã “hiện đại hóa” của đời sau. Chính vì vậy, bài viết sẽ khảo về từ nguyên của “văn hiến” để ngõ hầu lý giải được phần nào nội hàm của khái niệm này trong quá khứ từ đó góp phần vào việc nghiên cứu văn hiến nói riêng và văn hóa truyền thống nói chung.
Bài viết tiến hành khảo cứu về khái niệm văn hiến theo chiều lịch đại. Phương pháp khảo cứu của chúng tôi gồm các bước sau. Bước thứ nhất, khảo về cách hiểu về văn hiến qua ghi nhận của các từ điển được biên soạn sau khi Nho học bị bãi bỏ. Bước thứ hai, khảo khái niệm văn hiến trong bối cảnh văn hóa và ngôn ngữ của tiếng Hán, từ đó nhằm phân biệt nội hàm của khái niệm này giữa tiếng Việt và tiếng Hán. Bước thứ ba, khảo về khái niệm này thông qua sự ghi nhận của hệ thống từ điển và văn liệu của tiếng Việt lịch sử. Bước thứ tư, khảo về các văn cảnh của Hán văn Việt Nam (qua các tư liệu sử ký, văn bia đề danh tiến sĩ, văn sách đình đối, và các văn bản nghệ thuật khác), để từ đó phân suất các trường nghĩa của khái niệm này từ bối cảnh tri thức Nho học.
1. Từ cách hiểu về “văn hiến” sau khi Nho học bị bãi bỏ
Văn hiến là từ vựng gốc Hán, được viết bằng tự dạng 文獻. Kể từ sau khi Nho học bị bãi bỏ ở Việt Nam năm 1919, và nhất là kể từ sau khi chữ Hán chữ Nôm bị thay thế hoàn toàn vào năm 1945, thì văn hiến cùng những từ gốc Hán khác đã chịu chung một số phận. Đó là sự cắt đoạn rời khỏi lịch sử vốn có của nó. Thêm nữa, việc cắt rời ấy đã khiến cho ngành từ nguyên học gặp rất nhiều khó khăn; ấy là chưa kể đến những thất thiệt khác cho sự đọc hiểu và nghiên cứu về tiếng Việt. Mục này, bài viết sẽ tiến hành khảo lại các định nghĩa của một số từ điển tiếng Việt được biên soạn trong thế kỷ XX, để hiểu thêm về lịch sử các cách định nghĩa cho khái niệm này.
Đại từ điển tiếng Việt (2008) kế thừa và bổ sung “văn hiến: dt. Truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều nhân tài.”[5] Từ điển từ Hán Việt (2007) của Lại Cao Nguyện và Phan Văn Các và Từ điển tiếng Việt (2007) của Trung tâm từ điển ghi: “văn hiến.t.d. truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp”[6]. Từ điển bách khoa Việt Nam (2003) ghi: “văn hiến. truyền thống văn hoá tốt đẹp và lâu đời. Chu Hy đời Tống chú thích một câu trong sách “Luận ngữ” như sau: “Văn là điển tịch; hiến là tốt đẹp, tài giỏi” (sic).Như vậy, “văn hiến” nguyên nghĩa là văn chương, sách vở hay, bảo tồn truyền thống văn hoá lâu đời.”[7] Từ điển tiếng Việt (2000) của Viện Ngôn ngữ học ghi: “văn hiến d.truyền thống văn hóa lâu đời và tốt đẹp.”[8] Từ điển tiếng Việt (tb lần 2, 1977) do Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý bổ sung ghi: “văn hiến.t. Cg. Văn vật. Yêu chuộng văn học, văn hóa: Việt Nam là nước văn hiến”[9] Từ điển Hán Việt từ nguyên (1999) của Bửu Kế ghi: “văn hiến. văn: sách sử. Hiến: kẻ hiền tài…Một nước có nhiều hiền tài có sử sách thì gọi là nước văn hiến”[10]. Tự điển Việt Nam của Ban Thu thư Khai trí (1971) ghi văn hiến cũng như văn minh.[11] Từ điển Việt Nam phổ thông (1951) của Đào Văn Tập, sau ghi giải thích đúng từ nguyên chữ văn hiến, lại phân suất nghĩa thành: “chỉ những cái hay trong một đời, đáng làm gương mẫu” [12]. Việt Nam tân từ điển (1951) của Thanh Nghị ghi: “văn hiến.d. sách vở hay và nhân vật tốt, nghĩa rộng như tiếng văn minh: nghìn năm văn hiến.”[13] Tự điển Việt- Hoa- Pháp (1937) của Gustave Hue ghi nhận văn hiến = văn minh[14]. Hán Việt từ điển giản yếu (1932) của Đào Duy Anh ghi: “văn hiến: sách vở và nhân vật tốt trong một đời.”[15] Việt Nam tự điển (1931) của Hội Khai tríTiến đức ghi: “văn hiến文憲.học hành, hiền đức. Nơi văn hiến”[16]. Tuy nhiên, chữ Hán chế bản sai do đồng âm, nhầm thành . Đây là cuốn từ điển sớm nhất có mục từ này.Các từ điển của A.de Rhodes (1651) cho đến Huình Tịnh Của (1898) đều không thấy ghi nhận.
Có thể nói, các từ điển tiếng Việt hiện đại chỉ phân suất khái niệm này với một nét nghĩa chung chung mơ hồ. Đặc biệt là sự không phân biệt rạch ròi giữa khái niệm văn hóa và văn hiến, coi văn hiến là nền văn hóa tốt đẹp được kéo dài. Gần đây, để kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, bộ sách “Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long” đã được ấn bản với số lượng trang sách lên đến 8000 trang, trong đó tinh thần làm việc của các soạn giả đều bàng bạc một sự mơ hồ về khái niệm. 
Có tác giả, mặc dù sau khi đã bàn qua về từ nguyên của khái niệm văn hiến vẫn sẵn sàng quy tất cả những lĩnh vực như toán học, kiến trúc, thương nghiệp, nghề truyền thống, thiết kế đô thị, và…tinh thần yêu nước vào nội hàm của văn hiến[17]. Hơn thế nữa, cách hiểu ôm đồm ấy còn dẫn đến việc tác giả dùng các khái niệm (văn hiến, văn minh, văn hóa, văn vật,…) một cách lẫn lộn theo cảm hứng và xúc cảm của người cầm bút. 
Năm 1998, Đỗ Trọng Huề đã định nghĩa như sau: “Văn hiến là trình độ văn hóa của một dân tộc đã thoát khỏi bóng tối của thời tiền sử để bước vào ánh sáng của thời kỳ lịch sử”[18]. 
Đặc biệt, trước đó, văn hiến còn được triết gia Kim Định sáng tạo theo phong cách tư duy triết học của mình, bất kể sự thực lịch sử và những giới hạn cho phép của từ nguyên học cũng như văn hóa học và lịch sử tư tưởng. Ông viết: “Văn hiến là những người hy hiến thân tâm cho văn hóa và được người trong nước kính nể nghe theo.Đó là một loại tông đồ và có thể nói ở đây cũng tìm ra được nét đặc trưng của nền văn hóa Việt Nho. Bên Ấn Độ tuy cũng có văn hiến nhưng không vươn lên đến địa vị cao nhất trong xã hội vẫn dành cho tăng lữ Brahmana. Bên Âu Châu còn kém nữa đến độ không có văn hiến, chỉ mới có văn hào, văn sĩ.” [19] Cách định nghĩa của Kim Định xuất phát từ cách ông hiểu về nguyên tự của văn hiến. Ông hiểu văn là văn hóa (theo nghĩa rộng và khá hiện đại), và hiến là hy hiến (hy trong từ hy sinh, hiến với nghĩa cơ bản của nó trong tiếng Hán là dâng hiến). Ông coi văn hiến là một danh từ trỏ người (người hy hiến, như văn hào, văn sĩ), chứng tỏ ông cũng từng biết đến nét nghĩa nguyên gốc thứ hai mà cổ nhân hiểu (hiến còn trỏ hiền nhân). Nhưng tư duy tư biện của ông quá mạnh!
Có thể nói, văn hiến là một khái niệm đến nay khá mơ hồ đối với người hiện đại, nhất là khi nó được so sánh với một số khái niệm khác như văn hóa[20], văn minh[21], văn vật[22]. Thực tế, những thuật ngữ cơ bản trên của ngành văn hóa học đều xuất phát từ kinh điển Nho giáo. Nguyễn Vinh Phúc nói “Phương Tây không có khái niệm văn hiến. Chỉ ở Việt Nam, Trung Quốc và những nước chịu ảnh hưởng của Nho giáo mới có khái niệm này”[23] là hoàn toàn hữu lý. 
Như trên đã bàn, văn hiến là một thuật ngữ của Nho gia, thuật ngữ này đã đi vào hệ thống từ vựng tiếng Việt khá sâu. Sâu đến mức nhiều người Việt (quãng gần 100 năm trở lại đây) dường như đã quên hẳn ý nghĩa từ nguyên của nó vốn được dùng trong quãng thời gian rất dài. Đây là một ví dụ cho thấy sự đứt gãy văn hóa do từ bỏ văn tự truyền thống (chữ Hán và chữ Nôm, và nhiều văn tự truyền thống khác).
Chúng tôi cho rằng từ văn hiến đã gia nhập vào Việt Nam từ trước đây khá lâu. Nếu theo lý thuyết, thì chữ này có thể được đưa vào nước ta cùng với kinh sách của Nho học cách nay 2000 năm, ít nhất từ thời Sĩ Nhiếp. Nhưng từ văn hiến thực sự là một yếu tố của tiếng Việt thì có lẽ chỉ trong khoảng 1200 năm trở lại đây[24]. Để xác định được thời điểm gia nhập của nó, chúng ta có thể tiến hành khảo cứu theo hai hướng. Hướng thứ nhất là tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong một văn bản tiếng Việt qua các văn bản Nôm. Hướng thứ hai là tìm được ngữ liệu cụ thể của nó trong văn bản Hán văn Việt Nam. Nhưng trước khi thực hiện những khảo cứu trên, bài viết sẽ tiến hành nghiên cứu về khái niệm này trong lịch sử tiếng Hán và văn hóa Hán.
2. Khái niệm văn hiến trong lịch sử tiếng Hán
2.1.Sách Luận ngữ thiên Bát dật có đoạn: Tử viết: Hạ lễ, ngô năng ngôn chi, Kỷ bất túc trưng dã; Ân lễ, ngô năng ngôn chi, Tống bất túc trưng dã; văn hiến bất túc cố dã” 子曰夏禮吾能言之杞不足徴也殷禮吾能言之宋不足徴也文獻不足故也 nghĩa là “Lễ nhà Hạ thì ta có thể bàn được, nhưng nước Kỷ (dòng dõi nhà Hạ) chẳng đủ để làm chứng; lễ của nhà Ân, thì ta cũng bàn được, nhưng nước Tống (dòng dõi nhà Ân) chẳng đủ để làm chứng.Ấy là vì văn hiến hai nước ấy không đủ”. Chu Hy chú: Văn, điển tịch dã; hiến, hiền dã 文典籍也獻賢也[25] nghĩa là: văn là điển tịch; hiến là người hiền vậy. 
Đoạn này cho thấy ý rất quan trọngvề văn hiến. Trong đó, ta nên chú ý đến mối quan hệ giữa văn hiến và lễ. Cộng với lời chú của Chu Hy thì ta có thể có tam đoạn luận sau: 
Đoạn 1: Văn hiến = lễ 
Đoạn 2: Văn = điển tịch ; Hiến = người hiền
Đoạn 3 Văn hiến = điển tịch (ghi chép về lễ) + người hiền (người chế lễ, hành lễ)
Đây có thể coi là nghĩa nguyên bản nhất của từ văn hiến từ bối cảnh tri thức của Nho học Trung Quốc, và cũng có thể coi đây là khái niệm trùng khít giữa Nho học Tiên Tần và Tân Nho học. 
2.2. Sách Vũ cống đồi chỉ 禹貢錐指(quyển 19) của Hồ Vịnh đời Thanh: “自兩漢以降嶺南之風氣漸移犀象毒冒珠璣銀銅果布之湊於是乎在魁奇忠信材徳之民於是乎生一以為脂膏之地一以為文獻之邦 nghĩa là “từ đời lưỡng Hán về sau, phong khí Lĩnh Nam[26] dần đổi; cho nên sừng tê, ngà voi, đồi mồi, ngọc bích, vàng, đồng, hoa trái tích tụ đã nhiều; mà những bậc khôi kỳ, trung tín, tài đức xuất hiện cũng lắm, có thể coi [Lĩnh Nam] vừa là đất màu mỡ, vừa là nước văn hiến.”[27]
Đoạn này nhấn mạnh đến nhân vật – yếu tố chủ thể làm nên văn hiến của một đất nước. Nhân vật đó phải là bậc khôi kỳ, có đức trung tín và tài năng theo quan niệm của Nho giáo.
2.3. Từ điển Từ nguyên – cuốn từ điển phổ dụng được soạn vào đầu thế kỷ XX, đã giải thích trên cơ sở định nghĩa của Chu Hy, nên đã viết: “văn trỏ những tư liệu văn tự liên quan đến điển chương chế độ, hiến trỏ những người nghe rộng biết nhiều” [tr.0737]. 
Cách định nghĩa trên đây của từ điển Từ nguyên là tiếp thu tinh thần của Chu Hy. Tuy nhiên, định nghĩa hiến (trỏ những người nghe rộng biết nhiều) lại mang nét nghĩa hơi hẹp hơn so với thực tế. Bậc hiền đương nhiên là “bác lãm quần thư”, tri thức hoàn bị; song tri thức chỉ là một yếu tố, ngoài ra người hiền còn phải đáp ứng nhiều tiêu chí khác như đức độ, khí tiết, phải có chính tích, có trứ thư lập ngôn.
2.4. Từ điển Từ hải sau khi giải thích về từ nguyên, đã ghi nhận nghĩa của chữ văn hiến trong tiếng Hoa hiện nay chỉ còn một nghĩa mở rộng là “những tư liệu văn vật có giá trị lịch sử như: lịch sử văn hiến, đồng thời cũng chỉ những tư liệu sách vở quan trọng liên quan đến một ngành khoa học cụ thể, ví dụ: y học văn hiến. Nay (văn hiến) còn là tên gọi chung cho bất cứ một dạng vật chất nào sử dụng văn tự, tranh ảnh, phù hiệu, để kí tải tri thức, thông tin như: ấn phẩm, băng từ, đĩa CD, băng hình, bản in ốp sét”[28]. 
Tóm lại, có thể nói rằng, từ văn hiến trong tiếng Hán đã thu hẹp nét nghĩa ban đầu của Nho học, mà trỏ chung cho các tư liệu lưu trữ thông tin. Còn từ văn hiến trong các từ điển tiếng Việt hiện đại được biên soạn trong suốt thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI thể hiện sự bất nhất và không tường minh về mặt khái niệm như đã nêu.
3. Từ văn hiến trong tiếng Việt lịch sử
Chúng tôi tìm được văn liệu có niên đại sớm nhất là vào thế kỷ XVII trong cuốn Thiên Nam ngữ lục khi viết về Sĩ Nhiếp/ Tiếp 士燮[29]. Tác phẩm này đã ca ngợi “Nam Giao học tổ” như sau:
Quan quân mà lại thầy ta,
Phủ quân tôn vị hiệu là Sĩ vương
Nước nên “văn hiến chi bang”
Đức giáo chẳng nhường Đậu thị Hà Tây (câu 1930-1933)
Ca ngợi Sĩ Nhiếp ở các mặt: 
tuần này ắt chẳng lo chi
mối giềng đã tỏ, luật lề đã phân
Đồng niên quý thuế có ngần
Quan quân rõ phép, binh dân rõ đường
Điều hòa chế độ kỷ cương
Mở kho giáo hóa, rỡ ràng nhân luân” (c.1924-1928)
Đoạn thơ trên ca ngợi họ Sĩ là bậc vương, bởi ông đã có công giáo hóa biến Giao Chỉ trở thành “văn hiến chi bang”. Về hình thức, ông là “quan quân”, nhưng thực tế ông lại là bậc sư biểu (thầy ta). Bậc sư biểu ấy đã dùng đức giáo để cho dân ta hiểu rõ “mối giềng”, “luật lệ”. Chữ mối giềng dịch từ chữ cương thường. Như thế, văn hiến ở đây tạm có thể phân suất được những nét nghĩa sau: 1.Cương thường (nhân luân); 2. Luật lệ (cho binh và dân); 3. Giáo hóa. Trong đó, cương thường là những thiết chế về mặt huyết tộc và đạo đức xã hội. Luật lệ là những quy phạm mang tính pháp chế và quản lý hành chính nhà nước
Sử cũ đều ca tụng Sĩ Nhiếp là vị quan tốt, rất có uy tín trong dân chúng. Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Vương (Sĩ Nhiếp) độ lượng khoan hậu, khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn sang nương tựa có hàng trăm người”… Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Đoạn trên cho ta hai nét nghĩa nữa của khái niệm văn hiến: 1. thông thi thư (thông: hiểu nằm lòng; thi: Kinh thi; thư: Kinh thư); 2.học Lễ và Nhạc.
Ngữ cảnh tiếng Việt thứ hai mà chúng tôi biết được, xuất hiện trong lời giáng bút của thánh mẫu năm 1923, có đoạn mở đầu như sau:
Sông Nhị núi Nùng, nước bốn ngàn năm văn hiến
Con Hồng cháu Lạc, dân hai mươi triệu đồng bào[30]
Văn cảnh này không cung cấp thêm nét nghĩa nào cho khái niệm văn hiến. Tạm thời chúng tôi không bàn đến quãng thời gian đã được kéo dài bằng tâm lý dân tộc bản vị. Giá trị là ở chỗ, đây là văn cảnh tiếng Việt sớm nhất xuất hiện cụm từ“bốn ngàn năm văn hiến”.
4. Khái niệm văn hiến qua bối cảnh tri thức Nho gia Việt Nam
4.1. Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi do Lý Tử Tấn viết thông luận, có đoạn: “từ khi người Nguyên vào Trung Quốc, về sau thiên hạ biến thành nói tiếng Hồ, mặc áo Hồ. Không thay đổi thì chỉ có nước ta cùng họ Chu ở Kim Lăng, họ triệu ở Kim Sơn mà thôi. Đến khi Thái tổ nhà Minh lên làm vua, sai Dịch Tế Dân sang thông hiếu, vua Dụ Tông sai Doãn Thuấn Thần sang cống nhà Minh. Vua Minh úy lạo hỏi quốc sứ khen phong tục, y phục vẫn giống như văn minh Trung Hoa, ban cho bài thơ ngự chế rằng”: 
安南際有陳 / 風俗不元人
衣冠周制度/ 禮樂宋君臣
An Nam tế hữu Trần/ Phong tục bất Nguyên nhân Y quan Chu chế độ/ Lễ nhạc Tống quân thần.
(đất An Nam có họ Trần/ phong tục không theo người Nguyên áo mũ [31] vẫn theo chế độ nhà Chu/
lễ nhạc vẫn hệt như vua tôi nhà Tống)
Rồi cho bốn chữ “Văn Hiến Chi Bang” và thăng địa vị cho sứ thần của Đại Việt lên trên sứ thần Triều Tiên ba cấp.”[32]
Đây là đoạn thông luận mà Lý Tử Tấn chua cho phần chính văn của Nguyễn Trãi đang gián tiếp bàn về văn hiến, đoạn ấy cụ thể như sau: “Người trong nước không được bắt chước ngôn ngữ và y phục của các nước Ngô[33], Chiêm, Lào, Xiêm, Chân Lạp để làm loạn phong tục trong nước”[34].
Đoạn văn trên cho chúng ta biết một số dữ kiện như sau: 1. Chữ văn hiến được dùng cho Đại Việt vào cuối đời Trần, điều này chứng tỏ 2. Nho sỹ đời Trần mạt ít nhiều tạo dựng được bối cảnh tri thức cũng như bối cảnh văn hóa Nho giáo ở một mức độ nhất định, đến mức vua Minh Thái Tổ làm thơ ngự chế và ban tặng đích danh bốn chữ “văn hiến chi bang文獻之邦” vào năm Đại Trị thứ nhất (1368)[35] 3. Như thế, đây là tư liệu thành văn sớm nhất khảo được (trái với quan niệm phổ biến trước đây, coi chữ văn hiến lần đầu xuất hiện trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi). 
Đoạnvăn trên cũng cho biết một số thông tin cụ thể về nội hàm của khái niệm văn hiến trong bối cảnh tri thức Nho giáo. Đó là bốn yếu tố: 1.Phong tục, 2.chế độ y quan; 3.chế độ lễ nhạc[36]. 4.Ngôn ngữ.
4.2. Chữ văn hiến được đưa vào văn chương trong bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (1428):
維我大越之國/ 實為文獻之邦
Duy ngã Đại Việt chi quốc/ Thực vi văn hiến chi bang
Nghĩa là: Chỉ có nước Đại Việt ta/ Thực là nước văn hiến.
Thế kỷ XV trên bia tiến sĩ ở Văn Miếu Hà Nội khoa Quang Thuận thứ 4 (1463) có ghi đoạn văn sau: “Học trò may được khắc trên bia đá này, phải theo danh nghĩa sửa đức hạnh, bắt chước tính giữ gìn văn hiến”. 
Tuy nhiên, hai ngữ cảnh trên đều không cho biết nội hàm của khái niệm văn hiến. Bình Ngô đại cáo cung cấp một thông tin lịch sử đáng chú ý, đó là sự ghi nhận Đại Việt “vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Phải chăng đây chính là cứ liệu quan trọng (duy nhất!) để các nhà làm từ điển hiện đại phân suất nghĩa của từ văn hiến thành “truyền thống văn hóa lâu đời” như đã nói đến ở trên?
4.3.Bài tựa Tân đính Lĩnh Nam chích quái tự新訂嶺南摘怪序 của Vũ Quỳnh trong sách Lĩnh Nam chích quái 嶺南摘怪được viết năm 1492 có đoạn như sau: 嶺南摘怪之書。所以嵇考古奇幻之事。憑諸俗話。出於群儒記載。蔓引輯述不一。蓋我越文敎最古。較諸國甚遠。其怪誕遺編。默付前鋻皆得於偶語常談。以愈世紀耳。況洪荒事迹。至歷千古。驗之無証著之難明。多有缺疑。豈可詳辨乎哉。Nghĩa là: Vn sách Lĩnh Nam chích quái[37] nhm kho sát nhng vic quái l xưa nay, thường căn cứ vào li k dân gian, do các nhà nho chép thì rt nhiu và không thng nht. Như nền văn hiến nước Vit ta, vn rt c, so vi các nước khác. Biết bao nhiêu điều quái lạ, được ghi li, phn ánh vic xưa, đều là câu chuyện trao đổi hng ngày ca các thi kỳ đó. 
Trong văn cảnh trên, văn hiến được coi như là những ghi chép (thư tịch) về chuyện kể dân gian.
4.4. Bài ký văn bia đề danh Tiến sĩ khoa Đinh Mùi niên hiu Cnh Trị năm thứ 5 (1667) do Nguyn Kiu[38] son và khắc năm Vĩnh Thịnh 13 (1717) có đoạn như sau: “kính nghĩ quc triu nhân nghĩa dng nước, văn hiến nc danh. Khoa thi Tiến sĩ đặt ra t lâu, khắc đá đề tên quy mô to ln…Thc nh mt lòng sửa đức, trăm việc m mang, chính s tốt đẹp ca nước nhà đổi thay rng r, hin tài trong thiên h nượp nượp kéo về… Đến nay, hoàng thượng vẻ vang kế thừa ngôi báu, hết sức xây đắp cơ đồ, nắm giữ quyền bàn bạc nghi lễ, theo thể thức tôn quý người hiền…Như vậy đủ biết sự chế tác của thánh triều có quan hệ đến phong hóa”[39]. 
Đoạn văn trên cho biết một số dữ kiện về khái niệm văn hiến như sau: 1.Khoa cử; 2. Văn vật (khắc đá); 3. Hiền tài; 4. Nghi lễ. và 5.Phong hóa (phong tục giáo hóa) [40]. 
4.5. Thế kỷ XIX, trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã viết: “Khi nhà Lê dựng nước, văn hóa lại thịnh dần, hơn 300 năm chế tác đầy đủ kỹ càng, văn hiến đứng đầu trung châu, điển chương rạng cả triều đại” (Văn tịch chí, bản dịch, quyển 4, tr. 41).
4.6. Điện Thái Hòa (Huế) đời Nguyễn còn khắc một bài thơ như sau: 
文獻千年國 / 車書 萬里圖
鴻龐開闢後 / 南服一唐虞
Phiên âm: 
Văn hiến thiên niên quốc 
Xa thư vạn lý đồ 
Hồng Bàng khai tịch hậu 
Nam phục nhất Đường Ngu
Nghĩa là: 
Nước nghìn năm văn hiến
Cơ đồ [41] muôn dặm xa thư
Kể từ sau khi Hồng Bàng mở nước
Nước Nam lại là một Đường Ngu
Dịch thơ: 
Nước văn hiến nghìn năm đã có
Mối xa thư muôn dặm cơ đồ
Hồng Bàng mở nước từ xưa
Nam bang lại một Đường Ngu thái hòa
Đây cũng có thể coi là một định nghĩa nữa về văn hiến. Trong đó, khái niệm quan trọng nhất là Xa thư. Xa là xe, thư là sách. Xa thư nguyên dẫn từ thiên Trung dung中庸sách Lễ ký: kim thiên hạ xa đồng quỹ thư đồng văn 今天下車同軌書同文 nghĩa là “nay thiên hạ: xe cùng cỡ trục, sách chung văn tự”, sau xa thư trỏ thể chế pháp độ của nhà nước theo mô hình Nho giáo. Xét về từ nguyên thì thể chế pháp độ ấy bao gồm văn tự- thư tịch và quy tắc xã hội. Sách Đại Nam quốc sử diễn ca của Phạm Đình Toái có câu: dõi truyền một mối xa thư, cũng là nói về văn hiến nước Đại Nam vậy. 
4.7. Văn miếu Quốc tử giám Hà Nội có đôi câu đối:
南邦文獻千年國
東魯儒宗萬世師
Nam bang văn hiến thiên niên quốc
Đông Lỗ nho tông vạn thế sư
Nam bang là nước ngàn năm văn hiến
Ngài sáng lập đạo Nho ở đất Đông Lỗ là bậc thầy của muôn đời.
Qua nội dung câu đối và bài thơ trên, có thể thấy văn hiến Đại Việt luôn được so sánh, đối chiếu với thời đại thịnh trị viễn cổ là Đường Ngu (nhà Chu) với các nhân vật lý tưởng, các thánh nhân của Nho gia như Chu Công, Khổng Tử. Rõ ràng, văn hiến là một khái niệm của Nho giáo, và được dùng bởi các nhà Nho thuần thành. Văn hiến được dùng để ngợi ca một cảnh tượng thái hòa về chính trị, bình ổn về xã hội và nhân tâm. Đặt trong, bối cảnh như vậy, những biểu tượng và ý nghĩa của khái niệm này đã dần rõ nét. 
4.8. Bài văn sách đình đối của Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân Vũ Tông Phan khoa Bính tuất niên hiệu Minh Mệnh thứ bảy (1826): Hựu dĩ ngã Việt quan chi, Đinh bình sứ quân chi loạn, Lý xưng văn hiến chi bang, Lê phủ thái bình chi vận, trị nhật hà đa dã? 又以我越觀之丁平使君之亂李稱文獻之邦黎撫太平之運治日何多也nghĩa là: “Lại đem [sử] nước Việt ta ra mà xét, triều Đinh thì bình loạn sứ quân, triều Lý thì gọi là nước văn hiến, triều Lê chăm vận thái bình, thời gian trị vì sao nhiều vậy?”[42]
Đến đây, chúng ta thấy, sách vở thư tịch cũ đã ghi chép những đoạn khen ngợi , xác nhận nước ta là “văn hiến chi bang” từ thời Sĩ Nhiếp cho đến Lý, Trần, Lê, Nguyễn. 
4.9. Bài văn sách đình đối của đệ nhị giáp tiến sĩ Nguyễn Đình Dương khoa Canh thìn niên hiệu Tự Đức thứ ba mươi ba (1880): Ngã quốc tố xưng văn hiến, nhi nhân gian thư tịch chi truyền, thực giác quả lậu. Bất duy ngoại quốc chư thư, nhân sở hãn kiến, nhi kinh, sử, tử, điển, diệc sở hãn kiến. 我國素稱文獻而人間書籍之傳實覺果漏不維外國諸書人所罕見而經史子典亦所罕見[43] Nghĩa là : Nước ta vốn xưng là văn hiến mà việc lưu truyền sách vở trong dân gian thực là ít ỏi. Không chỉ có các sách nước ngoài người ta ít được thấy, mà các sách kinh, sử, chư tử, điển chế cũng ít được coi .
5. Phân suất cấu trúc nghĩa của khái niệm văn hiến
Về mặt tự nguyên, Văn có bốn nghĩa: văn tự, ngôn ngữ, văn thư, và văn chương[44], cũng như chỉ những tư liệu nói chung có liên quan đến điển chương chế độ, hiến chỉ người hiền tài, chủ thể sáng tạo có học thức. 
Mặt khác, từ những cứ liệu như đã dẫn ở trên, trong bối cảnh của tri thức Nho giáo, tạm thời có thể phân suất nghĩa của khái niệm văn hiến như sau. 
1.Ngôn ngữ 
2.Văn tự 
3.Sách vở, điển tịch 
4.Văn chương 
5.Các yếu tố văn hóa- chính trị thuộc điển chương, chế độ của Nho giáo, như: chế độ y quan, chế độ lễ nhạc, pháp độ tiên vương, hiến pháp hoàng triều. Điển chương là “các khuôn phép lễ chế từ vua trước đặt ra’[45], chế độ là “những phép tắc định lập rõ ràng”[46], pháp độ là những quy định tiêu chuẩn (pháp) về hành vi để đánh giá (độ) phẩm hạnh, đức độ, học vấn của một người. 
6.Phong tục (phong giáo): những ảnh hưởng của chế độ lễ nhạc quan phương đối với cộng đồng xã hội. 
7. Giáo dục và chế độ khoa cử. 
8. Người hiền tài (chủ yếu trỏ Nho sĩ, nhưng bản thân mỗi Nho sĩ lại là một phức thể dung hội Tam giáo và có thể còn hơn thế nữa, nên đối tượng ngoại diên thuộc loại hình nhân vật lịch sử này cũng khá là phong phú). 
Có thể biểu diễn cấu trúc khái niệm văn hiến qua mô hình sau:
Tuy nhiên, ở từng yếu tố cũng cần phải có sự phân định một cách cụ thể. Thư tịch gồm những loại sách gì? Theo phân loại thời trung đại thì thư tịch được chia ra làm kinh, sử, tử, tập, tức các sách kinh điển, sách lịch sử, các sách trước tác của kẻ sĩ và các sách biên soạn lại khác. Theo thi gian, thì thư tch chia làm hai loi: 1. C thư (sách v ca người xưa để li) và 2. Kim thư (sách do người đương thi son). Vì thế, khi nghiên cu về văn hiến đời nào đó ở din thư tch, thì s có hai hướng nghiên cu. Th nht là vic nghiên cu c thư thuc v nghiên cu thư mc hc. Cách nghiên cu này da vào các bthư mc ca tng thời đại để có th biết được khi lượng tri thc của đời đó như thế nào.Th hai là nghiên cu sách v trước tác vào một giai đoạn lch s c thể đó. Và cuối cùng, đối với người nghiên cứu,thư tịch còn bao gồm cả những sách vở của đời sau sưu tập hay biên soạn về thời đại đó nữa. 
Mặt khác,mối quan hệ giữa các yếu tố của khái niệm văn hiến cũng cần phải bàn đến.Ngôn ngữ văn tự được coi là yếu tố tiên quyết của một quốc gia văn hiến. Đặc biệt là văn tự,văn tự là một trong những phát minh quan trọng nhất để xác độ trình độ phát triển của một dân tộc.Có văn tự thì mới có thể ký chép sách vở.Sách vở có tính truyền thống, có ảnh hưởng đến nhiều người, là khuôn mẫu của muôn đời thì gọi là kinh điển.Kinh điển của cổ nhân là nguồn tri thức quan trọng nhất để tích lũy các tri thức và tạo nguồn cho trí thức của một cộng đồng.Khi đã có được vị trí nhất định trong một hệ thống chính trị quan phương, giới trí thức sẽ góp phần quan trọng để tái tạo và thi hành những điển chương của cổ nhân; đồng thời họ cũng sẽ tiến hành kiến tạo những chế độ mới, điển chương mới, phép tắc mới. Thêm nữa, bất kỳ một quan lại nào theo lối học cử tử ngày xưa cũng đồng thời là một văn sỹ. Cho nên, các sách vở biên soạn của cá nhân mỗi người cũng có thể coi là một nguồn thư tịch góp phần làm nên văn hiến của thời đó.Dù văn chương, lịch sử hay sách tư tưởng triết học đều xoay quanh khía cạnh điển chương giáo hóa, với chức năng “văn dĩ tải đạo”, “củng cố hồng đồ”. Sách vở góp phần tạo nên nhân tài với những chuẩn tắc của quá khứ, nhân tài dựa vào những chuẩn tắc cũ để thiết lập nên hệ thống chuẩn tắc mới (mang màu sắc cổ nhân) và biên soạn những sách vở mới. Đây có thể coi là một mô hình tái tạo tuần hoàn và sáng tạo khép kín của những nền văn hóa thuộc ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo. 
Có thể thấy văn tự, thư tịch, hiền tài và điển chương chế độ là sản phẩm là kết quả của các hành vi chính trị –văn hóa.Chúng là phần nổi, phần dễ nhìn thấy của các hoạt động xã hội. Cụ thể, thư tịch là kết quả của quá trình biên soạn, trước tác, dịch thuật của cá nhân cũng như nhà nước. Hiền tài vừa là sản phẩm tự thân vừa là sản phẩm chính thống của chế độ khoa cử. Điển chương chế độ là yếu tố lũy tích của các triều đại, qua rất nhiều lần “chế lễ tác nhạc, định triều quy” (tức hành vi thiết định pháp độ và hệ thống hành chính). Các quá trình hoạt động văn hóa xã hội trên đều có thể quy vào quá trình kiến tạo văn hiến. Có thể thấy rõ điều này qua mô hình dưới đây.

Mô hình văn hiến và kiến tạo văn hiến trên đây tạm có thể coi như là bảng chuẩn để tiến hành khảo sát từng tiêu chí qua từng trường hợp cụ thể cho các giai đoạn lịch sử nhất định nào đó. Việc khảo sát này dựa trên những thư tịch cổ còn lại, cũng có khi có sự kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây. 

Tiểu kết: Bài viết, từ việc khảo sát các văn cảnh xuất hiện chữ “văn hiến” trong các thư tịch Nho gia, đã phân suất được tám nét nghĩa của khái niệm này trong bối cảnh tri thức của những người biên soạn (là các nhà Nho) trong chiều dài lịch sử quãng 600 năm. Sự khảo sát này chỉ có tính chất thao tác và thực hiện thí điểm, chứ chưa phải đã bao quát hết toàn bộ tư liệu sách vở cổ của Việt Nam trong thời Trung đại, vì thế, kết luận và mô hình đưa ra ở đây tạm chỉ gói gọn trong những tư liệu mà chúng tôi hiện có. Việc áp dụng mô hình cấu trúc văn hiến từ bối cảnh tri thức Nho giáo cũng như khảo sát hoạt động kiến tạo văn hiến của các triều đại quân chủ trước đây cần được khảo sát qua từng nhân vật hay thời đại cụ thể từ đó mới cho phép chúng ta có một hình dung bước đầu về một nền văn hiến của dân tộc, góp phần vào việc nghiên cứu so sánh sự tiếp xúc văn hóa giữa Việt Nam và trung Hoa trong quá khứ xa xưa".

IV- CỨU CÁNH,NỘI DUNG, NỘI HÀM CỦA DANH TỪ VĂN HIẾN:

Qua công phu sưu tầm nhận định của học giả Hán Nôm Trần Trọng Dương (ở trên), đã xác định được 8 yếu tố làm thành Văn Hiến Việt Nam:

1- Ngôn ngữ.

2- Văn Tự

3- Sách vở, điển tịch

4- Văn chương.

5- Các yếu tố Văn Hóa, Chính trị...

6- Phong tục, Tập quán.

7- Giáo dục và chế độ khoa cử.

8- Người Hiền Tài.

Và đã thiết định được 5 phương thức kiến tạo Văn Hiến:

1- Sáng tạo và sử dụng văn tự

2- Trước tác,biên soạn, dịch thuật...

3- Thiết dựng chế độ khoa cử.

4- Thiết dựng Pháp độ.

5- Thiết dựng phong tục.

Giờ đây,chúng  ta cần đi sâu, tìm hiểu cứu cánh, nội dung, nội hàm của danh từ Văn Hiến trên các phương diện:

1/ Văn Hiến về phương diện nòi giống:

Nếu người Nhật tự hào là con cháu của Thái Dương Thần Nữ: thì người Việt Nam tư hào là thuộc nòi giống: CON RỒNG CHÁU TIÊN (Rồng là biểu hiện cho sức mạnh và sự biến hóa, Tiên là  trượng trưng cho sự trong sạch và thiêng liêng...)

2/ Văn Hiến về phương diện chủ thể con người:

-   Văn Hiến là kết tinh tỏa sáng trí tuệ, lương tri và phẩm giá con người Việt Nam.

-Văn Hiến thăng hoa chủ thể Con Người

- Văn Hóa trhăng hoa chủ thể Quần Chúng Quốc Dân

3/ Văn Hiến về phương diện Xã Hội:

Văn Hiến thể hiện nếp sống trung thực, thuần hậu, hài hòa,đạt cứu cánh thiện hảo, tương thân tương ái:

" Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương  nhau cùng"

"Thương người như hể thương thân"...

"Miếng khi đói bằng gói khi no", "Chị ngã em nâng","Là lành đùm lá rách, lá rách đùm lá tả tơi"....

4/ Văn Hiến về phương diện Văn Hóa;

Văn Hiến thể hiện nền Văn Hóa Việt vượt thoát mâu thuẫn, hóa giải mâu thuẫn  tiến tới Chân Thiện Mỹ, Chân Minh Hoan, Chân Thiện Nhẫn, Văn hóa Việt thấm nhuần tinh thần Văn Hiến nên cũng là nền văn hóa hiếu học, hiếu khách,cần cù lao động, yêu thích thơ văn.. Nền văn hóa Việt cũng là nền văn hóa biết ơn:"Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" "Uông nước nhớ Nguồn"...

5/ Văn Hiến về phương diện Văn Minh:

Văn Hiến thể hiện nền văn minh trọn vẹn: vừa là văn minh vật chất (thực dụng ) vừa là Văn Minh tinh thần, Đạo học, Tâm linh 

6/ Văn Hiến về phương diện Nhân Văn:

Văn Hiến có chủ đích phát huy  tinh thần "Nhân văn cao đẹp" trong con người Vệt Nam nói riêng và trong quần chúng Quốc Dân Việt Nam nói chung.

7/ Văn Hiến về phương diện Dân Tộc: 

 Văn Hiến nêu cao tinh thần yêu nước, thương dân, sống có ý thức, có lý tưởng cao cả: "Sống nhục sao bằng thác trong" "sống cương trực, khí tiết, "Sống Hướng Thượng và Hướng  tha" (Hướng thượng là hướng về tâm linh.Hướng tha là sống vì người, cho người, sống hy hiến thân mình cho đời, cho quê hương Đất Nước) quyết tâm giữ gìn Bản sắc Dân Tộc, hun đúc tinh thần Bất khuát, Đoàn kết chống xâm lăng....Tỏa sáng tinh thần Diên Hồng: toàn dân một lòng, cả nước đánh giặc ...

8/  Văn Hiếnvề phương diên Quốc Gia:

Văn-hiến là nền tảng hình thành độc lập, tựchủ,và chủ quyền bất khả xâm phạm của Tổ Quốc.

9/ Văn Hiến và Chân Lý Tinh Hoa Sự Sống:

 Văn Hiến không chỉ là Nếp Sống, Ý thức Sống, Lý tưởng Sống, Chuẩn mực Sống,Quan niệm Sống, Cứu cánh Sống "Chí Nhân Đại Nghĩa"...Văn Hiến còn là ngọn lửa thiêng ngàn đời bất diệt của ĐẠO SỐNG VIỆT NAM   

 

Chú Thích

 [1 ]http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/21195-bon-ngan-nam-van-hien/

[2]] Trích Hùng Việt Sử Ca -Thằng Mõ xuất bản  1984.

[3]"Đối Thoại Soi Sáng Lịch Sử"- Tập 2 Tác giả  Hà Văn Thùy  Nhân Ảnh Xuất bản 2020  Trang 279

[4]https://tunguyenhoc.wordpress.com/2012/06/11/tu-nguyen-cua-tu-van-hien-qua-boi-canh-tri-thuc-nho-giao-viet-nam-trung-hoa-tran-tron

[5] Nguyễn Như Ý (chủ biên). Đại từ điển tiếng Việt.Nxb.Đại họcQuốc giaTp Hồ Chí Minh.Tr.1744.

[6] Lại Cao Nguyện và Phan Văn Cá.2007 Từ điển Hán Việt.Nxb.KHXH. H.tr534. 

Trung tâm Từ điển học Vietlex. 2007. Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng. tr.1697.

[7] Erreur ! Référence de lien hypertexte non valide.;

[8] Viện Ngôn ngữ học.2000.Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng & TT từ điển học. tr. 1100.

[9] Từ điển tiếng Việt (tb lần 2, 1977). Nxb. KHXH.H. tr.846.

[10] Bửu Cầm.(1999).Từ điển Hán Việt từ nguyên.Nxb.Thuận Hóa.Tr.2309.

[11] Ban Tu thư Khai trí, (1971), Tự- điển Việt Nam , Nhà sách Khai trí 62 Lê Lợi Sài Gòn. Tr.911. 

[12] Đào Văn Tập,(1951),Từ điển Việt Nam phổ thông, Nhà sách Vĩnh Bảo, Sài Gòn.Tr.689.

[13] Thanh Nghị.(1951).Việt Nam tân từ điển,Nhà in Thời Thế 185/54 đường Colonel Grimaud- Saigon. tr.1428.

[14] Gustave Hue, (1937), Dictionaire Vietnamien Chinois Français ( Tự điển Việt- Hoa- Pháp), Nhà sách Khai trí, 62,Lê Lai-Saigon, 1971 (in theo ấn bản Imprimerie Trung Hòa). Tr.1113.

[15] Đào Duy Anh, (2001 -in theo ấn bản cũ 1932), Từ điển Hán Việt , Nxb Khoa học Xã hội, Tp Hồ Chí Minh. Tr.537. 

[16] Hội Khai trí Tiến đứ,(1931),Việt Nam tự điển,HANOI Imprimerie Trung-Bac Tan-Van.Mặc Lâm xuất bản. tr. 626.

[17] Xem Nguyễn Vinh Phúc.2009.Sự hiện diện của văn hiến Thăng Long. Erreur ! Référence de lien hypertexte non valide.;

[18] Xem Đỗ Trng Huề. 1998. Văn Hóa Và Văn Chương, Đặc San Gió Việt.Calgary,Canada. 

[19] Kim-Định1979.Hồn Nướcvới Lễ Gia Tiên. USA.tr.303. 
[20] Văn hóa文化 là cách nói tắt của cụm văn chương giáo hóa: tức là dùng văn chương dạy dỗ, để cảm hóa và biến đổi đời sống tinh thần cũng như đời sống vật chất của một người hay một cộng đồng xã hội. Từ điển của Hội Khai trí Tiến đức ghi: “văn hóa: sự giáo dục do văn học đã thấm thía vào trí não người ta” [tr.626] Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi: “văn hóa: văn vật và giáo hóa, dùng văn tự mà giáo hóa cho người”

[21] Tạm thời có thể phân suất nghĩa từ nguyên của từ văn minh 文明như sau nghĩa thứ nhất là rực rỡ.Cái đức của nó cương kiện và văn minh, ứng với trời thì mùa vận hành, cho nên đứng đầu và hanh thông (Kinh dịch, quẻ Đại hữu).2.Tt.Văn vẻ và sáng rực rỡ (dùng cho đạo đức, Nho), Vua Thuấn uyên thâm và văn minh (Tuấn triết văn minh) (Kinh Thư). 3. Tt.Trạng thái có giáo hóa, có đạo đức, có lễ nghi, có điển tắc. Thánh Tông Thuần Hoàng Đế sáng lập pháp chế, mở ra muôn đời văn minh (ĐVSKTT) Họ Đinh vốn dòng họ đàn anh, giữ được đất xa, có lòng hâm mộ phong thói văn minh, thường tỏ ý muốn phụ thuộc với Trung Quốc. (KĐVSTGCM) Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ hai thái thú ấy.(ĐVSKTT) Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi: “cái tia của đạo đức phát hiện ra ở nơi chính trị, pháp luật, học thuật, điển chương,…” [tr.537].

[22] Văn vật 文物 1. dt.Những dấu ấn về vật chất thể hiện văn hiến của một triều đại.Thái tổ Hoàng đế ta được nhà Chu nhường ngôi, thanh danh, văn vật, biến đổi trở lại như xưa. (An Nam chí lược)// Vua khéo biết kế thừa, cho nên thời cuộc đi tới thái bình, chính trị trở nên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng, cũng là bậc vua tốt của triều Trần. (ĐVSKTT) 2. Dt. Các di vật cổ có giá trị về lịch sử và nghệ thuật. Hà Nội nghìn năm văn vật. KTTD chú văn vật nghĩa như văn hiến. Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi: “những sản vật của văn hóa như lễ nhạc, chế độ” [tr.539]

[23] Nguyễn Vinh Phúc.Sdd.

[24] Nguyễn NgọcSan..2003.Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử,Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội. 

Nguyễn Tài Cẩn. 2001Thử phân kỳ lịch sử 12 thế kỷcủa tiếng Việt. Trong “Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa”. Nxb. Đại học Quốc Gia Hà Nội. Tr.401-411. 

[25]Tứ thư dại toàn四書大全. Luận ngữ tập chú đại toàn論語集註大全(quyển 3 卷三).Bát dật đệ tam八佾第三. tr.14b.

[26] Lĩnh Nam: trỏ toàn bộ vùng đất từ phía Nam dãy Ngũ Lĩnh trở lại, gồm phần đất thuộc Quảng Đông, Quảng Tây và nước ta.Với người Việt, từ Lĩnh Nam cũng được dùng để trỏ lãnh thổ quốc gia của nước mình. Đại Nam quốc sử diễn ca có câu: Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta. 

[27] Hồ Vị胡渭.( 乾隆四十三年Kiền Long tứ thập tam niên). Vũ cống đồi chỉ (hai mươi quyển)禹貢錐指二十巻.

[28] Từ hải. tr.1860.

[29] Sĩ Nhiếp 士燮 (137-226) tự là Ngạn Tín, người đất Quảng Tín, quận Thương Ngô, là Thái thú Giao Chỉ từ năm 187 đến năm 226 (cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc). Sĩ Nhiếp được đánh giá cao nhất bởi có công trong việc duy trì tình trạng hòa bình yên ổn ở Giao Chỉ trong suốt giai đoạn nội chiến Tam Quốc hết sức phức tạp tại Trung Quốc kéo dài hơn nửa thế kỷ.Chính tích đó giúp Sĩ Nhiếp gần như trở thành một vị vua tự trị của quận Giao Châu, thoát hẳn ra khỏi ảnh hưởng và mệnh lệnh của nhà Hán.Điều đó thể hiện qua lá thư của Viên Huy, vốn là quan nhà Hán bấy giờ đang ở Giao Châu, gửi cho Thượng thư lệnh nhà Hán là Tuân Úc năm Đinh Hợi, Kiến An năm thứ 12 (207) đời Hán. Lá thư có đoạn: “Giao Châu Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị, trong thời buổi đại loạn, giữ vẹn được một quận hơn hai mươi năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn, dẫu Đậu Dung giữ đất Hà Tây cũng không hơn được. Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì chăm xem các sách thư, truyện. Phàm những chỗ biên chép không rõ ràng trong sách Xuân Thu Tả Thị truyện, (tôi) đem hỏi, đều được ông giảng giải cho những chỗ nghi ngờ, đều có kiến giải của bậc thầy, ý tứ rõ ràng, chặt chẽ. Lại như sách Thượng thư, cả cổ văn và kim văn, những ý nghĩa to lớn, ông đều hiểu biết tường tận, đầy đủ.”

Ông được coi là một vị quan cai trị có tài và được giới Nho học phong kiến Việt Nam sau này suy tôn là một trong những nhân vật mở đường cho Nho giáo ở Việt Nam.Nhiều nơi hiện còn thờ ông.

[30] Đào Duy Anh.1989.Nhớ nghĩ chiều hôm (Hồi ký).Nxb.Trẻ. tr. 216-218.Nhân đây xin gửi lời cảm ơn Ts.Nguyễn Xuân Diện đã chỉ dẫn nguồn tư liệu này.

[31] (1).áo và mũ.Thời cổ kẻ sĩ đội mũ trên đầu, nhân thế dùng để trỏ trang phục của lớp người này. (2).chuyên chỉ lễ phục. (3).thay chỉ cho các bậc sĩ đại phu. (4), chỉ văn minh lễ giáo. 

từ điển Từ nguyên dẫn câu trong sách luận ngữ: “quân tử chính kỳ y quan” (người quân tử chỉnh tề mũ áo”, chua là, sau trỏ nơi hoàng đế nghe việc chính sự. [tr.1528]ZDIC.NET  网》

[32] Nguyễn Trãi. An Nam Vũ Cống (q.6). Ngô Ngọ Phong , Nguyễn Thư Hiên , Nguyễn Hi Tư viết tiểu chú và lời bình; Lí Tử Tấn thông luận, Nguyễn Thiên Túng tập chú. Trong Ức trai di tập(7.q).Phúc Khê tàng bản.Ký hiệu.VHv.1772/2-3. tr.30a-30b.Bản dịch tham khảo theo Phan Duy Tiếp và Hà Văn Tấn (hiệu đính, chú thích) trong Nguyễn Trãi Toàn tập tân biên (T2).Nxb.Văn học & TT Nghiên cứu Quốc học. H. tr. 481-482.

Xem thêm NguyễnThanh Tùng.2010. Về lai lịch bài thơ Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục vẫn được xem là của Hồ Quý Ly.Trong “Thông báo Hán Nôm học năm 2009”. Nxb. Thế giới. Hà Nội. tr.1014-1027. 
[33] Tức nhà Nguyên.

[34]Xem chú trên.Sđd.

[35] ĐạiViệtsử ký toànthư (bản kỷ), q.7, tr.28a.

[36] “Tức Lễ và Nhạc,là các phạm trù chính trị và luân lý của Nho gia. Lễ là do điển chương, chế độ, lễ nghi từ thời Tây Chu trở đi phát triển thành. Thuyết văn: “Lễ tức là Lý vậy.Lễ dùng để thờ thần cầu phúc” Như vậy, Lễ lúc ban đầu là để chỉ việc thờ thần, sau mới mở rộng ra Lễ nghi. Sau này, Lễ dần dần tách khỏi Nghi và có ý nghĩa chính trị “trị quốc an bang”. Nhạc là âm nhạc.Thuyết văn: “Nhạc là tên gọi chung của ngũ thanh, Bát âm”. Trịnh Huyền chú thích Lễ Ký- Nhạc Ký: “Bát âm cùng nổi lên một cách hài hoà thì gọi là nhạc. Lễ nhạc gọi gộp thì chỉ chung hình thái ý thức xã hội và quy phạm đạo đức, chế độ đẳng cấp toôg pháp của xã hội nô lệ, xã hội phong kiến.Tác dụng xã hội của nó là “quản lý quốc gia, ổn định xã tắc, giữ gìn trật tự trong nhân dân, làm lợi cho việc nối dõi về sau. (kinh quốc gia, định xã tắc, tự nhân dân, lợi hậu tự).”[Lao Tử- Thịnh Lê (chủ biên).2001.Từ điển Nho- Phật- Đạo.Nxb.Văn học. Hà Nội. tr.728]

[37] Chỉ cuốn sách gốc từ thời Trần, tác giả khuyết danh, mà Trần Thế Pháp đã chép được và đề Tựa năm Nhâm Tý hiệu Hồng Đức 23 (1492) tức bài Cổ thuyết tựa dẫn, trích ở phần sau sách Lĩnh Nam chích quái

[38] “Nguyễn Kiều (1695-1752 hiệu Hạo Hiên, người xã Phú Xá huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Phú Thượng huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội). Ông là chồng của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, 21 tuổi đỗ Tiến sĩ khoa Ất Mùi Vĩnh Thịnh 11 (1715) đời Lê Dụ Tông, làm quan Tả thị lang bộ Binh và được cử đi sứ sang nhà Thanh. Ông là tác giả của 4 bài văn bia tiến sĩ các khoa 1667, 1683, 1697, 1713).” [Theo Trịnh Khắc Mạnh.2006. văn bia đề danh tiến sĩ Việt Nam. Nxb Giáo dục.H]

[39] Trịnh Khắc Mạnh.2006.sđd. 

[40] Từ Hải. tr.1851. 

[41] Trong nguyên văn chữ đồ là một danh từ.Theo Hán ngữ đại tự điển, chữ đồ này mang nghĩa là pháp độ [Q thượng, tr.276], đây cũng là nguyên từ của các chữ cơ đồ, hồng đồ.

[42] Quốctriều Đình đối sách văn ,VHv.318/1(Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

[43] Quốctriều Đình đối sách văn , ký hiệu VHv.318/2 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).

 [44] Xem thêm cách phân sut t nguyên ca Liam Kelley.2003.Vietnam as a ‘Domain of Manifest Civility’ (Văn hiến chi bang). Journal of Southest Asian Studies, Vol.34, No. 1, pp 63-76.

[45] Đào Duy Anh. Sdd. tr276.

[46] Đào Duy Anh. Sdd. tr.158.

 

                                      CHƯƠNG 2

      

V- KHẲNG ĐỊNH VIỆT NAM CÓ 5.000  NĂM VĂN HIẾN

(Bài Văn Hiến 2)

 

Đối với câu hỏi:Việt Nam có mấy ngàn năm Văn Hiến ? Theo câu nói cửa miệng của người dân Việt Nam từ ngàn xưa: Việt Nam có4.000 năm Văn Hiến.Tuy nhiên cũng có người nghi ngờ và cho rằng Việt Nam chỉ có 2.000 hay 2.500 năm Văn Hiến. Đễ trả lời câu hỏi trên Học giả Hà Văn Thùy, người đã bỏ ra 15 năm  chuyên nghiên cứu về "Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam", "Tiến trình hình thành Văn Hóa Việt Nam"...Học giả Hà Văn Thùy đã khẳng định Việt Nam có 5000 năm Văn Hiến .[1]

 " Ở thế kỷ trước, nước Xích Quỷ, Tổ Kinh Dương Vương… chỉ là ảo ảnh xa vời trong huyền thoại mà người Việt thường tơ tưởng như kẻ mơ ước hái sao trên trời. Nhưng sang thế kỷ này, khoa học đã mở rộng đường cho ta tìm lại cội nguồn. Nhờ đọc được cuốn thiên thư DNA trong máu huyết của người Việt cũng như người châu Á, ta biết rằng khoảng 40.000 năm trước, người Lạc Việt từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục. Khảo cổ học cho thấy tổ tiên ta sáng tạo những nền văn hóa nông nghiệp kỳ vĩ ở phương Đông. Trong đó nổi bật lên là văn hóa Lương Chử. Được phát hiện năm 1936 tại trấn Lương Chử, huyện Dư, thành phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Văn hóa Lương Chử là nền văn hóa khảo cổ Hậu kỳ Đá Mới, tồn tại từ 3300 tới 2200 năm TCN. Văn hóa Lương Chử phân bố chủ yếu ở Thái Hồ, thuộc lưu vực sông Dương Tử, nơi người Việt cổ định cư, bao gồm huyện Dư Hàng, Nam Gia Hưng, Đông Thượng Hải, Tô Châu, Thường Châu, Nam Kinh. Di chỉcòn được mở rộng ra phía tây đến An Huy,Giang Tây. Phía bắc tới bắc Giang Tô, lan tỏa tới gần Sơn Đông.Văn hóa Lương Chử còn ảnh hưởng tới phía nam Sơn Tây. Vào thời điểm đó, sức mạnh của Lương Chử chiếm một nửa Hoa lục, nếu trình độ kinh tế và văn hóa không cao, thì không thể thực hiện được. Thành phố cổ Lương Chử có thể được gọi là "thành phố phương Đông đầu tiên", là "bình minh của nền văn minh" phương Đông, là thánh địa của văn minh phương Đông…

Nghiên cứu khảo cổ học cho thấy ở văn hóa Lương Chử, nông nghiệp đã bắt đầu tiến vào thời kỳ cày đất, thủ công mỹ nghệ trở nên chuyên nghiệp hơn, công nghiệp chế tác ngọc đặc biệt phát triển.Việc xuất hiện lượng lớn ngọc bích thờ cúng đã mở ra khúc dạo đầu nghi thức xã hội. Sự phân biệt giữa lăng mộ lớn của quý tộc và mộ dân thường cho thấy sự gia tăng của phân tầng xã hội.Có thể nói, gia tộc và bộ tộc đã nổi lên với các nhà lãnh đạo chính quyền tập trung. Một số lượng lớn sức lao động được tổ chức, hình thành một cấu trúc xã hội quy mô lớn. Từ vị trí, sự bố trí và đặc điểm cấu trúc của thành cổ, các chuyên gia tin rằng có những cung điện, nhà vua và giới quý tộc sống, chính là kinh đô của nhà nước Lương Chử cổ đại. [2]

Như vậy,vương quốcLương Chử là có thực. Trên lãnh thổ của vương quốc, tồn tại dai dẳng duy nhất nhà nước Xích Quỷ huyền thoại. Với nhiều yếu tố trùng hợp giữa thực địa và truyền thuyết, ta có đủ cơ sở để cho rằng, Lương Chử là kinh đô của Xích Qủy

Với bốn tiêu chí: thời điểm, cương vực, kinh đô và dân cư cho thấy, có sự tương đồng rõ ràng giữa nhà nước Lương Chử được khảo cổ học phát hiện và nhà nước Xích Quỷ trong truyến thuyết của người Việt Nam. Giữa những vật chứng câm lặng nằm sâu trong lòng đất hàng nghìn năm và những câu truyện truyền miệng mong manh suốt 5000 năm trong dân gian mà có được sự gần gũi, tương đồng như vậy quả là lý tưởng. Điều này khiến ta có thể mạnh dạn khẳng định:

Nhà nước Lương Chử được khảo cổ học phát hiện chính là nhà nước Xích Quỷ trong truyền thuyết.Việt Nam là hậu duệ của nhà nước Xích Quỷ nên có 5000 năm văn hiến.

Việc phát hiện thành phố cổ LươngChử khiến cho một số người nghĩ rằng thứ thế cáctriều đại của Trung Quốc nên được viết lại.Hiện nay các triều đại Hạ, Thương, Chu được coi là sớm nhất, nhưng vai trò này cần được trả cho Lương Chử! Sau 80 năm khai quật và khảo cứu văn hóa Lương Chử, giới học giả Trung Quốc thừa nhận: “Văn hóa Lương Chử là cội nguồn của văn minh Trung Quốc.”

Trong cuốn sách nổi tiêng Nhiệt đới buồn, Claude-Lévi-Strauss cho rằng “Con người chỉ thực sự sáng tạo những công trình vĩ đại vào buổi đầu.Trong bất cứ lĩnh vực nào, chỉ có bước đầu hoàn toàn có giá trị, những giai đoạn kế tiếp chỉ là sự lặp lại những giai đoạn đã qua.”  “Một trong những giai đoạn nhiều sáng tạo nhất của lịch sử nhân loại xảy ra vào thời đại đá mới với sự phát minh ra trồng trọt, chăn nuôi… Muốn đạt đến những thành quả vĩ đại này, không phải trong chốc lát là được, mà trái lại, những tập thể loài người bé nhỏ lúc bấy giờ đã phải trải qua hàng mấy nghìn năm quan sát, thí nghiệm và truyền đạt kinh nghiệm từ đời này sang đời khác. Sự nghiệp vĩ đại này đã diễn ra một cách tốt đẹp, liên tục và thành công…” ( Tristes tropiques, Paris Plon, 1955, tr.269.) Đúng như nhận định của tác giả Nhiệt đới buồn, Văn hóa Lương Chử là đỉnh cao nhất của văn hóa phương Đông, tích tụ những thành quả của 70.000 năm phấn đấu sáng tạo của người Lạc Việt

 Điều này cũng nói lên rằng Xích Quỷ là một nhà nước văn hiến theo cái nghĩa ban đầu của Khổng Tử. Kế thừa từ Xích Quỷ-Lương Chử nên Việt Nam có 5000 năm văn hiến."[3]

Chú Thích:

   

[1] "sđd"- Hà Văn Thùy  Nhân Ảnh Xuất bản 2020  trang 279

[2]  .良渚文化_百度

 http://baike.baidu.com/view/1556.

 [3] Độc giả muốn tìm hiểu hơn về nền Văn Hóa Lương Chử xin xem bài:

 "Di vật Văn Hóa Lương Chử tại Việt Nam" của Hà vănThùy  trong "Đối Thoại Soi Sáng Lịch Sử" Tập 2 Nhân Ảnh xuất bản 2020  trang  267.

                          

                               CHƯƠNG 3

 

TRIẾT LÝ SỐNG HIỂN SINH TRONG DÒNG  SINH MỆNH VĂN HIẾN VIỆT NAM

 (Bài Văn Hiến 3 trong 12 bài về Văn Hiến Việt Nam)

* Thân tặng Thế Hệ Trẻ Việt Nam…

* Thân tặng Nhà văn Việt Dương và

Trần Thứ Đào Trọng Vinh là hai người bạn tri âm tri kỷ của tác giả (CT)                           

“Mình với ta tuy hai mà một

Ta với mình tuy một mà hai”          

Thơ Tản Đà

                                                              

1-Triết Lý Sống Hiển Sinh là gì?

Theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh:

Hiển:  là Rõ ràng

Hiển linh: linh thiêng hiển hiện ra

Hiển vinh: Rạng rỡ vẻ vang (illustre, glorieux) (Hán Việt Từ Điển trang 359-360) 

Triết lý Sống Hiển Sinh là triết lý nhằm mục đích làm “Hiển Vinh Sư Sống con người”  làm “Vinh Quang Dân Tộc. và  góp phần xây dựng nền “Thái Hòa” nhân Loại”.

2-Nền tảng Tư Tưởng của Triết lý Sống Hiển Sinh:

2.1: Con người là Chủ Thể của văn Hiến :

Không có con  người thì không có  Xã Hội,Văn Hiến, Văn Hóa và Văn Minh.Điều rõ ràng và hiển nhiên, con  người là chủ thể của Xã Hội, và cũng là chủ thể của triết lý Sống Hiển Sinh, là chủ thể của  Văn Hiến Văn Hóa Văn Minh Dân Tộc và Nhân Loại

2.2: Chân Lý Tinh Hoa Sự Sống là bản chất con người và cũng là nền tảng tư tưởng của “Triết lý Sống Hiển Sinh”.

Dõi theo dòng triết sử nhân loại chúng ta thấy: Triết gia Mạnh Tử chủ trương : “Tinh bản thiện” (Nhân chỉ sơ tính bản thiện) trong khi Tuân Tử chủ trương “Tính bản Ác”.”Duy thức học Phật giáo” cho con người “thiện có” và “ác cũng có” .Song vượt lên trên thiện ác còn có “A lại gia thức- thức thứ tám giúp con người chuyển thức thành trí- tiến tới vô phân biệt trí “hay “Chân tâm” hay “Phật Tính” và trong kinh viên giác còn gọi là “Nhất khỏa viêm quang hàm vạn tượng”(Một khối nóng sáng lầu lầu  bao gồm muôn vạn hiện tưọng) “Thiền học” quan trọng bậc nhất là “Chữ TÂM”. (An TÂM, Giác Tâm, Ngộ Tâm, Kiến Tính thành Phật”.Kinh Dịch chủ trương”Trong vũ trụ và con người đều có 2 sức mạnh vừa đối lập nhau, vừa  bổ sung và luôn thúc đẩy  lẫn nhau là: ÂM  và DƯƠNG.

Siêu vượt lên “Âm và Dương” là “THÁI CỰC” hay “VÔ CỰC” (Vô cực nhi Thái Cực) Lão Tử gọi là CỐC THẦN. Điều mà Phật giáo nói riêng, Đông phương nói chung gọi là PHẬT TÍNH, TÂM hay CHÂN TÂM, Công giáo quan niệm: Con người là “Hình Ảnh của CHÚA,”  nước SỰ SỐNG, nước HẰNG SỐNG.Nói theo ngôn ngữ thời đại – Người viết gọi là TINH HOA CHÂN LÝ SỰ SỐNG .Tại sao lại gọi bản chất con người  là “Tinh hoa chân Lý sư  sống” ? Xin thưa: Sư sống ẩn tàng trong muôn sinh vật, từ con vi khuẩn cây cỏ, thú vật,và con người đều có sự sống . Song sự sống nơi con người mới đạt đến trình độ “Tinh Hoa”  “thiêng liêng” “Thần diệu”.Nhờ có “Tinh Hoa Chân Lý sư sống” con người không những chỉ  có tình cảm, có ý chí , có dũng cảm, có  lý trí, có tư tưởng, tri thức siêu thức, trực giác, tuệ giác… Con người do đấy không chỉ  có địa vị “linh ư vạn vật”mà có tiềm năng, tính năng hay giác năng trở thành  “Thánh” “Thần”, “Tiên”, ”Bồ Tát”, “Phật” ….trở thành “Đấng Trọn Llành”.

2.3: Địa vị và thế giá con người:

Con người không chỉ có khả năng, tiêm năng, khả tính, giác tính, linh tính mà còn có quyền lực, và quyền năng vô biên vô hạn. Do đó con người có địa vị Nhân chủ không chỉ với vạn vật, với xã hội loài người và với cả vũ trụ. 

2.4: Vũ trụ quan:

Triế Lý Sống Hiển Sinh chủ trương Vũ Trụ Quan Như Nhiên. 

2.5: Nhân Thế Quan:

Phật giáo quan niệm cuộc đời là vô thường là bể khổ. Triết lý hiện sinh của tây phương coi cuộc đời là “phi lý, đáng “buồn nôn”. Triết lý Sống Hiển Sinh không phủ nhận cuộc đời là vô thường, hữu hạn song chính trong cái vô thường hữu hạn lại có lẽ thường hằng, và mở ra con đường “Tiến Hóa kỳ diệu. Cuộc đời là trường Tiến hóa- dù cho ai đó công nhận hay không công nhận, - hay ra sức chống lại luật tiến hóa cũng chẳng được nào.

Cuộc đời là “Vô thường” Cuộc chiến tranh giữa “Thiện” và Ác” là cuộc chiến tranh trường kỳ, triền miên không bao giờ chấm dứt. Cuôc chiến  này chỉ do từng cá nhân con người hiểu đạo, thoát khỏi “Tham sân si” tự vượt thoát chính mình mới chấm dứt được cuộc chiến tranh ngoài đời cũng như cuộc chiến trong tâm mình mà thôi .”Quay đầu là bờ” “luôn luôn tỉnh thức, “Giác ngộ kẻ thù lớn nhất của cuộc đời là chính mình”….Với sự tỉnh thức và giác ngộ  cao tột này, con đường tiến hóa của nhân loại không những đã mở ra thênh thang vô tận  mà còn đưa con người đến cảnh giới an lạc vô biên….

Cuộc đời là vô thường là đau thương điêu linh, khốn khổ …Triết lý Hiện sinh của Tây phương coi cuộc đời là “Phi lý” “Buồn nôn”. Song qua cái “phi lý, buồn nôn” đó vẫn ẩn hiện con đường tiến hóa: Vũ trụ và con người đều có một cơ đó là “Cơ Tiên Hóa”. Cuộc đời là “Trường tiến hóa” tuy đau thương, khổ lụy nhất, cay đắngnhất, song cũng sống động nhất và vĩ đại nhất!  Triết lý Hiển Sinh đã sớm nhận ra con đường tiến hóa đó dù bạn biết tới hay không biết tới hay bạn có ra sức phủ nhận, công khai chống lại nó. Con đường tiến hóa vẫn mặc nhiên,an nhiên đi tới …..Chính ở điểm Minh Triết này Triết lý Hiển Sinh đem lại HY VỌNG VÀ NIỀM TIN cùng SỨ MẠNG LỚN LAO THIÊNG LIÊNG cho con người trong thế thế kỷ 21 và hằng hằng các thế kỷ về sau.Triết lý Hiển sinh có sứ mạng dung hợp các nền triết lý Tây Phương và Đông Phương….và phải chăng - đây cũng chính là đáp án- của thời đại chúng ta.

 Triết lý Sống Hiển sinh thuận theo cơ tiến hóa của Trời nên luôn luôn Lạc quan,tràn đầy Niềm Tin và Hy vọng.

2.6: Nhân Sinh Quan:             

Triết Lý Sống Hiển Sinh chủ trương: Sống vui, Sống Khỏe. Sống Hung, Sống Mạnh, Sống Đẹp Sống Tỉnh Thức, Sống hào hiệp nghĩa khí, Sống Dấn Thân cứu đời….

3.Những nguyên lý căn bản của triết lý Hển Sinh:.       

3.1 Nguyên Lý Đạo:”Nhất âm nhất dương chi vị đạo” ( Kinh dịch) Đạo hướng dẫn tối cao.Đạo thống xuất tất cả…

3.2. Nguyên Lý “Vạn vật đồng nhất thể”

3.3. Ngyên lý tiến hóa hằng hóa trong vũ trụ

3.4 Nguyên lý “Đại hòa: Thên- địa- nhân”

3.5. Nguyên LÝ Hướng thượng và hướng tha

3.6 Nguyên lý”Tri- hành -Sống hợp Nhất” [1]    

3.7 Nguyên Lý Chân- Thiện -Mỹ- Sống hợp nhất.

3.8 Nguyên lý Tinh thần- Vật chất-Sống hợp nhất.

3.9 Nguyên Lý Tình- Lý- Sống hợp nhất.

3.10 Nguyên Lý Lý tưởng- Thực tiễn -Sống hợp nhất.

3.11 Nguyên Lý “Đạo học”  “Khoa Học” tương dung, tương tác và  tương thành

3.12.Nguyên Lý Quốc Dân đồng tiến….

4.  Ba cấp độ của triết lý Sống Hiển Sinh: Tồn Sinh, An Sinh và Hiển Sinh

Nhà nghiên cứu Văn Hóa Trần Thứ Đào Trọng Vinh trong bài: “Cuộc cách mạng Tâm Thân là đạo đức nhân nghĩa của thời đại” [2] đã rất đúng khi nêu ra 3 phương thế ứng xử - mà Trần Thứ   gọi là lẽ sống - của con người là: Tồn Sinh, An Sinh và Hiển Sinh:  Chính sự phát kiến đầy sáng tạo của Trần Thứ Đào Trọng Vinh đã gợi nguồn cảm hứng cho tác giả đi sâu vào sự khám phá “Triết Lý  Hiển Sinh” và nhận thấy “Triết lý Sống  Hiẩn Sinh” là viên Ngọc Quý  của thời đại chúng ta, là kết tu tinh anh của nền Văn Hóa Việt, Minh Triết Việt.”Triết lý Sống Hiển Sinh” còn có khả năng,tổng hợp đề lịch sử , nối  “Ngàn Xưa” với “Ngàn sau”.

4.1 - Tồn Sinh:

Con người sinh ra đời luôn luôn phải đối phó với rất nhiều tai họa từ thiên nhiên, đến những nhân họa do cường quyền  áp bức con người   khiến con người phải điêu linh, khốn khổ và phát sinh tâm lý sợ hãi:

-Sợ nghèo đói….

-Sợ già nua, xấu xí,hay trở thành phế nhân 

- Sợ bệnh Tật….

-Sợ thiên tai: Lũ lụt, Động đất, Sóng thần….

-Sợ nhân tai: như chiến tranh, nạn cường hào ác bá đán áp và bóc lột dân chúng.

-Sợ tù đầy và sợ chết …..

Để đối phó với các ách nạn trên, con người phải tìm đủ mọi cách để mưu sinh, phải tranh đấu,tự lập vượt thoát  mọi ách nạn để vươn lên  hoặc  tránh né, thậm chi luồn lách sống tủi sống nhục để  sống còn, để giữ mạng sống mình và những người thân trong gia đình! Nói tắt một lời: con người cần SỐNG VÀ TỒN TẠI hay TỒN TẠI VÀ SỐNG .ĐÓ LÀ LẼ TỒN SINH.. Mục đích hay tiêu chí của lẽ “Tồn Sinh” là giữ gìn mạng sống, “Sống trước hết, có sống mới tồn tại” trên cõi đời này.

4.2-An Sinh:

Tuyệt đại đa số nhân loại đều mong có cuộc sống yên ổn, an lành (Đất nước không có “loạn lạc chiến tranh”, không có “thiên tai bão lụt, sóng thần”, không có nạn “cường hào ác bá, không có “cảnh người áp bức, bóc lột” hay tình trạng “nô lệ hóa con người…” không có “bạo lực “hành hạ, tù đầy, giết hại”con người). Câu nói:”Có an cư mới lạc nghiệp”= có nơi ở an lành mới mong xây dựng sư nghiệp, tạo cuộc sống vui, hạnh phúc; hay câu nói “Chỉ xin hai chữ bình an” đã nói lên sư mong ước cuộc sống sao cho được yên ổn để làm ăn duy trì cuộc sống bình thường hàng ngày chứ không mong ước điều gì giầu có cao sang hơn nữa.! 

Đối với đất nước có chiến tranh triền miên gần một thế kỷ qua  như tại Việt Nam thì khát vọng Tự Do, Dân Chủ Hòa Bình cho cả dân tộc là khát vọng bỏng cháy và sâu thẳm nhất!

Nói tổng quát là đại đa số người dân đều chọn nếp sống An Sinh mang tính chất bảo thủ hay bằng lòng với với những gì mình có, bằng lòng với số phận an bài điển hình là 5 loại người sau đây: Người viết xin  giải trình từ thấp đến cao:

1/Đa số người dân thường thuộc thành phần nghèo trong xã hội, họ chỉ mong thoát được cảnh “nghèo đói” đã là may mắn lắm rồi nên hơn ai hết họ mong cuộc sống được an lành (An sinh)

2/Đa số những người từ  trên “trung niên” đến “lão niên” thấy sức khỏe của mình ngày một yếu đi, tuổi mình ngày càng “gần đất xa trời”  thấy rõ “lực bất tòng tâm” “lão lai tài tận” nên chủ trương “Mũ ni che tai”!

3/Những người đã trải qua nhiều gian khổ thử thách trên trường đời nên nhận ra rằng mỗi người đều “có số” do định  mênh , hay trời đất an bài nên phát sinh tâm lý cầu an:

 Bắt phong trần phải phong trần

Cho thanh cao mới được phần thanh cao

                                           (Truyện Kiều)

Trong ngũ phúc: 5 điều phúc: “Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh”(= Giầu có,Sang trọng, sống lâu, khỏẻ mạnh, yên ôn an lành) họ đã chọn chữ “Ninh” là mong sao có  đời sống an lành….

4/ Những người mà tuổi trẻ đã tranh đấu tung hoành bốn phương, đã trải qua nhiều thăng trầm trăm cay nghìn đắng:

 “Mùi thế sự lưỡi tê tân khổ  

Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu “

(Cung Oán ngâm khúc)

Họ là những người đã kinh qua nhiều đau khổ:“Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”…Người đời gọi họ là “Những Anh hùng thấm mệt”.Dù muốn dù không họ cũng đành chấp nhận nếp sống “An Sinh”

5/ Khác với 4 loại người trên, loại người thứ 5 do sự  giác ngộ “tiến tu trên đường Đạo” họ thấy vật chất hay danh vọng chỉ là phù du nên  không mong cầu danh vọng (dù là cái danh chân chính!) Họ không khinh thường nhưng không đánh  giá cao giá trị vật chất.Họ là những người “biết đủ” hay hơn nữa họ chủ trương nếp sống “An bần, Lạc Đạo” bằng lòng với cảnh nghèo, “yên phận nghèo” nhưng “Vui với Đạo”

 4.3 Triết lý Sống Hiển Sinh:

Nếu nhân loại ai ai cũng chọn nếp sống  “Tồn sinh” và “An Sinh” thì xã hội  sẽ bị đình đốn, ngưng đọng lại và đi đến tiêu vong ! Nhất là không có tiến bộ và văn minh như hiện nay.Xã hội nhân loại sở dĩ tiến bộ là nhờ các Văn Nghệ Sĩ, các hiền nhân thánh triết,, các nhà khoa học,các vị Anh Thư, Anh Hùng  và các bậc Vĩ nhân đã đem hết sức lực , tài năng và sự nghiệp  của mình để để  làm đẹp tình người, làm mới xã hội làm vinh quang Dân Tộc  đem lại Hòa bình và xây dựng nền Thái Hòa Nhân Loại. Tất cả các nỗ lực và công nghiệp nói trên đều có gia  trị và sứ mạng HIỂN SINH CON NGƯỜI, HIỂN SINH XÃ HỘI NHÂN LOẠI.

Nếu cần so sánh 3 cấp độ : Tồn Sinh, An Sinh và Hiển Sinh  chúng ta thấy Tồn Sinh , An Sinh là Hiển sinh cấp thấp, có tính cách “an phận”, “tiêu cực”  còn Hiển Sinh là Hiển sinh cấp cao mang tính chất “Chủ Đạo” “tích cực”.

5. Bốn phương thế Hiển Sinh tầm cao:

5.1: Phương thế Hiển Sinh tầm cao 1:

Con người thành đạt ước mơ, dự phóng ước nguyện của cá nhân mình:

Thông thường mỗi người chúng ta ai nấy đều có một giấc mơ… Học sinh, sinh viên mơ đã đạt cao, saukhi ra trường sẽ trở thành Kỹ sư, Bác Sĩ, Luật Sư.Giảng sư Đại Học, Các nhà kinh doanh mơ trở thành Triệu Phú, Tỷ Phú… Các Văn nghệ sĩ mơ thành Thi bá, Văn hào…Các chính trị gia mơ sẽ thành Dân Biểu, Thượng Nghị Si… Bộ trưởng, Thủ Tướng hay ngay cả Tổng Thống...Các nhà nghiên cứu khoa học mơ sẽ phát minh ra những máy móc hay kỹ thuật tân kỳ của thời đại 4 G  hay 5 G….

 Hai điều kiện cần và 3 điều kiện đủ để đạt thành ước mơ hay nguyện vọng của mình:

5.1.1 Hai điều kiện tối cần thiết”

-(1) Ý Chí đạt tới thành công “Hữu Chí cánh thành” (Người nào có chí người đó sẽ thành công)

- (2) Ước mơ hay dư phóng tương lai kể cả kế hoạch đạt tới.

5.1.2 : Ba điều kiện đủ đó là:

Không phải có “ý chí” và “Ước mơ hay dự phóng tương lai” mà có thể thành công. Đây mới chỉ là 2 điều kiện cần, còn phải có 3 điểu kiện đủ sau đây:

1/ Kiến thức

2/ Kinh nghiệm

3/ Tính kiên nhẫn –Không nản chí khi thất bại. Mỗi lần thất bại là lần rút kinh nghiệm rút ra bài học quý giá để quyết tâm tiến tới bước thành công cuối cùng và quan niệm: “Thất bại là mẹ thành công

5.2: Phương Thế Hiển Sinh tầm cao 2:

Mục đích của Phương thế Hiển Sinh tầm cao 2 là những cá nhân hay cơ quan dấn thân làm công việc từ thiện từ bi bác ái như thành lập viện “nuôi trẻ mồ côi” trại săn sóc những “người mắc bệnh cùi”, thành lập các phái đoàn từ thiện cứu giúp đồng bàp chẳng may  bị  thiên tai “lũ lụt”, song thần  hay bị “hỏa hoạn” v.v….Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến nững cá nhân hoặc cơ quan làm  công tác từ thiện một cách chân chính, còn những kẻ nhân danh công việc từ thiện đứng ra quyên góp tiền của đồng bào sau đó “ăn xén” “ăn bớt” “ăn chặn”  hay biển thủ số tiền quyên góp được để mưu cầu lợi ích riệng. Những kẽ làm việc phi pháp này chúng ta cần tố cáo và lên án bắt họ phải trả giá trước pháp luật – Không đáng cho chúng ta đề cập đến tại đây.

5.3. Phương Thế Hiển Sinh Tầm cao 3: 

Phương thế Hiển Sinh tầm cao 3 không chỉ mong thành đạt giấc mơ hay dự phóng nguyện vọng của mỡi cá nhân mà mong đem lại lợi tich cho “tha nhân”  cho xã hội, hiện thực được giấc mơ của toàn thể dân tộc . Công việc cụ thể là “hành hiệp trượng nghĩa”,”cứu khốn phò nguy” “cứu dân cứu nước khỏi họa xâm lăng” hay “giải trừ được đại họa cộng sản”

Phương thế Hiển sinh tầm cao 3  cũng là  phương thế của những bậc Anh Thư, Anh Hùng hào kiệt sẵn sàng hy hiến mạng sống mình để hoàn thành cuộc Cách Mạng Dân Tộc Cứu Quốc, Kiến quốc và Hưng Quốc, đưa Việt Nam đến đỉnh Vinh Quang.

Muốn đưa cuộc cách mạng Dân Tộc đến thành công hay cứu dân cứu nước khỏi ách họa xâm lăng của nước ngoài hay giải trừ được ách nạn cộng sản độc tài đảng trị đòi hỏi nơi các vị  Anh Thư ,Anh Hùng dân tộc  3 điều kiện cần và 6 điều kiện đủ sau đây:

5.3.1;Ba (3) điều kiện cần:

(1) Có Đức.(hay có Tâm: có lòng yêu nước, yêu dân)

(2) Có Tài.

(3) Có tầm Viễn Kiến (Nhìn xa thấy rộng)

5.3.2: Sáu (6) điều kiện đủ:

(1) Nêu cao được Chính Nghĩa Dân Tộc 

(2) Có những chiến lược, sách lược và nững chiến thuật thượng  thừa

(3) Có tài tổ chức 

(4) Có khả năng quy tụ được Quần Hùng gồm những Anh hùng Hào kiệt cùng lo việc Cứu Dân Cứu Nước

(5) Có khả năng Đại Đoàn Kết Quốc Dân

(6) Nắm vững, thông suốt tình hình Quốc Tế, Quốc Nội.

5.4: Phương Thế Hiển Sinh Tầm cao 4:

Đây là phương thế Hiển Sinh cao nhất, khó khăn nhất và cũng vĩ đại nhất chỉ có những bậc Đại Vĩ Nhân, Đại Giáo Chủ mới thực hiện được: như Chúa Jesus đã hy sinh mạng sống mình để chuộc tội cho nhân loại, hay như Đức Phật Thích Ca bỏ cung vàng điện ngọc,bỏ vợ đẹp con ngoan đi vào rừng tìm Chân Lý để cứu độ chúng sinh – tìm ra Đạo Giải Thoát- giúp cho con người “Liễu Sinh Thoát Tử “. Công nghiệp Vĩ đại này chứng tỏ con người có khả năng vượt thắng chính mình để khám phá ra Chân Lý tối hậu của Vũ Trụ. 

6. Triết lý Sống Hiển sinh ra đời sau 2500 năm khủng hoảng triết lý Tây phương –kể cả phong trào triết lý Hiện Sinh 1930- 1970 .

6.1  2500 năm triết lý Tây phương gặp khủng hoảng như thế nào?

  Trong bài tham luận Văn Hóa “Triết học đã chết?” tác gỉa Giáp Văn Dương đã viết : [3}

 “Trong cuốn sách mới ra của mình mang tên Đại thiết kế, Stephen Hawking, người được coi như ông hoàng của Vật lý lý thuyết thế kỷ 20, lại một lần nữa khẳng định: Triết học đã chết[4]! Điều này không có gì lạ, vì đó chỉ là một khái quát ở mức cao hơn một nhận định trước đó, có hơi hướng mỉa mai, cũng của chính ông nhưng được trích dẫn như là của triết gia Ludwig Wittgenstein[5] trong một cuốn sách rất nổi tiếng khác – Lược sử thời gian –rằng: Nhiệm vụ còn lại của Triết học chỉ là trò phân tích ngôn ngữ[5].

Cơ sở của nhận định này là sự tụt hậu của Triết học so với các ngành khoa học cụ thể, đặc biệt là Vật lý, trong việc nhận thức thế giới. Triết học dường như đã trở thành bất lực trong việc trả lời những câu hỏi rất cơ bản như: Làm sao chúng ta có thể hiểu được thế giới? Bản chất của thực tại là gì? Mọi thứ từ đâu đến? Liệu vũ trụ có cần một Đấng sáng thế?

Việc một nhà khoa học nổi tiếng, một trong những biểu tượng của trí tuệ thế kỷ 20, đưa ra những nhận định gây sốc như vậy về triết học, không khỏi làm cho người quan tâm băn khoăn tự hỏi: Phải chăng triết học đã chết như Hawking nhận định? Nếu không thì vai trò của triết học hiện đại là gì?

Quan sát sự phát triển của khoa học trong thế kỷ vừa rồi, đặc biệt của Vật lý và sinh học, thì thấy rõ rằng: Triết học đã bất lực trước những câu hỏi thuộc bản thể luận và một phần nào đó là bản chất của sự sống. Ngoài tư duy tư biện, triết học không còn công cụ nào khác để tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề này. Như thế rõ ràng, phạm vi nghiên cứu của Triết học đã bị thu hẹp đáng kể. Nhưng điều đó không có nghĩa là triết học đã chết. Nhận định của của Stephen Hawking chỉ là một sự nói quá lên “sự khốn cùng của triết học” và đánh giá sai lệch nhiệm vụ của triết học chỉ thuần túy là truy tìm kiến thức.

Trên thực tế, tìm kiếm tri thức chỉ là một phân nhánh của triết học. Phân nhánh này đang suy yếu trước sự phát triển của các ngành khoa học cụ thể. Nhưng các phân nhánh khác vẫn còn đủ rộng rãi để triết học phát triển. Đặc biệt là những phân nhánh vượt qua thế giới vật lý như Siêu hình học hoặc liên quan mật thiết đến tâm lý và hành vi xã hội của con người như Đạo đức học, Mỹ học, Triết học về chính trị, Triết học về tôn giáo v.v.

Immanuel Kant (1724-1804), triết gia vĩ đại thời kì khai sáng, dường như đã viết gần như toàn bộ trước tác của mình, cụ thể là ba cuốn phê phán nổi tiếng[6], và do tầm ảnh hưởng của ba cuốn này, có thể coi như ông đã tạo ra bước ngoặt của lịch sử triết học, qua việc trả lời bốn câu hỏi[7]: Tôi có biết gì ? Tôi phải làm gì? Tôi được quyền hy vọng gì? Con người là gì?

Như thế, sự tụt hậu của Triết học so với các ngành khoa học cụ thể chỉ giới hạn ở câu hỏi thứ nhất: “Tôi có thể biết gì?” và một phần ở câu hỏi thứ hai: “Con người là gì?”. Một phần lớn còn lại của câu hỏi này cùng với hai câu hỏi: “Tôi phải làm gì? Tôi được quyền hy vọng gì?” vẫn là là những lãnh địa riêng cần tiếp tục khai phá của Triết học vì chịu ảnh hưởng rất ít của những tiến bộ của những ngành khoa học cụ thể.

Điểm qua như vậy để thấy, so với ngay những vấn đề Triết học được đặt ra từ hơn hai thế kỷ về trước của Kant, những khoa học cụ thể ngành nay cũng không giải quyết được, vì đơn giản chúng không phải là đối tượng nghiên cứu của những khoa học này, hoặc phương pháp khoa học không phải là công cụ để giải quyết những vấn đề này. Không một phương pháp khoa học nào có thể được sử dụng để đánh giá chính xác xem một sự việc là tốt hay xấu, đúng hay sai, thiện hay ác, tin hay không tin, đáng yêu hay đáng ghét. Chúng thuộc một thế giới khác mà ở đó, khoa học có thể tác động đến ít nhiều chứ không thể thay thế được.” [8]

6.2 Triết lý hiện sinh nguồn gốc và luận điểm căn bản:

A. Nguồn góc:

Triết lý hiện sinh ( Existential Phylosophy) hay chủ nghĩa hiện sinh

( Existentialism) Là một trường phái triết học chủ yếu trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lý. Triết học hiện sinh ra đời vào đầu thế kỷ XIX, được khai sinh tại Đan Mạch bởi S. Kierkegaard (1813 – 1855). Chủ nghĩa hiện sinh phát triển mạnh ở Đức và Pháp từ những năm 20 đến 60 của thế kỷ XX với các nhà triết học tiêu biểu như: Heidegger, J. Sartre, Jaspers), Marcel,v.v… Tư tưởng chính của triết học hiện sinh là vấn đề tồn tại của con người. Triết học hiện sinh ra đời do hai nguyên nhân:

Một mặt, do mâu thuẫn của xã hội tư bản đẩy con người vào tình trạng tha hóa, chủ nghĩa hiện sinh ra đời để lên án và kêu gọi con người phải tự cứu lấy mình; mặt khác, phản ứng khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của khoa học, sùng bái kỹ thuật; hạ thấp hoặc xem nhẹ mặt tinh thần, tâm hồn của cuộc sống con người, v.v…

B- Những luận điểm căn bản của triết lý Hiện Sinh [8]

Trong bài điểm sách “Triết lý Hiện sinh của Linh Mục Trần Thái Đỉnh, nhà phê bìnhThụy Khuê  nhân định: [9]

Nội dung của triết học Hiện Sinh không phải là con người phổ quát, con người viết hoa của Aristote, mà là sự khảo sát con người có xương có thịt đang sinh hoạt hàng ngày trong xã hội. Con người đó là tôi, là anh, là chúng ta hết thẩy và từng người một. (Trang 15)

Là con người sinh hoạt, tôi là một chủ thể và tôi là một nhân vị tự do.

Chủ thể tính và nhân vị tự do là hai đề tài chủ yếu của triết học Hiện Sinh.

Triết học Hiện Sinh xây dựng trên chủ thể tính, không coi con người là một sự vật của toàn bộ vũ trụ như trong triết học cổ điển nữa mà coi con người như một hữu thể đứng trên vũ trụ và có quyền gán cho vũ trụ một giá trị tùy quan điểm của mỗi người. (Trang 19)

Khi con người đã ý thức được chủ thể tính của mình thì vũ trụ liền mất vẻ thần thánh của nó: những sấm sét, những tinh tú, mặt trời, mặt trăng không còn là những thần linh cao quang nữa ... Con người nhận định một cách sáng suốt rằng: Không có sự vật gì có giá trị tuyệt đối.

Vậy, con người hiện sinh là con người tỉnh ngộ, dám nhìn thẳng vào sự thật với nhãn quan, với khả năng của mình. Nhãn quan này không phải là nhãn quan của Thượng Đế, cũng chẳng phải là nhãn quan của thần linh, của các bề trên, của vua chúa đời xưa, của lãnh đạo, lãnh tụ đời nay, của ông thầy hay của bất cứ ai ban bảo. Mà là nhãn quan của cá nhân mình.

Tự do ở đây không phải là cái tự do của thế giới tự do. Tự do ở đây là tự do hiện sinh, tức là tự do bên trong, tự do phát xuất từ bản thể. Tự do lựa chọn, tự do quyết định. Tự do ở đây là dám là mình.

Nếu tôi cứ sống như cái máy, ở trên bảo sao tôi làm vậy, người ta bảo sao mình làm vậy, thì tôi mới chỉ sống như một sinh vật, chưa sống cái kiếp người của tôi.

Cuộc sống ù lì đó, sống chỉ để sinh tồn, sống như cây cỏ đó, Sartre gọi là buồn nôn, Camus cho là phi lý, Heidegger gọi là tầm thườngvà con người muốn vượt khỏi cuộc sống tầm thường, buồn nôn, phi lý, thì phải vượt lên trên mình, phải sống một cách độc đáo (unique), phải là một chủ thể độc đáo (sujet unique). Độc đáo ở đây không có nghĩa lập dị mà chỉ có nghĩa là tự do chọn lấy một lối sống riêng, không bắt chước người khác và cũng không chịu sự sai bảo, kiềm chế của người khác. Độc đáo là tự xác định nhân vị của mình. Nhân vị và tự do là nội dung của Hiện Sinh.”

C/ Ưu điểm của triết lý Hiện Sinh:

1/ Khác với triết lý cổ điển; Triết lý Hiện Sinh chủ yếu đưa con người trở về với con người..Do đấy triết lý hiện sinh là một triết lý Nhân Bản.

2/ Triết lý Hiện sinh đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu, luận bàn về “thân phận con người” với tính cách riêng tư đôc đáo- Con người là một “Nhân vị” và  “tư do”

3/ Triết lý hiện sinh đối lập với “Chủ nghịa thực chúng” và “Chủ nghĩa duy lý”.

4/ Triết lý Hiện sinh đã hình thành một “Phong trào văn chương hiện sinh”khá phong phú và sôi nổi kể từ sau thế chiến thứ hai đến thập niên 1970.

D/ Khuyết điểm của triêt lý Hiện Sinh:    

1/ Triết lý hiện sinh quá chú trọng đến việc tìm hiểu luận bàn về “thân phận con người” nên đã không nghiên cứu vấn đề quan trọng bậc nhất là “Giá trị con người” .

2/ Triết lý Hiện sinh đối lập với “Chủ nghĩa thực chứng” và “Chủ nghĩa duy lý”. Điều này vừa là ưu điểm đồng thời cũng là  khuyết điểm ví thiếu cái nhìn “tổng quan,toàn diện”.

3/  Triết lý Hiện sinh không chú trọng nghiên cứu nhận thức khoa học nên nhân thức luận của triết lý hiện sinh là nhân thức duy tâm chủ quan phi luận lý.

4/ Triết lý hiện sinh nêu ra 4 sự xung khắc lớn” Con người xung khắc với “Thượng Đế”, xung khắc với “Thiên nhiên”,  xung khắc với “Xã hội” và sau cùng con người xung khắc với “chính mình”,Điều này trái với nhân thức triết lý của Đông Phương là con người giao hòa  với “Thiên Địa Nhân”- có sự giao hòa cảm ứng  giũa “Tiểu Ngã” (Con người) và Đại Ngã ( Vũ trụ ,Trời Đất)

5/ Triết lý hiện sinh khi mô tả thân phận con người là “Phi lý,” “Buồn nôn” “âu lo”  “khắc khoải’ “bi đát…” mà không đưa ra một giải pháp nào “giải thoát con người” hay “thăng hoa cuộc sống con người”. Do trên, triết lý hiện sinh đối với quan điểm lịch sử xã hội là một triết lý tiêu cực,hoàn toàn tiêu cực

 

7-KÊT LUẬN: 

2500 năm triết lý Tây Phương- kể cả triết lý Hiên Sinh- đã gặp khủng hoảng đổ vỡ đến cùng độ, khiến cho các nhà nhân bản và các triết gia Tây Phương đã có chủ trương tìm về Triết lý Đông Phương mang tình chất u ẩn, huyền bí nhưng đầy sức sống để mong tìm lối thoát cho nhân loại.

Sở dĩ triết lýTâyPhương rơi vào khủng hoảng là vì Triết lý Tây Phương thiếu MinhTriết(Vì không hiểu hay không tìm ra ý nghĩa uyên nguyên sâu thẳm của Minh Triết cổ thời!)Tại sao triết lý Tây Phương lại thiếu hiểu biết về MinhTriết?Xin thưa chỉ vì Triết Lý Tây Phương không có “ĐẠO”! (ĐẠO là NGUỒN SỐNG BAO LA SÂU THẰM CỦA MINH TRIẾT!).Thiếu “Đạo” là thiếu tất cả !Vì không có “Đạo” nên triết lý Tây phương chỉ còn là “trò phân tích ngôn ngữ” vô ích vô bổ đồi với sự sống con người!

Vì thiếu “Đạo” nên triết lý hiện sinh mới thấy đời sống là “phi lý “ “buồn nôn” hay “tầm thường”…Vì thiếu “Đạo” nên triết lý hiện sinh thấy con người xung khắc với Thương Đế ,xung khắc với thiên nhiên, xung khắc với xã hội,  và xung khắc với chính con người !!! Vì thiếu “Đạo” nên triết lý hiện sinh thấy “tha nhân” là “địa ngục”….đời sống là “âu lo”  “bi đát”….

Triết Gia Linh Mục Kim Định cũng có nhận xét :”Triết lý tây Phương vì không có Đạo hay “Chủ Đạo” nên Tây Âu chỉ phồn thịnh bên ngoài mà thiếu “Chủ Đạo” nên đời sống vẫn vô hướng vô hồn”

Vẫn theo triết gia Linh Mục Kim Định “Hiện nay thế giới một là theo cộng sản thì có hướng nhưng là hướng giết người, giết mọi tự do .Hai là theo thế giới Tư Do thì có tư do nhưng lại vô hướng vô hồn” [10]

Triết lý Tây Phương ngoài lý do thiếu “Chủ Đạo” như đã nói trên còn nặng về “Duy Lý”, “Duy Niêm” nên xa rời cuộc sống nhân sinh. Triết lý mà “xa con người” thì triết lý chỉ còn là “cái xác không hồn”.Nó hết lý do tồn tại!Triết lýTây Phương thay nhau sụp đổ… và đã chết là như vậy.

Trong bôi cảnh lịch sử nói trên, Triết lý Hiển Sinh ra đời với chủ trương:

-Triết lý Sống Hiển Sinh gắn liền với đời sống con người,

-Triết Lý sống hiển sinh xác minh Trời Đất có mộ cơ là cơ tiến hóa

-Triết Lý lý sống Hiển Sinh quan niệm cuộc đời là Trường tiến hóa giúp cho con người và vạn vật tiến hóa không ngừng….

-Triết Lý Sống Hiển Sinh xác định và tôn vinh giá trị con người.

- Triế- Lý Sống Hiển Sinh chủ trương con người phải luôn tự chủ, tự cường dấn thân vào đời với thái độ tích cực

- Triết Lý Sống Hiển Sinh là Nguồn Sáng hiện xuất,khuyến khích, bồi dữỡng hun đúc “Nhân Tài” “Hiền tài” hy hiến cho Quốc Gia và Nhân Loại.

-Triết Lý Sống Hiển Sinh với 12 nguyên lý (Xem lại mục 3 đã nói ở trên ) có khả năng tổng hợp Triết Lý Đông Phương và Tây Phương mở lôi thoát cho con người….

* Chu Tấn.

                         

Chú Thích:

[1]  Xem Triết lý “Tri hành sống hợp nhất” của Chu Tấn trong  TẤC LÒNG NON NƯỚC- TẬP 1 Trang 261 Nhân Ảnh xuất bản năm 2019

[2] “Cách mạng tâm thân là đao đức nhânn ghĩa của thời đại “ Tác giả “TRẦN THỨ ĐÀO TRỌNG VINH.

[3] https://www.giapvan.info/2010/12/triet-hoc-chet.html

[4] Stephen Hawking & Leonard Mlodinow, The Grand Design, Bantam Books, 2010.

[5] Sự thưc thì Ludwig Wittgenstein chưa bao giờ nói vậy. Có lẽ Stephen Hawking nhớ nhầm hoặc ông cố ý khái quát những ý tưởng của Ludwig Wittgenstein bằng một mệnh đề dễ nhớ.

[6]Stephen Hawking, A Brief History of Time, Bantam Dell Publishing Group, 1988.

[7] Đó là: Phê phán lý tính thuần túy, Phê phán lý tính thực hành và Phê phán năng lực phán đoán. Cả ba cuốn này đều đã được dịch ra tiếng Việt bởi Bùi Văn Nam Sơn

 [8]https://lytuong.net/chu-nghia-hien-sinh-nguon-goc-va-luan-diem-co-ban/

[9] Thụy Khuê: Đoc “Triết Lý Hiện Sinh của Linh Mục Trần Thái Đỉnh”.

[10] :  “Thử đề nghị một chủ đạo  cho người Việt lưu vong” tác giả Lương Kim Định –Tù sách Viêt Linh  xuất bản. L/L Vương Kỳ Sơn  P.O Box29683 New Orleans  LA 70189 ĐT:  (504) 254-0497

*   *   *

VI - VĂN HIẾN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ THỜI ĐẠI.

VII - SỨ MẠNG KẾ THỪA, PHỤC HIẾN VÀ PHÁT HUY VĂN HIẾN VỆT NAM.

(Văn Hiến Việt Nam -Bài 4-12  chưa xong )

Aucun commentaire: