Mô hình văn hiến và kiến tạo văn
hiến trên đây tạm có thể coi như là bảng chuẩn để tiến hành khảo sát từng tiêu
chí qua từng trường hợp cụ thể cho các giai đoạn lịch sử nhất định nào đó. Việc
khảo sát này dựa trên những thư tịch cổ còn lại, cũng có khi có sự kế thừa các
kết quả nghiên cứu trước đây.
Tiểu kết: Bài viết, từ việc khảo sát các văn cảnh xuất hiện chữ “văn hiến” trong các thư tịch Nho gia, đã phân suất được tám nét nghĩa của khái niệm này trong bối cảnh tri thức của những người biên soạn (là các nhà Nho) trong chiều dài lịch sử quãng 600 năm. Sự khảo sát này chỉ có tính chất thao tác và thực hiện thí điểm, chứ chưa phải đã bao quát hết toàn bộ tư liệu sách vở cổ của Việt Nam trong thời Trung đại, vì thế, kết luận và mô hình đưa ra ở đây tạm chỉ gói gọn trong những tư liệu mà chúng tôi hiện có. Việc áp dụng mô hình cấu trúc văn hiến từ bối cảnh tri thức Nho giáo cũng như khảo sát hoạt động kiến tạo văn hiến của các triều đại quân chủ trước đây cần được khảo sát qua từng nhân vật hay thời đại cụ thể từ đó mới cho phép chúng ta có một hình dung bước đầu về một nền văn hiến của dân tộc, góp phần vào việc nghiên cứu so sánh sự tiếp xúc văn hóa giữa Việt Nam và trung Hoa trong quá khứ xa xưa".
Qua công phu sưu tầm nhận định của
học giả Hán Nôm Trần Trọng Dương (ở trên), đã xác định được 8 yếu tố làm thành
Văn Hiến Việt Nam:
1- Ngôn ngữ.
2- Văn Tự
3- Sách vở, điển tịch
4- Văn chương.
5- Các yếu tố Văn Hóa, Chính trị...
6- Phong tục, Tập quán.
7- Giáo dục và chế độ khoa cử.
8- Người Hiền Tài.
Và đã thiết định được 5 phương thức
kiến tạo Văn Hiến:
1- Sáng tạo và sử dụng văn tự
2- Trước tác,biên soạn, dịch thuật...
3- Thiết dựng chế độ khoa cử.
4- Thiết dựng Pháp độ.
5- Thiết dựng phong tục.
Giờ đây,chúng ta cần đi sâu, tìm hiểu cứu cánh, nội dung, nội
hàm của danh từ Văn Hiến trên các phương diện:
1/ Văn Hiến về phương diện nòi giống:
Nếu người Nhật tự hào là con cháu
của Thái Dương Thần Nữ: thì người Việt Nam tư hào là thuộc nòi giống: CON RỒNG
CHÁU TIÊN (Rồng là biểu hiện cho sức mạnh và sự biến hóa, Tiên là trượng trưng cho sự trong sạch và thiêng
liêng...)
2/ Văn Hiến về phương diện chủ thể
con người:
- Văn Hiến là kết tinh tỏa sáng trí tuệ, lương
tri và phẩm giá con người Việt Nam.
-Văn Hiến thăng hoa chủ thể Con
Người
- Văn Hóa trhăng hoa chủ thể Quần
Chúng Quốc Dân
3/ Văn Hiến về phương diện Xã Hội:
Văn Hiến thể hiện nếp sống trung
thực, thuần hậu, hài hòa,đạt cứu cánh thiện hảo, tương thân tương ái:
" Nhiễu điều phủ lấy giá
gương
Người trong một nước phải
thương nhau cùng"
"Thương người như hể thương
thân"...
"Miếng khi đói bằng gói khi
no", "Chị ngã em nâng","Là lành đùm lá rách, lá rách đùm lá
tả tơi"....
4/ Văn Hiến về phương diện Văn
Hóa;
Văn Hiến thể hiện nền Văn Hóa Việt
vượt thoát mâu thuẫn, hóa giải mâu thuẫn
tiến tới Chân Thiện Mỹ, Chân Minh Hoan, Chân Thiện Nhẫn, Văn hóa Việt thấm
nhuần tinh thần Văn Hiến nên cũng là nền văn hóa hiếu học, hiếu khách,cần cù
lao động, yêu thích thơ văn.. Nền văn hóa Việt cũng là nền văn hóa biết
ơn:"Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" "Uông nước nhớ Nguồn"...
5/ Văn Hiến về phương diện Văn
Minh:
Văn Hiến thể hiện nền văn minh trọn
vẹn: vừa là văn minh vật chất (thực dụng ) vừa là Văn Minh tinh thần, Đạo học,
Tâm linh
6/ Văn Hiến về phương diện Nhân
Văn:
Văn Hiến có chủ đích phát
huy tinh thần "Nhân văn cao đẹp"
trong con người Vệt Nam nói riêng và trong quần chúng Quốc Dân Việt Nam nói
chung.
7/ Văn Hiến về phương diện Dân Tộc:
Văn Hiến nêu cao tinh thần yêu nước, thương
dân, sống có ý thức, có lý tưởng cao cả: "Sống nhục sao bằng thác trong"
"sống cương trực, khí tiết, "Sống Hướng Thượng và Hướng tha" (Hướng thượng là hướng về tâm
linh.Hướng tha là sống vì người, cho người, sống hy hiến thân mình cho đời, cho
quê hương Đất Nước) quyết tâm giữ gìn Bản sắc Dân Tộc, hun đúc tinh thần Bất
khuát, Đoàn kết chống xâm lăng....Tỏa sáng tinh thần Diên Hồng: toàn dân một
lòng, cả nước đánh giặc ...
8/ Văn Hiếnvề phương diên Quốc Gia:
Văn-hiến là nền tảng hình thành độc
lập, tựchủ,và chủ quyền bất khả xâm phạm của Tổ Quốc.
9/ Văn Hiến và Chân Lý Tinh Hoa Sự
Sống:
Văn Hiến không chỉ là Nếp Sống, Ý thức Sống,
Lý tưởng Sống, Chuẩn mực Sống,Quan niệm Sống, Cứu cánh Sống "Chí Nhân Đại
Nghĩa"...Văn Hiến còn là ngọn lửa thiêng ngàn đời bất diệt của
ĐẠO SỐNG VIỆT NAM
Chú Thích”
[1 ]http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/21195-bon-ngan-nam-van-hien/
[2]] Trích Hùng Việt Sử Ca -Thằng
Mõ xuất bản 1984.
[3]"Đối Thoại Soi Sáng Lịch
Sử"- Tập 2 Tác giả Hà Văn Thùy Nhân Ảnh Xuất bản 2020 Trang 279
[4]https://tunguyenhoc.wordpress.com/2012/06/11/tu-nguyen-cua-tu-van-hien-qua-boi-canh-tri-thuc-nho-giao-viet-nam-trung-hoa-tran-tron
[5] Nguyễn Như Ý (chủ biên). Đại
từ điển tiếng Việt.Nxb.Đại họcQuốc giaTp Hồ Chí Minh.Tr.1744.
[6] Lại Cao Nguyện và Phan Văn
Cá.2007 Từ điển Hán Việt.Nxb.KHXH. H.tr534.
Trung tâm Từ điển học Vietlex.
2007. Từ điển tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng. tr.1697.
[7] Erreur ! Référence de lien hypertexte non valide.;
[8] Viện Ngôn ngữ học.2000.Từ điển
tiếng Việt. Nxb. Đà Nẵng
& TT từ điển học. tr. 1100.
[9] Từ điển tiếng Việt (tb lần 2,
1977). Nxb. KHXH.H. tr.846.
[10] Bửu Cầm.(1999).Từ điển Hán
Việt từ nguyên.Nxb.Thuận Hóa.Tr.2309.
[11] Ban Tu thư Khai trí, (1971),
Tự- điển Việt Nam , Nhà sách Khai trí 62 Lê Lợi Sài Gòn. Tr.911.
[12] Đào Văn Tập,(1951),Từ điển
Việt Nam phổ thông, Nhà sách Vĩnh Bảo, Sài Gòn.Tr.689.
[13] Thanh Nghị.(1951).Việt Nam
tân từ điển,Nhà in Thời Thế 185/54 đường Colonel Grimaud- Saigon. tr.1428.
[14] Gustave Hue, (1937),
Dictionaire Vietnamien Chinois Français ( Tự điển Việt- Hoa- Pháp), Nhà sách
Khai trí, 62,Lê Lai-Saigon, 1971 (in theo ấn bản Imprimerie Trung
Hòa). Tr.1113.
[15] Đào Duy Anh, (2001 -in theo ấn
bản cũ 1932), Từ điển Hán Việt 辭 典 漢 越 , Nxb Khoa học Xã hội, Tp Hồ Chí Minh. Tr.537.
[16] Hội Khai trí Tiến đứ,(1931),Việt
Nam tự điển,HANOI Imprimerie Trung-Bac Tan-Van.Mặc Lâm xuất bản. tr. 626.
[17] Xem Nguyễn Vinh Phúc.2009.Sự
hiện diện của văn hiến Thăng Long. Erreur ! Référence de lien
hypertexte non valide.;
[18] Xem Đỗ Trọng Huề.
1998. Văn Hóa Và Văn Chương, Đặc San Gió Việt.Calgary,Canada.
[21] Tạm thời có thể phân suất
nghĩa từ nguyên của từ văn minh 文明như sau nghĩa thứ nhất là rực rỡ.Cái đức của nó cương kiện
và văn minh, ứng với trời thì mùa vận hành, cho nên đứng đầu và hanh thông
(Kinh dịch, quẻ Đại hữu).2.Tt.Văn vẻ và sáng rực rỡ (dùng cho đạo đức, Nho),
Vua Thuấn uyên thâm và văn minh (Tuấn triết văn minh) (Kinh Thư). 3. Tt.Trạng
thái có giáo hóa, có đạo đức, có lễ nghi, có điển tắc. Thánh Tông Thuần Hoàng Đế
sáng lập pháp chế, mở ra muôn đời văn minh (ĐVSKTT) Họ Đinh vốn dòng họ đàn
anh, giữ được đất xa, có lòng hâm mộ phong thói văn minh, thường tỏ ý muốn phụ
thuộc với Trung Quốc. (KĐVSTGCM) Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt đầu từ
hai thái thú ấy.(ĐVSKTT) Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi: “cái tia của đạo
đức phát hiện ra ở nơi chính trị, pháp luật, học thuật, điển chương,…” [tr.537].
[22] Văn vật 文物 1. dt.Những
dấu ấn về vật chất thể hiện văn hiến của một triều đại.Thái tổ Hoàng đế ta được
nhà Chu nhường ngôi, thanh danh, văn vật, biến đổi trở lại như xưa. (An Nam chí
lược)// Vua khéo biết kế thừa, cho nên thời cuộc đi tới thái bình, chính trị trở
nên tốt đẹp, văn vật chế độ ngày càng thịnh vượng, cũng là bậc vua tốt của triều
Trần. (ĐVSKTT) 2. Dt. Các di vật cổ có giá trị về lịch sử và nghệ thuật. Hà Nội
nghìn năm văn vật. KTTD chú văn vật nghĩa như văn hiến. Từ điển Hán Việt của
Đào Duy Anh ghi: “những sản vật của văn hóa như lễ nhạc, chế độ” [tr.539]
[23] Nguyễn Vinh Phúc.Sdd.
[24] Nguyễn NgọcSan..2003.Tìm hiểu
tiếng Việt lịch sử,Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
[26] Lĩnh Nam: trỏ toàn bộ vùng đất
từ phía Nam dãy Ngũ Lĩnh trở lại, gồm phần đất thuộc Quảng Đông, Quảng Tây và
nước ta.Với người Việt, từ Lĩnh Nam cũng được dùng để trỏ lãnh thổ quốc gia của
nước mình. Đại Nam quốc sử diễn ca có câu: Lĩnh Nam riêng một triều đình nước
ta.
[27] Hồ Vị胡渭.( 乾隆四十三年Kiền Long
tứ thập tam niên). Vũ cống đồi chỉ (hai mươi quyển)禹貢錐指二十巻.
[28] Từ hải. tr.1860.
[29] Sĩ Nhiếp 士燮
(137-226) tự là Ngạn Tín, người đất Quảng Tín, quận Thương Ngô, là Thái thú
Giao Chỉ từ năm 187 đến năm 226 (cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc trong lịch
sử Trung Quốc). Sĩ Nhiếp được đánh giá cao nhất bởi có công trong việc duy trì
tình trạng hòa bình yên ổn ở Giao Chỉ trong suốt giai đoạn nội chiến Tam Quốc hết
sức phức tạp tại Trung Quốc kéo dài hơn nửa thế kỷ.Chính tích đó giúp Sĩ Nhiếp
gần như trở thành một vị vua tự trị của quận Giao Châu, thoát hẳn ra khỏi ảnh
hưởng và mệnh lệnh của nhà Hán.Điều đó thể hiện qua lá thư của Viên Huy, vốn là
quan nhà Hán bấy giờ đang ở Giao Châu, gửi cho Thượng thư lệnh nhà Hán là Tuân
Úc năm Đinh Hợi, Kiến An năm thứ 12 (207) đời Hán. Lá thư có đoạn: “Giao Châu
Sĩ phủ quân đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính trị, trong thời buổi đại
loạn, giữ vẹn được một quận hơn hai mươi năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân
không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân đều được nhờ ơn, dẫu Đậu Dung
giữ đất Hà Tây cũng không hơn được. Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì chăm xem
các sách thư, truyện. Phàm những chỗ biên chép không rõ ràng trong sách Xuân
Thu Tả Thị truyện, (tôi) đem hỏi, đều được ông giảng giải cho những chỗ nghi ngờ,
đều có kiến giải của bậc thầy, ý tứ rõ ràng, chặt chẽ. Lại như sách Thượng thư,
cả cổ văn và kim văn, những ý nghĩa to lớn, ông đều hiểu biết tường tận, đầy đủ.”
Ông được coi là một vị quan cai
trị có tài và được giới Nho học phong kiến Việt Nam sau này suy tôn là một
trong những nhân vật mở đường cho Nho giáo ở Việt Nam.Nhiều nơi hiện còn thờ
ông.
[30] Đào Duy Anh.1989.Nhớ
nghĩ chiều hôm (Hồi ký).Nxb.Trẻ. tr. 216-218.Nhân đây xin gửi lời cảm ơn
Ts.Nguyễn Xuân Diện đã chỉ dẫn nguồn tư liệu này.
[31] (1).áo và mũ.Thời cổ kẻ sĩ đội
mũ trên đầu, nhân thế dùng để trỏ trang phục của lớp người này. (2).chuyên chỉ
lễ phục. (3).thay chỉ cho các bậc sĩ đại phu. (4), chỉ văn minh lễ giáo.
từ điển Từ nguyên dẫn câu trong
sách luận ngữ: “quân tử chính kỳ y quan” (người quân tử chỉnh tề mũ áo”, chua
là, sau trỏ nơi hoàng đế nghe việc chính sự. [tr.1528]《ZDIC.NET 汉 典 网》
[32] Nguyễn Trãi. An Nam Vũ Cống安 南 禹 貢(q.6).
Ngô Ngọ Phong 吳 午 峰, Nguyễn
Thư Hiên 阮 舒 軒, Nguyễn Hi Tư 阮 希 思viết tiểu chú và lời bình; Lí Tử Tấn 李 子 晉 thông luận,
Nguyễn Thiên Túng 阮 天 縱 tập chú. Trong Ức trai di tập(7.q).Phúc Khê tàng bản.Ký
hiệu.VHv.1772/2-3. tr.30a-30b.Bản dịch tham khảo theo Phan Duy Tiếp và Hà
Văn Tấn (hiệu đính, chú thích) trong Nguyễn Trãi Toàn tập tân biên (T2).Nxb.Văn
học & TT Nghiên cứu Quốc học. H. tr. 481-482.
[34]Xem chú trên.Sđd.
[35] ĐạiViệtsử ký toànthư (bản kỷ),
q.7, tr.28a.
[36] “Tức Lễ và Nhạc,là các phạm
trù chính trị và luân lý của Nho gia. Lễ là do điển chương, chế độ, lễ nghi từ
thời Tây Chu trở đi phát triển thành. Thuyết văn: “Lễ tức là Lý vậy.Lễ dùng để
thờ thần cầu phúc” Như vậy, Lễ lúc ban đầu là để chỉ việc thờ thần, sau mới mở
rộng ra Lễ nghi. Sau này, Lễ dần dần tách khỏi Nghi và có ý nghĩa chính trị “trị
quốc an bang”. Nhạc là âm nhạc.Thuyết văn: “Nhạc là tên gọi chung của ngũ
thanh, Bát âm”. Trịnh Huyền chú thích Lễ Ký- Nhạc Ký: “Bát âm cùng nổi lên một
cách hài hoà thì gọi là nhạc. Lễ nhạc gọi gộp thì chỉ chung hình thái ý thức xã
hội và quy phạm đạo đức, chế độ đẳng cấp toôg pháp của xã hội nô lệ, xã hội
phong kiến.Tác dụng xã hội của nó là “quản lý quốc gia, ổn định xã tắc, giữ gìn
trật tự trong nhân dân, làm lợi cho việc nối dõi về sau. (kinh quốc gia, định
xã tắc, tự nhân dân, lợi hậu tự).”[Lao Tử- Thịnh Lê (chủ biên).2001.Từ điển
Nho- Phật- Đạo.Nxb.Văn học. Hà Nội. tr.728]
[37] Chỉ cuốn sách gốc từ thời Trần,
tác giả khuyết danh, mà Trần Thế Pháp đã chép được và đề Tựa năm Nhâm Tý hiệu Hồng
Đức 23 (1492) tức bài Cổ thuyết tựa dẫn, trích ở phần sau sách Lĩnh Nam chích
quái
[38] “Nguyễn Kiều (1695-1752 hiệu
Hạo Hiên, người xã Phú Xá huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Phú Thượng huyện Từ Liêm,
thành phố Hà Nội). Ông là chồng của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, 21 tuổi đỗ Tiến sĩ
khoa Ất Mùi Vĩnh Thịnh 11 (1715) đời Lê Dụ Tông, làm quan Tả thị lang bộ Binh
và được cử đi sứ sang nhà Thanh. Ông là tác giả của 4 bài văn bia tiến sĩ các
khoa 1667, 1683, 1697, 1713).” [Theo Trịnh Khắc Mạnh.2006. văn bia đề danh tiến
sĩ Việt Nam. Nxb Giáo dục.H]
[39] Trịnh Khắc Mạnh.2006.sđd.
[40] Từ Hải. tr.1851.
[41] Trong nguyên văn chữ đồ là một
danh từ.Theo Hán ngữ đại tự điển, chữ đồ này mang nghĩa là pháp độ [Q thượng, tr.276],
đây cũng là nguyên từ của các chữ cơ đồ, hồng đồ.
[42] Quốctriều Đình đối sách văn國 朝 庭 對 策 文,VHv.318/1(Thư
viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
[43] Quốctriều Đình đối sách văn 國 朝 庭 對 策 文, ký hiệu VHv.318/2 (Thư
viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
[44] Xem thêm cách phân suất từ
nguyên của Liam Kelley.2003.Vietnam as a ‘Domain of Manifest Civility’ (Văn hiến chi bang). Journal of Southest Asian
Studies, Vol.34, No. 1, pp 63-76.
[45] Đào Duy Anh. Sdd. tr276.
[46] Đào Duy Anh. Sdd. tr.158.
CHƯƠNG 2
V- KHẲNG ĐỊNH VIỆT NAM CÓ
5.000 NĂM VĂN HIẾN
(Bài Văn Hiến 2)
Đối với câu hỏi:Việt Nam có mấy
ngàn năm Văn Hiến ? Theo câu nói cửa miệng của người dân Việt Nam từ ngàn xưa:
Việt Nam có4.000 năm Văn Hiến.Tuy nhiên cũng có người nghi ngờ và cho rằng Việt
Nam chỉ có 2.000 hay 2.500 năm Văn Hiến. Đễ trả lời câu hỏi trên Học giả Hà Văn
Thùy, người đã bỏ ra 15 năm chuyên
nghiên cứu về "Nguồn Gốc Dân Tộc Việt Nam", "Tiến trình hình
thành Văn Hóa Việt Nam"...Học giả Hà Văn Thùy đã khẳng định Việt Nam có
5000 năm Văn Hiến .[1]
" Ở thế kỷ trước, nước Xích Quỷ, Tổ Kinh
Dương Vương… chỉ là ảo ảnh xa vời trong huyền thoại mà người Việt thường tơ tưởng
như kẻ mơ ước hái sao trên trời. Nhưng sang thế kỷ này, khoa học đã mở rộng đường
cho ta tìm lại cội nguồn. Nhờ đọc được cuốn thiên thư DNA trong máu huyết của
người Việt cũng như người châu Á, ta biết rằng khoảng 40.000 năm trước, người Lạc
Việt từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục. Khảo cổ học cho thấy tổ tiên ta sáng
tạo những nền văn hóa nông nghiệp kỳ vĩ ở phương Đông. Trong đó nổi bật lên là
văn hóa Lương Chử. Được phát hiện năm 1936 tại trấn Lương Chử, huyện Dư, thành
phố Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang. Văn hóa Lương Chử là nền văn hóa khảo cổ Hậu kỳ
Đá Mới, tồn tại từ 3300 tới 2200 năm TCN. Văn hóa Lương Chử phân bố chủ yếu ở
Thái Hồ, thuộc lưu vực sông Dương Tử, nơi người Việt cổ định cư, bao gồm huyện
Dư Hàng, Nam Gia Hưng, Đông Thượng Hải, Tô Châu, Thường Châu, Nam Kinh. Di chỉcòn
được mở rộng ra phía tây đến An Huy,Giang Tây. Phía bắc tới bắc Giang Tô, lan tỏa
tới gần Sơn Đông.Văn hóa Lương Chử còn ảnh hưởng tới phía nam Sơn Tây. Vào thời
điểm đó, sức mạnh của Lương Chử chiếm một nửa Hoa lục, nếu trình độ kinh tế và
văn hóa không cao, thì không thể thực hiện được. Thành phố cổ Lương Chử có thể
được gọi là "thành phố phương Đông đầu tiên", là "bình minh của
nền văn minh" phương Đông, là thánh địa của văn minh phương Đông…
Nghiên cứu khảo cổ học cho thấy ở
văn hóa Lương Chử, nông nghiệp đã bắt đầu tiến vào thời kỳ cày đất, thủ công mỹ
nghệ trở nên chuyên nghiệp hơn, công nghiệp chế tác ngọc đặc biệt phát triển.Việc
xuất hiện lượng lớn ngọc bích thờ cúng đã mở ra khúc dạo đầu nghi thức xã hội.
Sự phân biệt giữa lăng mộ lớn của quý tộc và mộ dân thường cho thấy sự gia tăng
của phân tầng xã hội.Có thể nói, gia tộc và bộ tộc đã nổi lên với các nhà lãnh
đạo chính quyền tập trung. Một số lượng lớn sức lao động được tổ chức, hình
thành một cấu trúc xã hội quy mô lớn. Từ vị trí, sự bố trí và đặc điểm cấu trúc
của thành cổ, các chuyên gia tin rằng có những cung điện, nhà vua và giới quý tộc
sống, chính là kinh đô của nhà nước Lương Chử cổ đại. [2]
Như vậy,vương quốcLương Chử là có
thực. Trên lãnh thổ của vương quốc, tồn tại dai dẳng duy nhất nhà nước Xích Quỷ
huyền thoại. Với nhiều yếu tố trùng hợp giữa thực địa và truyền thuyết, ta có đủ
cơ sở để cho rằng, Lương Chử là kinh đô của Xích Qủy
Với bốn tiêu chí: thời điểm,
cương vực, kinh đô và dân cư cho thấy, có sự tương đồng rõ ràng giữa nhà nước
Lương Chử được khảo cổ học phát hiện và nhà nước Xích Quỷ trong truyến thuyết của
người Việt Nam. Giữa những vật chứng câm lặng nằm sâu trong lòng đất hàng nghìn
năm và những câu truyện truyền miệng mong manh suốt 5000 năm trong dân gian mà
có được sự gần gũi, tương đồng như vậy quả là lý tưởng. Điều này khiến ta có thể
mạnh dạn khẳng định:
Nhà nước Lương Chử được khảo cổ học
phát hiện chính là nhà nước Xích Quỷ trong truyền thuyết.Việt Nam là hậu duệ của
nhà nước Xích Quỷ nên có 5000 năm văn hiến.
Việc phát hiện thành phố cổ
LươngChử khiến cho một số người nghĩ rằng thứ thế cáctriều đại của Trung Quốc nên
được viết lại.Hiện nay các triều đại Hạ, Thương, Chu được coi là sớm nhất,
nhưng vai trò này cần được trả cho Lương Chử! Sau 80 năm khai quật và khảo cứu
văn hóa Lương Chử, giới học giả Trung Quốc thừa nhận: “Văn hóa Lương Chử là cội
nguồn của văn minh Trung Quốc.”
Trong cuốn sách nổi tiêng Nhiệt đới
buồn, Claude-Lévi-Strauss cho rằng “Con người chỉ thực sự sáng tạo những công
trình vĩ đại vào buổi đầu.Trong bất cứ lĩnh vực nào, chỉ có bước đầu hoàn toàn
có giá trị, những giai đoạn kế tiếp chỉ là sự lặp lại những giai đoạn đã
qua.” “Một trong những giai đoạn nhiều sáng tạo nhất của lịch sử
nhân loại xảy ra vào thời đại đá mới với sự phát minh ra trồng trọt, chăn nuôi…
Muốn đạt đến những thành quả vĩ đại này, không phải trong chốc lát là được, mà
trái lại, những tập thể loài người bé nhỏ lúc bấy giờ đã phải trải qua hàng mấy
nghìn năm quan sát, thí nghiệm và truyền đạt kinh nghiệm từ đời này sang đời
khác. Sự nghiệp vĩ đại này đã diễn ra một cách tốt đẹp, liên tục và thành
công…” ( Tristes tropiques, Paris Plon, 1955, tr.269.) Đúng như nhận định của
tác giả Nhiệt đới buồn, Văn hóa Lương Chử là đỉnh cao nhất của văn hóa phương
Đông, tích tụ những thành quả của 70.000 năm phấn đấu sáng tạo của người Lạc Việt
Điều này cũng nói lên rằng
Xích Quỷ là một nhà nước văn hiến theo cái nghĩa ban đầu của Khổng Tử. Kế thừa
từ Xích Quỷ-Lương Chử nên Việt Nam có 5000 năm văn hiến."[3]
Chú Thích:
[1] "sđd"- Hà Văn
Thùy Nhân Ảnh Xuất bản 2020 trang 279
[2] .良渚文化_百度
科 http://baike.baidu.com/view/1556.
[3] Độc giả muốn tìm hiểu hơn về nền Văn Hóa
Lương Chử xin xem bài:
"Di vật Văn Hóa Lương Chử tại Việt
Nam" của Hà vănThùy trong "Đối
Thoại Soi Sáng Lịch Sử" Tập 2 Nhân Ảnh xuất bản 2020 trang
267.
CHƯƠNG 3
TRIẾT LÝ SỐNG HIỂN SINH TRONG
DÒNG SINH MỆNH VĂN HIẾN VIỆT NAM
(Bài Văn Hiến 3 trong 12 bài về Văn Hiến Việt
Nam)
* Thân tặng Thế Hệ Trẻ Việt Nam…
* Thân tặng Nhà văn Việt Dương và
Trần Thứ Đào Trọng Vinh là hai
người bạn tri âm tri kỷ của tác giả (CT)
“Mình với
ta tuy hai mà một
Ta với mình
tuy một mà hai”
Thơ Tản Đà
1-Triết Lý Sống Hiển Sinh là gì?
Theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy
Anh:
Hiển: là Rõ ràng
Hiển linh: linh thiêng hiển hiện
ra
Hiển vinh: Rạng rỡ vẻ vang
(illustre, glorieux) (Hán Việt Từ Điển trang 359-360)
Triết lý Sống Hiển Sinh là triết
lý nhằm mục đích làm “Hiển Vinh Sư Sống con người” làm “Vinh Quang Dân Tộc. và góp phần xây dựng nền “Thái Hòa” nhân Loại”.
2-Nền tảng Tư Tưởng của Triết
lý Sống Hiển Sinh:
2.1: Con người là Chủ Thể của văn
Hiến :
Không có con người thì không có Xã Hội,Văn Hiến, Văn Hóa và Văn Minh.Điều rõ
ràng và hiển nhiên, con người là chủ thể
của Xã Hội, và cũng là chủ thể của triết lý Sống Hiển Sinh, là chủ thể của Văn Hiến Văn Hóa Văn Minh Dân Tộc và Nhân Loại
2.2: Chân Lý Tinh Hoa Sự Sống
là bản chất con người và cũng là nền tảng tư tưởng của “Triết lý Sống Hiển
Sinh”.
Dõi theo dòng triết sử nhân loại
chúng ta thấy: Triết gia Mạnh Tử chủ trương : “Tinh bản thiện” (Nhân chỉ
sơ tính bản thiện) trong khi Tuân Tử chủ trương “Tính bản Ác”.”Duy thức
học Phật giáo” cho con người “thiện có” và “ác cũng có” .Song vượt
lên trên thiện ác còn có “A lại gia thức- thức thứ tám giúp con người chuyển
thức thành trí- tiến tới vô phân biệt trí “hay “Chân tâm” hay “Phật Tính”
và trong kinh viên giác còn gọi là “Nhất khỏa viêm quang hàm vạn tượng”(Một
khối nóng sáng lầu lầu bao gồm muôn vạn
hiện tưọng) “Thiền học” quan trọng bậc nhất là “Chữ TÂM”. (An TÂM, Giác Tâm,
Ngộ Tâm, Kiến Tính thành Phật”.Kinh Dịch chủ trương”Trong vũ trụ và con người
đều có 2 sức mạnh vừa đối lập nhau, vừa
bổ sung và luôn thúc đẩy lẫn nhau
là: ÂM và DƯƠNG.
Siêu vượt lên “Âm và Dương” là
“THÁI CỰC” hay “VÔ CỰC” (Vô cực nhi Thái Cực) Lão Tử gọi là CỐC THẦN. Điều mà
Phật giáo nói riêng, Đông phương nói chung gọi là PHẬT TÍNH, TÂM hay CHÂN TÂM,
Công giáo quan niệm: Con người là “Hình Ảnh của CHÚA,” nước SỰ SỐNG, nước HẰNG SỐNG.Nói theo ngôn ngữ
thời đại – Người viết gọi là TINH HOA CHÂN LÝ SỰ SỐNG .Tại sao lại gọi bản chất
con người là “Tinh hoa chân Lý sư sống” ? Xin thưa: Sư sống ẩn tàng trong muôn
sinh vật, từ con vi khuẩn cây cỏ, thú vật,và con người đều có sự sống . Song sự
sống nơi con người mới đạt đến trình độ “Tinh Hoa” “thiêng liêng” “Thần diệu”.Nhờ có “Tinh Hoa
Chân Lý sư sống” con người không những chỉ
có tình cảm, có ý chí , có dũng cảm, có
lý trí, có tư tưởng, tri thức siêu thức, trực giác, tuệ giác… Con người
do đấy không chỉ có địa vị “linh ư vạn vật”mà
có tiềm năng, tính năng hay giác năng trở thành
“Thánh” “Thần”, “Tiên”, ”Bồ Tát”, “Phật” ….trở thành “Đấng Trọn Llành”.
2.3: Địa vị và thế giá con người:
Con người không chỉ có khả năng,
tiêm năng, khả tính, giác tính, linh tính mà còn có quyền lực, và quyền năng vô
biên vô hạn. Do đó con người có địa vị Nhân chủ không chỉ với vạn vật, với xã hội
loài người và với cả vũ trụ.
2.4: Vũ trụ quan:
Triế Lý Sống Hiển Sinh chủ trương
Vũ Trụ Quan Như Nhiên.
2.5: Nhân Thế Quan:
Phật giáo quan niệm cuộc đời là
vô thường là bể khổ. Triết lý hiện sinh của tây phương coi cuộc đời là “phi
lý, đáng “buồn nôn”. Triết lý Sống Hiển Sinh không phủ nhận cuộc đời
là vô thường, hữu hạn song chính trong cái vô thường hữu hạn lại có lẽ thường hằng,
và mở ra con đường “Tiến Hóa kỳ diệu. Cuộc đời là trường Tiến hóa- dù
cho ai đó công nhận hay không công nhận, - hay ra sức chống lại luật tiến hóa
cũng chẳng được nào.
Cuộc đời là “Vô thường” Cuộc chiến
tranh giữa “Thiện” và Ác” là cuộc chiến tranh trường kỳ, triền miên không bao
giờ chấm dứt. Cuôc chiến này chỉ do từng
cá nhân con người hiểu đạo, thoát khỏi “Tham sân si” tự vượt thoát chính
mình mới chấm dứt được cuộc chiến tranh ngoài đời cũng như cuộc chiến trong tâm
mình mà thôi .”Quay đầu là bờ” “luôn luôn tỉnh thức, “Giác ngộ
kẻ thù lớn nhất của cuộc đời là chính mình”….Với sự tỉnh thức và giác ngộ cao tột này, con đường tiến hóa của nhân loại
không những đã mở ra thênh thang vô tận
mà còn đưa con người đến cảnh giới an lạc vô biên….
Cuộc đời là vô thường là đau
thương điêu linh, khốn khổ …Triết lý Hiện sinh của Tây phương coi cuộc đời là “Phi
lý” “Buồn nôn”. Song qua cái “phi lý, buồn nôn” đó vẫn ẩn hiện con đường tiến
hóa: Vũ trụ và con người đều có một cơ đó là “Cơ Tiên Hóa”. Cuộc đời là “Trường
tiến hóa” tuy đau thương, khổ lụy nhất, cay đắngnhất, song cũng sống động nhất
và vĩ đại nhất! Triết lý Hiển Sinh đã sớm
nhận ra con đường tiến hóa đó dù bạn biết tới hay không biết tới hay bạn có ra
sức phủ nhận, công khai chống lại nó. Con đường tiến hóa vẫn mặc nhiên,an nhiên
đi tới …..Chính ở điểm Minh Triết này Triết lý Hiển Sinh đem lại HY VỌNG VÀ
NIỀM TIN cùng SỨ MẠNG LỚN LAO THIÊNG LIÊNG cho con người trong thế thế kỷ 21 và
hằng hằng các thế kỷ về sau.Triết lý Hiển sinh có sứ mạng dung hợp các nền triết
lý Tây Phương và Đông Phương….và phải chăng - đây cũng chính là đáp án- của thời
đại chúng ta.
Triết lý Sống Hiển sinh thuận theo cơ tiến hóa
của Trời nên luôn luôn Lạc quan,tràn đầy Niềm Tin và Hy vọng.
2.6: Nhân Sinh Quan:
Triết Lý Sống Hiển Sinh chủ
trương: Sống vui, Sống Khỏe. Sống Hung, Sống Mạnh, Sống Đẹp Sống Tỉnh Thức,
Sống hào hiệp nghĩa khí, Sống Dấn Thân cứu đời….
3.Những nguyên lý căn bản của triết lý Hển Sinh:.
3.1 Nguyên Lý Đạo:”Nhất âm nhất dương chi vị đạo” ( Kinh dịch)
Đạo hướng dẫn tối cao.Đạo thống xuất tất cả…
3.2. Nguyên Lý “Vạn vật đồng nhất
thể”
3.3. Ngyên lý tiến hóa hằng hóa
trong vũ trụ
3.4 Nguyên lý “Đại hòa: Thên- địa-
nhân”
3.5. Nguyên LÝ Hướng thượng và hướng
tha
3.6 Nguyên lý”Tri- hành -Sống hợp
Nhất” [1]
3.7 Nguyên Lý Chân- Thiện -Mỹ- Sống
hợp nhất.
3.8 Nguyên lý Tinh thần- Vật chất-Sống
hợp nhất.
3.9 Nguyên Lý Tình- Lý- Sống hợp
nhất.
3.10 Nguyên Lý Lý tưởng- Thực tiễn
-Sống hợp nhất.
3.11 Nguyên Lý “Đạo học” “Khoa Học” tương dung, tương tác và tương thành
3.12.Nguyên Lý Quốc Dân đồng tiến….
4. Ba cấp độ của triết lý Sống Hiển Sinh: Tồn
Sinh, An Sinh và Hiển Sinh
Nhà nghiên cứu Văn Hóa Trần Thứ
Đào Trọng Vinh trong bài: “Cuộc cách mạng Tâm Thân là đạo đức nhân nghĩa của
thời đại” [2] đã rất đúng khi nêu ra 3 phương thế ứng xử - mà Trần Thứ gọi là lẽ sống - của con người là: Tồn Sinh,
An Sinh và Hiển Sinh: Chính sự phát kiến
đầy sáng tạo của Trần Thứ Đào Trọng Vinh đã gợi nguồn cảm hứng cho tác giả đi
sâu vào sự khám phá “Triết Lý Hiển
Sinh” và nhận thấy “Triết lý Sống
Hiẩn Sinh” là viên Ngọc Quý của
thời đại chúng ta, là kết tu tinh anh của nền Văn Hóa Việt, Minh Triết Việt.”Triết
lý Sống Hiển Sinh” còn có khả năng,tổng hợp đề lịch sử , nối “Ngàn Xưa” với “Ngàn sau”.
4.1 - Tồn Sinh:
Con người sinh ra đời luôn luôn
phải đối phó với rất nhiều tai họa từ thiên nhiên, đến những nhân họa do cường
quyền áp bức con người khiến con người phải điêu linh, khốn khổ và
phát sinh tâm lý sợ hãi:
-Sợ nghèo đói….
-Sợ già nua, xấu xí,hay trở thành
phế nhân
- Sợ bệnh Tật….
-Sợ thiên tai: Lũ lụt, Động đất,
Sóng thần….
-Sợ nhân tai: như chiến tranh, nạn
cường hào ác bá đán áp và bóc lột dân chúng.
-Sợ tù đầy và sợ chết …..
Để đối phó với các ách nạn trên,
con người phải tìm đủ mọi cách để mưu sinh, phải tranh đấu,tự lập vượt
thoát mọi ách nạn để vươn lên hoặc
tránh né, thậm chi luồn lách sống tủi sống nhục để sống còn, để giữ mạng sống mình và những người
thân trong gia đình! Nói tắt một lời: con người cần SỐNG VÀ TỒN TẠI hay TỒN TẠI
VÀ SỐNG .ĐÓ LÀ LẼ TỒN SINH.. Mục đích hay tiêu chí của lẽ “Tồn Sinh” là giữ gìn
mạng sống, “Sống trước hết, có sống mới tồn tại” trên cõi đời này.
4.2-An Sinh:
Tuyệt đại đa số nhân loại đều
mong có cuộc sống yên ổn, an lành (Đất nước không có “loạn lạc chiến tranh”,
không có “thiên tai bão lụt, sóng thần”, không có nạn “cường hào ác bá, không
có “cảnh người áp bức, bóc lột” hay tình trạng “nô lệ hóa con người…” không có
“bạo lực “hành hạ, tù đầy, giết hại”con người). Câu nói:”Có an cư mới lạc
nghiệp”= có nơi ở an lành mới mong xây dựng sư nghiệp, tạo cuộc sống vui, hạnh
phúc; hay câu nói “Chỉ xin hai chữ bình an” đã nói lên sư mong ước cuộc
sống sao cho được yên ổn để làm ăn duy trì cuộc sống bình thường hàng ngày chứ
không mong ước điều gì giầu có cao sang hơn nữa.!
Đối với đất nước có chiến tranh
triền miên gần một thế kỷ qua như tại Việt
Nam thì khát vọng Tự Do, Dân Chủ Hòa Bình cho cả dân tộc là khát vọng bỏng cháy
và sâu thẳm nhất!
Nói tổng quát là đại đa số người
dân đều chọn nếp sống An Sinh mang tính chất bảo thủ hay bằng lòng với với những
gì mình có, bằng lòng với số phận an bài điển hình là 5 loại người sau đây: Người
viết xin giải trình từ thấp đến cao:
1/Đa số người dân thường thuộc
thành phần nghèo trong xã hội, họ chỉ mong thoát được cảnh “nghèo đói” đã là may
mắn lắm rồi nên hơn ai hết họ mong cuộc sống được an lành (An sinh)
2/Đa số những người từ trên “trung niên” đến “lão niên” thấy sức khỏe
của mình ngày một yếu đi, tuổi mình ngày càng “gần đất xa trời” thấy rõ “lực bất tòng tâm” “lão lai tài tận”
nên chủ trương “Mũ ni che tai”!
3/Những người đã trải qua nhiều
gian khổ thử thách trên trường đời nên nhận ra rằng mỗi người đều “có số” do định mênh , hay trời đất an bài nên phát sinh tâm
lý cầu an:
“Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh
cao”
(Truyện Kiều)
Trong ngũ phúc: 5 điều phúc: “Phú,
Quý, Thọ, Khang, Ninh”(= Giầu có,Sang trọng, sống lâu, khỏẻ mạnh, yên ôn an
lành) họ đã chọn chữ “Ninh” là mong sao có
đời sống an lành….
4/ Những người mà tuổi trẻ đã
tranh đấu tung hoành bốn phương, đã trải qua nhiều thăng trầm trăm cay nghìn đắng:
“Mùi thế sự lưỡi tê tân khổ
Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu “
(Cung Oán ngâm khúc)
Họ là những người đã kinh qua nhiều
đau khổ:“Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”…Người đời gọi họ là “Những
Anh hùng thấm mệt”.Dù muốn dù không họ cũng đành chấp nhận nếp sống “An
Sinh”
5/ Khác với 4 loại người trên, loại
người thứ 5 do sự giác ngộ “tiến tu
trên đường Đạo” họ thấy vật chất hay danh vọng chỉ là phù du nên không mong cầu danh vọng (dù là cái danh chân
chính!) Họ không khinh thường nhưng không đánh
giá cao giá trị vật chất.Họ là những người “biết đủ” hay hơn nữa họ chủ
trương nếp sống “An bần, Lạc Đạo” bằng lòng với cảnh nghèo, “yên phận
nghèo” nhưng “Vui với Đạo”
4.3 Triết lý Sống Hiển
Sinh:
Nếu nhân loại ai ai cũng chọn nếp
sống “Tồn sinh” và “An Sinh” thì xã hội sẽ bị đình đốn, ngưng đọng lại và đi đến tiêu
vong ! Nhất là không có tiến bộ và văn minh như hiện nay.Xã hội nhân loại sở dĩ
tiến bộ là nhờ các Văn Nghệ Sĩ, các hiền nhân thánh triết,, các nhà khoa học,các
vị Anh Thư, Anh Hùng và các bậc Vĩ nhân
đã đem hết sức lực , tài năng và sự nghiệp
của mình để để làm đẹp tình
người, làm mới xã hội làm vinh quang Dân Tộc
đem lại Hòa bình và xây dựng nền Thái Hòa Nhân Loại. Tất cả các nỗ
lực và công nghiệp nói trên đều có gia
trị và sứ mạng HIỂN SINH CON NGƯỜI, HIỂN SINH XÃ HỘI NHÂN LOẠI.
Nếu cần so sánh 3 cấp độ : Tồn
Sinh, An Sinh và Hiển Sinh chúng ta thấy
Tồn Sinh , An Sinh là Hiển sinh cấp thấp, có tính cách “an phận”, “tiêu cực” còn Hiển Sinh là Hiển sinh cấp cao mang tính
chất “Chủ Đạo” “tích cực”.
5. Bốn phương thế Hiển Sinh tầm
cao:
5.1: Phương thế Hiển Sinh tầm cao
1:
Con người thành đạt ước mơ, dự
phóng ước nguyện của cá nhân mình:
Thông thường mỗi người chúng ta
ai nấy đều có một giấc mơ… Học sinh, sinh viên mơ đã đạt cao, saukhi ra trường
sẽ trở thành Kỹ sư, Bác Sĩ, Luật Sư.Giảng sư Đại Học, Các nhà kinh doanh mơ trở
thành Triệu Phú, Tỷ Phú… Các Văn nghệ sĩ mơ thành Thi bá, Văn hào…Các chính trị
gia mơ sẽ thành Dân Biểu, Thượng Nghị Si… Bộ trưởng, Thủ Tướng hay ngay cả Tổng
Thống...Các nhà nghiên cứu khoa học mơ sẽ phát minh ra những máy móc hay kỹ thuật
tân kỳ của thời đại
Hai điều kiện cần và 3 điều kiện đủ để đạt
thành ước mơ hay nguyện vọng của mình:
5.1.1 Hai điều kiện tối cần thiết”
-(1) Ý Chí đạt tới thành công “Hữu
Chí cánh thành” (Người nào có chí người đó sẽ thành công)
- (2) Ước mơ hay dư phóng tương
lai kể cả kế hoạch đạt tới.
5.1.2 : Ba điều kiện đủ đó là:
Không phải có “ý chí” và “Ước mơ
hay dự phóng tương lai” mà có thể thành công. Đây mới chỉ là 2 điều kiện cần,
còn phải có 3 điểu kiện đủ sau đây:
1/ Kiến thức
2/ Kinh nghiệm
3/ Tính kiên nhẫn –Không nản chí
khi thất bại. Mỗi lần thất bại là lần rút kinh nghiệm rút ra bài học quý giá để
quyết tâm tiến tới bước thành công cuối cùng và quan niệm: “Thất bại là mẹ
thành công”
5.2: Phương Thế Hiển Sinh tầm
cao 2:
Mục đích của Phương thế Hiển Sinh
tầm cao 2 là những cá nhân hay cơ quan dấn thân làm công việc từ thiện từ bi
bác ái như thành lập viện “nuôi trẻ mồ côi” trại săn sóc những “người mắc bệnh
cùi”, thành lập các phái đoàn từ thiện cứu giúp đồng bàp chẳng may bị
thiên tai “lũ lụt”, song thần hay
bị “hỏa hoạn” v.v….Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến nững cá nhân hoặc cơ quan
làm công tác từ thiện một cách chân
chính, còn những kẻ nhân danh công việc từ thiện đứng ra quyên góp tiền của đồng
bào sau đó “ăn xén” “ăn bớt” “ăn chặn”
hay biển thủ số tiền quyên góp được để mưu cầu lợi ích riệng. Những kẽ
làm việc phi pháp này chúng ta cần tố cáo và lên án bắt họ phải trả giá trước
pháp luật – Không đáng cho chúng ta đề cập đến tại đây.
5.3. Phương Thế Hiển Sinh Tầm
cao 3:
Phương thế Hiển Sinh tầm cao 3
không chỉ mong thành đạt giấc mơ hay dự phóng nguyện vọng của mỡi cá nhân mà
mong đem lại lợi tich cho “tha nhân” cho
xã hội, hiện thực được giấc mơ của toàn thể dân tộc . Công việc cụ thể là “hành
hiệp trượng nghĩa”,”cứu khốn phò nguy” “cứu dân cứu nước khỏi họa xâm lăng” hay
“giải trừ được đại họa cộng sản”
Phương thế Hiển sinh tầm cao
3 cũng là phương thế của những bậc Anh Thư, Anh Hùng
hào kiệt sẵn sàng hy hiến mạng sống mình để hoàn thành cuộc Cách Mạng Dân Tộc Cứu
Quốc, Kiến quốc và Hưng Quốc, đưa Việt Nam đến đỉnh Vinh Quang.
Muốn đưa cuộc cách mạng Dân Tộc đến
thành công hay cứu dân cứu nước khỏi ách họa xâm lăng của nước ngoài hay giải
trừ được ách nạn cộng sản độc tài đảng trị đòi hỏi nơi các vị Anh Thư ,Anh Hùng dân tộc 3 điều kiện cần và 6 điều kiện đủ sau đây:
5.3.1;Ba (3) điều kiện cần:
(1) Có Đức.(hay có Tâm: có lòng
yêu nước, yêu dân)
(2) Có Tài.
(3) Có tầm Viễn Kiến (Nhìn xa thấy
rộng)
5.3.2: Sáu (6) điều kiện đủ:
(1) Nêu cao được Chính Nghĩa Dân
Tộc
(2) Có những chiến lược, sách lược
và nững chiến thuật thượng thừa
(3) Có tài tổ chức
(4) Có khả năng quy tụ được Quần
Hùng gồm những Anh hùng Hào kiệt cùng lo việc Cứu Dân Cứu Nước
(5) Có khả năng Đại Đoàn Kết Quốc
Dân
(6) Nắm vững, thông suốt tình
hình Quốc Tế, Quốc Nội.
5.4: Phương Thế Hiển Sinh Tầm
cao 4:
Đây là phương thế Hiển Sinh cao
nhất, khó khăn nhất và cũng vĩ đại nhất chỉ có những bậc Đại Vĩ Nhân, Đại Giáo
Chủ mới thực hiện được: như Chúa Jesus đã hy sinh mạng sống mình để chuộc tội
cho nhân loại, hay như Đức Phật Thích Ca bỏ cung vàng điện ngọc,bỏ vợ đẹp con
ngoan đi vào rừng tìm Chân Lý để cứu độ chúng sinh – tìm ra Đạo Giải Thoát-
giúp cho con người “Liễu Sinh Thoát Tử “. Công nghiệp Vĩ đại này chứng tỏ
con người có khả năng vượt thắng chính mình để khám phá ra Chân Lý tối hậu của
Vũ Trụ.
6. Triết lý Sống Hiển sinh ra
đời sau 2500 năm khủng hoảng triết lý Tây phương –kể cả phong trào triết lý Hiện
Sinh 1930- 1970 .
6.1 2500 năm triết lý Tây phương gặp khủng
hoảng như thế nào?
Trong bài tham luận Văn Hóa “Triết học đã chết?” tác gỉa Giáp Văn Dương
đã viết : [3}
“Trong cuốn sách mới ra của mình mang tên Đại
thiết kế, Stephen Hawking, người được coi như ông hoàng của Vật lý lý thuyết thế
kỷ 20, lại một lần nữa khẳng định: Triết học đã chết[4]! Điều
này không có gì lạ, vì đó chỉ là một khái quát ở mức cao hơn một nhận định trước
đó, có hơi hướng mỉa mai, cũng của chính ông nhưng được trích dẫn như là của
triết gia Ludwig Wittgenstein[5] trong
một cuốn sách rất nổi tiếng khác – Lược sử thời gian –rằng: Nhiệm vụ còn lại của
Triết học chỉ là trò phân tích ngôn ngữ[5].
Cơ sở của nhận định này là sự tụt
hậu của Triết học so với các ngành khoa học cụ thể, đặc biệt là Vật lý, trong
việc nhận thức thế giới. Triết học dường như đã trở thành bất lực trong việc trả
lời những câu hỏi rất cơ bản như: Làm sao chúng ta có thể hiểu được thế
giới? Bản chất của thực tại là gì? Mọi thứ từ đâu đến? Liệu vũ trụ có cần một Đấng
sáng thế?
Việc một nhà khoa học nổi tiếng,
một trong những biểu tượng của trí tuệ thế kỷ 20, đưa ra những nhận định gây sốc
như vậy về triết học, không khỏi làm cho người quan tâm băn khoăn tự hỏi: Phải
chăng triết học đã chết như Hawking nhận định? Nếu không thì vai trò của triết
học hiện đại là gì?
Quan sát sự phát triển của khoa học
trong thế kỷ vừa rồi, đặc biệt của Vật lý và sinh học, thì thấy rõ rằng: Triết
học đã bất lực trước những câu hỏi thuộc bản thể luận và một phần nào đó là bản
chất của sự sống. Ngoài tư duy tư biện, triết học không còn công cụ nào khác để
tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề này. Như thế rõ ràng, phạm vi nghiên cứu của
Triết học đã bị thu hẹp đáng kể. Nhưng điều đó không có nghĩa là triết học đã
chết. Nhận định của của Stephen Hawking chỉ là một sự nói quá lên “sự khốn cùng
của triết học” và đánh giá sai lệch nhiệm vụ của triết học chỉ thuần túy là
truy tìm kiến thức.
Trên thực tế, tìm kiếm tri thức
chỉ là một phân nhánh của triết học. Phân nhánh này đang suy yếu trước sự phát
triển của các ngành khoa học cụ thể. Nhưng các phân nhánh khác vẫn còn đủ rộng
rãi để triết học phát triển. Đặc biệt là những phân nhánh vượt qua thế giới vật
lý như Siêu hình học hoặc liên quan mật thiết đến tâm lý và hành vi xã hội
của con người như Đạo đức học, Mỹ học, Triết học về chính trị, Triết học về tôn
giáo v.v.
Immanuel Kant (1724-1804), triết gia
vĩ đại thời kì khai sáng, dường như đã viết gần như toàn bộ trước tác của mình,
cụ thể là ba cuốn phê phán nổi tiếng[6], và
do tầm ảnh hưởng của ba cuốn này, có thể coi như ông đã tạo ra bước ngoặt của lịch
sử triết học, qua việc trả lời bốn câu hỏi[7]:
Tôi có biết gì ? Tôi phải làm gì? Tôi được quyền hy vọng gì? Con người là gì?
Như thế, sự tụt hậu của Triết học
so với các ngành khoa học cụ thể chỉ giới hạn ở câu hỏi thứ nhất: “Tôi có thể
biết gì?” và một phần ở câu hỏi thứ hai: “Con người là gì?”. Một phần lớn còn lại
của câu hỏi này cùng với hai câu hỏi: “Tôi phải làm gì? Tôi được quyền hy vọng
gì?” vẫn là là những lãnh địa riêng cần tiếp tục khai phá của Triết học vì chịu
ảnh hưởng rất ít của những tiến bộ của những ngành khoa học cụ thể.
Điểm qua như vậy để thấy, so với
ngay những vấn đề Triết học được đặt ra từ hơn hai thế kỷ về trước của Kant, những
khoa học cụ thể ngành nay cũng không giải quyết được, vì đơn giản chúng không
phải là đối tượng nghiên cứu của những khoa học này, hoặc phương pháp khoa học
không phải là công cụ để giải quyết những vấn đề này. Không một phương pháp
khoa học nào có thể được sử dụng để đánh giá chính xác xem một sự việc là tốt
hay xấu, đúng hay sai, thiện hay ác, tin hay không tin, đáng yêu hay đáng ghét.
Chúng thuộc một thế giới khác mà ở đó, khoa học có thể tác động đến ít nhiều chứ
không thể thay thế được.” [8]
6.2 Triết lý hiện sinh nguồn gốc
và luận điểm căn bản:
A. Nguồn góc:
Triết lý hiện sinh ( Existential
Phylosophy) hay chủ nghĩa hiện sinh
( Existentialism) Là một trường
phái triết học chủ yếu trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy
lý. Triết học hiện sinh ra đời vào đầu thế kỷ XIX, được khai sinh tại
Đan Mạch bởi S. Kierkegaard (1813 – 1855). Chủ nghĩa hiện sinh phát triển mạnh ở
Đức và Pháp từ những năm 20 đến 60 của thế kỷ XX với các nhà triết học tiêu biểu
như: Heidegger, J. Sartre, Jaspers), Marcel,v.v… Tư tưởng chính của triết học
hiện sinh là vấn đề tồn tại của con người. Triết học hiện sinh ra đời do hai
nguyên nhân:
Một mặt, do mâu thuẫn của xã hội
tư bản đẩy con người vào tình trạng tha hóa, chủ nghĩa hiện sinh ra đời để lên
án và kêu gọi con người phải tự cứu lấy mình; mặt khác, phản ứng khuynh hướng
tuyệt đối hóa vai trò của khoa học, sùng bái kỹ thuật; hạ thấp hoặc xem nhẹ mặt
tinh thần, tâm hồn của cuộc sống con người, v.v…
B- Những luận điểm căn bản của
triết lý Hiện Sinh [8]
Trong bài điểm sách “Triết lý Hiện
sinh của Linh Mục Trần Thái Đỉnh, nhà phê bìnhThụy Khuê nhân định: [9]
“Nội dung của triết học Hiện
Sinh không phải là con người phổ quát, con người viết hoa của
Aristote, mà là sự khảo sát con người có xương có thịt đang sinh hoạt
hàng ngày trong xã hội. Con người đó là tôi, là anh, là chúng ta hết
thẩy và từng người một. (Trang 15)
Là con người sinh hoạt, tôi
là một chủ thể và tôi là một nhân vị tự do.
Chủ thể tính và nhân vị
tự do là hai đề tài chủ yếu của triết học Hiện Sinh.
Triết học Hiện Sinh xây dựng
trên chủ thể tính, không coi con người là một sự vật của toàn bộ vũ
trụ như trong triết học cổ điển nữa mà coi con người như một hữu thể đứng trên
vũ trụ và có quyền gán cho vũ trụ một giá trị tùy quan điểm của mỗi người. (Trang
19)
Khi con người đã ý thức được chủ
thể tính của mình thì vũ trụ liền mất vẻ thần thánh của nó: những sấm sét, những
tinh tú, mặt trời, mặt trăng không còn là những thần linh cao quang nữa ...
Con người nhận định một cách sáng suốt rằng: Không có sự vật gì có giá
trị tuyệt đối.
Vậy, con người hiện sinh
là con người tỉnh ngộ, dám nhìn thẳng vào sự thật với nhãn quan, với khả năng của
mình. Nhãn quan này không phải là nhãn quan của Thượng Đế, cũng chẳng
phải là nhãn quan của thần linh, của các bề trên, của vua chúa đời xưa, của
lãnh đạo, lãnh tụ đời nay, của ông thầy hay của bất cứ ai ban bảo. Mà là nhãn
quan của cá nhân mình.
Tự do ở đây không phải là
cái tự do của thế giới tự do. Tự do ở đây là tự do hiện sinh, tức là tự do
bên trong, tự do phát xuất từ bản thể. Tự do lựa chọn, tự do quyết định. Tự
do ở đây là dám là mình.
Nếu tôi cứ sống như cái máy, ở
trên bảo sao tôi làm vậy, người ta bảo sao mình làm vậy, thì tôi mới chỉ sống
như một sinh vật, chưa sống cái kiếp người của tôi.
Cuộc sống ù lì đó, sống chỉ để
sinh tồn, sống như cây cỏ đó, Sartre
gọi là buồn nôn, Camus cho là phi lý, Heidegger gọi là tầm thường, và
con người muốn vượt khỏi cuộc sống tầm thường, buồn nôn, phi lý, thì phải vượt
lên trên mình, phải sống một cách độc đáo (unique), phải là một chủ
thể độc đáo (sujet unique). Độc đáo ở đây không có nghĩa lập dị
mà chỉ có nghĩa là tự do chọn lấy một lối sống riêng, không bắt chước
người khác và cũng không chịu sự sai bảo, kiềm chế của người khác. Độc
đáo là tự xác định nhân vị của mình. Nhân vị và tự
do là nội dung của Hiện Sinh.”
C/ Ưu điểm của triết lý Hiện Sinh:
1/ Khác với triết lý cổ điển; Triết
lý Hiện Sinh chủ yếu đưa con người trở về với con người..Do đấy triết lý hiện
sinh là một triết lý Nhân Bản.
2/ Triết lý Hiện sinh đặt trọng
tâm vào việc nghiên cứu, luận bàn về “thân phận con người” với tính cách riêng
tư đôc đáo- Con người là một “Nhân vị” và
“tư do”
3/ Triết lý hiện sinh đối lập với
“Chủ nghịa thực chúng” và “Chủ nghĩa duy lý”.
4/ Triết lý Hiện sinh đã hình
thành một “Phong trào văn chương hiện sinh”khá phong phú và sôi nổi kể từ sau
thế chiến thứ hai đến thập niên 1970.
D/ Khuyết điểm của triêt lý Hiện
Sinh:
1/ Triết lý hiện sinh quá chú trọng
đến việc tìm hiểu luận bàn về “thân phận con người” nên đã không nghiên
cứu vấn đề quan trọng bậc nhất là “Giá trị con người” .
2/ Triết lý Hiện sinh đối lập với
“Chủ nghĩa thực chứng” và “Chủ nghĩa duy lý”. Điều này vừa là ưu điểm đồng
thời cũng là khuyết điểm ví thiếu cái
nhìn “tổng quan,toàn diện”.
3/ Triết lý Hiện sinh không chú trọng nghiên cứu
nhận thức khoa học nên nhân thức luận của triết lý hiện sinh là nhân
thức duy tâm chủ quan phi luận lý.
4/ Triết lý hiện sinh nêu ra 4 sự
xung khắc lớn” Con người xung khắc với “Thượng Đế”, xung khắc với “Thiên
nhiên”, xung khắc với “Xã hội”
và sau cùng con người xung khắc với “chính mình”,Điều này trái với nhân
thức triết lý của Đông Phương là con người giao hòa với “Thiên Địa Nhân”- có sự giao hòa cảm ứng giũa “Tiểu Ngã” (Con người) và Đại Ngã ( Vũ
trụ ,Trời Đất)
5/ Triết lý hiện sinh khi mô tả thân
phận con người là “Phi lý,” “Buồn nôn” “âu lo” “khắc khoải’ “bi đát…” mà không đưa ra một
giải pháp nào “giải thoát con người” hay “thăng hoa cuộc sống con người”.
Do trên, triết lý hiện sinh đối với quan điểm lịch sử xã hội là một triết lý
tiêu cực,hoàn toàn tiêu cực
7-KÊT LUẬN:
2500 năm triết lý Tây Phương- kể
cả triết lý Hiên Sinh- đã gặp khủng hoảng đổ vỡ đến cùng độ, khiến cho các nhà
nhân bản và các triết gia Tây Phương đã có chủ trương tìm về Triết lý Đông
Phương mang tình chất u ẩn, huyền bí nhưng đầy sức sống để mong tìm lối thoát
cho nhân loại.
Sở dĩ triết lýTâyPhương rơi vào
khủng hoảng là vì Triết lý Tây Phương thiếu MinhTriết(Vì không hiểu hay không
tìm ra ý nghĩa uyên nguyên sâu thẳm của Minh Triết cổ thời!)Tại sao triết lý
Tây Phương lại thiếu hiểu biết về MinhTriết?Xin thưa chỉ vì Triết Lý Tây Phương
không có “ĐẠO”! (ĐẠO là NGUỒN SỐNG BAO LA SÂU THẰM CỦA MINH TRIẾT!).Thiếu “Đạo”
là thiếu tất cả !Vì không có “Đạo” nên triết lý Tây phương chỉ còn là “trò
phân tích ngôn ngữ” vô ích vô bổ đồi với sự sống con người!
Vì thiếu “Đạo” nên triết lý hiện
sinh mới thấy đời sống là “phi lý “ “buồn nôn” hay “tầm thường”…Vì thiếu
“Đạo” nên triết lý hiện sinh thấy con người xung khắc với Thương Đế ,xung khắc
với thiên nhiên, xung khắc với xã hội,
và xung khắc với chính con người !!! Vì thiếu “Đạo” nên triết lý hiện
sinh thấy “tha nhân” là “địa ngục”….đời sống là “âu lo” “bi đát”….
Triết Gia Linh Mục Kim Định cũng
có nhận xét :”Triết lý tây Phương vì không có Đạo hay “Chủ Đạo” nên Tây Âu
chỉ phồn thịnh bên ngoài mà thiếu “Chủ Đạo” nên đời sống vẫn vô hướng vô hồn”
Vẫn theo triết gia Linh Mục Kim Định
“Hiện nay thế giới một là theo cộng sản thì có hướng nhưng là hướng giết người,
giết mọi tự do .Hai là theo thế giới Tư Do thì có tư do nhưng lại vô hướng vô hồn”
[10]
Triết lý Tây Phương ngoài lý do
thiếu “Chủ Đạo” như đã nói trên còn nặng về “Duy Lý”, “Duy Niêm” nên xa rời cuộc
sống nhân sinh. Triết lý mà “xa con người” thì triết lý chỉ còn là “cái xác
không hồn”.Nó hết lý do tồn tại!Triết lýTây Phương thay nhau sụp đổ… và đã chết
là như vậy.
Trong bôi cảnh lịch sử nói trên,
Triết lý Hiển Sinh ra đời với chủ trương:
-Triết lý Sống Hiển Sinh gắn liền
với đời sống con người,
-Triết Lý sống hiển sinh xác minh
Trời Đất có mộ cơ là cơ tiến hóa
-Triết Lý lý sống Hiển Sinh quan
niệm cuộc đời là Trường tiến hóa giúp cho con người và vạn vật tiến hóa
không ngừng….
-Triết Lý Sống Hiển Sinh xác định
và tôn vinh giá trị con người.
- Triế- Lý Sống Hiển Sinh chủ
trương con người phải luôn tự chủ, tự cường dấn thân vào đời với thái độ
tích cực
- Triết Lý Sống Hiển Sinh là Nguồn
Sáng hiện xuất,khuyến khích, bồi dữỡng hun đúc “Nhân Tài” “Hiền tài” hy hiến
cho Quốc Gia và Nhân Loại.
-Triết Lý Sống Hiển Sinh với 12
nguyên lý (Xem lại mục 3 đã nói ở trên ) có khả năng tổng hợp Triết Lý Đông
Phương và Tây Phương mở lôi thoát cho con người….
* Chu Tấn.
Chú Thích:
[1] Xem Triết lý “Tri hành sống hợp nhất” của Chu
Tấn trong TẤC LÒNG NON NƯỚC- TẬP 1 Trang
261 Nhân Ảnh xuất bản năm 2019
[2] “Cách mạng tâm thân là đao đức
nhânn ghĩa của thời đại “ Tác giả “TRẦN THỨ ĐÀO TRỌNG VINH.
[3] https://www.giapvan.info/2010/12/triet-hoc-chet.html
[4] Stephen
Hawking & Leonard Mlodinow, The Grand Design, Bantam Books,
2010.
[5] Sự
thưc thì Ludwig Wittgenstein chưa bao giờ nói vậy. Có lẽ Stephen
Hawking nhớ nhầm hoặc ông cố ý khái quát những ý tưởng của Ludwig
Wittgenstein bằng một mệnh đề dễ nhớ.
[6]Stephen Hawking, A Brief History of
Time, Bantam Dell Publishing Group, 1988.
[7] Đó
là: Phê phán lý tính thuần túy, Phê phán lý tính thực hành và Phê
phán năng lực phán đoán. Cả ba cuốn này đều đã được dịch ra tiếng Việt bởi
Bùi Văn Nam Sơn
[8]https://lytuong.net/chu-nghia-hien-sinh-nguon-goc-va-luan-diem-co-ban/
[9] Thụy
Khuê: Đoc “Triết Lý Hiện Sinh của Linh Mục Trần Thái Đỉnh”.
[10] : “Thử đề nghị một chủ đạo cho người Việt lưu vong” tác giả Lương Kim Định
–Tù sách Viêt Linh xuất bản. L/L Vương Kỳ
Sơn P.O Box29683 New Orleans LA 70189 ĐT:
(504) 254-0497
* * *
VI - VĂN HIẾN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ THỜI
ĐẠI.
VII - SỨ MẠNG KẾ THỪA, PHỤC HIẾN
VÀ PHÁT HUY VĂN HIẾN VỆT NAM.
(Văn Hiến Việt Nam -Bài 4-12 chưa xong )
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire