Tại Nam Kỳ, trước năm 1881, các thể loại báo chí đều phải được chính quyền
cho phép trước khi phát hành. Điều kiện tiếp theo là chủ tờ báo phải là người
mang quốc tịch Pháp. Từ khi luật tự do báo chí 29/07/1881 được ban hành và áp
dụng tại Nam Kỳ thuộc địa của Pháp, mọi công dân Pháp từ 18 tuổi có quyền tự do
in ấn và phát hành báo chí bằng bất kỳ ngôn ngữ nào. Tuy nhiên, người Việt Nam,
chiếm đa số tại Nam Kỳ không được hưởng quy chế này.
"Nông Cổ Mín Đàm"
(Causeries sur l'agriculture et le commerce), 01/08/1901-11/1924.
"Nông Cổ Mín Đàm"
(Causeries sur l'agriculture et le commerce), 01/08/1901-11/1924. Wikipédia.
Thế nhưng, đạo luật tự do
báo chí trên nhanh chóng bị hạn chế bởi sắc lệnh 30/12/1898. Theo đó, các tờ
báo được in bằng bất kỳ ngôn ngữ nào ngoài tiếng Pháp phải được chính phủ cho
phép trước. Giấy phép hoàn toàn có thể bị thu hồi trong trường hợp vi phạm
những điều khoản quy định.
Chính vì vậy, báo chí
tiếng Việt gần như vắng bóng trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Ngoài những quy
định hạn chế tự do báo chí, việc người Pháp nắm độc quyền trong lĩnh vực này
cũng là một lý do quan trọng giải thích hiện tượng trên. In ấn, xuất bản và báo
chí là các ngành được du nhập từ Pháp nên, ngoài kỹ thuật in mộc bản thủ công,
người Việt không có một chút kinh nghiệm nào. Hơn nữa, chi phí thực hiện những
công việc trên vô cùng tốn kém. Đây cũng là lý do giải thích tại sao chỉ có
những nhà in và những tờ báo của Chính phủ mới tồn tại được sau khi công cuộc bình
định Nam Kỳ kết thúc, trước khi một số tờ báo và nhà in tư nhân Pháp ra đời
trong những năm tiếp theo.
Trong suốt hơn 35 năm,
làng báo chữ quốc ngữ chỉ biết đến tờ Gia Định Báo (15/04/1865-31/12/1909), và
sự tồn tại ngắn ngủi của hai tờ Phan Yên báo và Nhựt-trình Nam-Kỳ (có rất nhiều
ý kiến khác nhau về ngày phát hành số đầu tiên của hai tờ báo này). Phải tới
năm 1901, Sài Gòn mới có thêm một tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ khác, tờ "Nông
Cổ Mín Đàm" (Causeries sur l’agriculture et le commerce, 08/1901-11/1924).
"Nông Cổ Mín
Đàm" : tờ báo kinh tế đầu tiên.
Tên của tờ "Nông Cổ
Mín Đàm" được in lớn trên trang nhất bằng ba loại chữ, Quốc ngữ, Hán và
Pháp, với ý nghĩa: "uống trà bàn chuyện làm ruộng và đi buôn". Đây
được coi là tờ báo kinh tế đầu tiên của Việt Nam.
Mục đích của việc xuất bản
tờ báo được nêu rõ ở lời tựa, trong số 1: "Hai mươi năm chẳng ở miền Nam
thổ, nay đã tiêm thành cơ chỉ qui mô. Đường thiên lý lục tỉnh dẫu khác đạo cang
thường lễ nghĩa như nhau, nơi nơi cũng "Tạo doan hồ phu phu". Việc hiếu-sự
nay đà rang rảnh tình thê nhi thêm lại rịch ràng. Vậy nên công sự từ hưu, vui
theo thú thê trì nông-cổ. Thương Nam thổ dường như cố thổ, mến Nam nhơn quá
bằng Tây nhơn, muốn sao cho nông-cổ phấn hành, sanh đại lợi cùng nhau cộng
hưởng. Vậy ra sức lập nên nhựt báo thông tình nhau mà lại rộng chỗ kiến văn,
lần lần liệu ta cử đồ đại sự.
Trong Đông cảnh Cao-ly,
Nhựt-bổn, nước Xiêm-la cùng nước Đại-thanh đâu đâu cũng đều có công văn nhựt
báo. Há Lục tỉnh anh hùng trí dõng, lại khoanh tay ngồi vậy mà xem, không thi
thố cùng người mà trục lợi.
Nay nhờ lượng quan trên
nghị chuẩn, cho ấn hành Nông-cổ mín-đàm. Vậy xin lục dịch lảm tàng, mà gắn sức
giúp ".
Báo có tám trang, phát
hành thứ Năm hàng tuần tại Sài Gòn, sau này được tăng lên mỗi tuần ba kỳ. Ban
đầu, trụ sở của toà soạn đặt ở số 84 đường La Grandière, Sài Gòn. Sau đó, trụ
sở liên tục thay đổi trước khi tọa lạc tại số 12 đường Cap Saint-Jacques, Sài
Gòn.
Số đầu tiên được phát hành ngày 01/08/1901. Thế nhưng,
theo sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, ký ngày 14/02/1901, đơn yêu cầu
xin "lập một tờ báo nông nghiệp bằng chữ quốc ngữ và chữ Hán" được
Paul Canavaggio viết cách đó 10 năm, vào ngày 24/01/1891 (?). Tờ báo tồn tại
tới tháng 11/1924, khoảng hơn 20 năm, với nhiều lần thay đổi
tên gọi, như: Tân đời thời báo - Journal des jeunes générations và đăng lại một
số bài viết của tờ Công luận báo. "Nông Cổ Mín Đàm" được in tại Nhà
in-Hiệu sách Claude & Cie (Imprimerie-Librairie Claude & Cie), lần lượt
theo khổ in-folio (dưới 40 cm ), sau đó in-4° (dưới 30 cm ), in-8°
(dưới 25 cm )
và cuối cùng là Grand in-folio (hơn 40 cm ).
Chủ tờ báo, ông Paul
Canavaggio, là một người Pháp, gốc đảo Corse, vừa là một chủ đồn điền, một nhà
buôn muối và hội viên Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ. Ông chủ tờ báo tận dụng mục "Cáo
thị" để quảng cáo hoạt động kinh doanh của mình như sau :
"Ông Canavaggio, là
chủ bán muối lục tỉnh rao cho những người hay dùng muối, hoặc người hạ bạc,
hoặc người làm mắm đặng rõ trong hầm muối của ông Canavaggio tại Bắc-Liệu và
tại Chợ-Lớn bán rẻ cứ mỗi một trăm kilo bán một đồng tám giác. Nếu người coi
tiệm bán mắc hơn giá ấy, thì phải tỏ cùng ông phân cho. Hay người nào có muốn
mua nhiều, thì phải gởi thơ cho ông bán cho.
Và ông tỏ cho chư vị rõ
giá của nhà quan thê ngoại ngạch, bán đến hai đồng ba cắc tư tại Chợ-Lớn, còn
tại Bắc-Liệu 2 đồng bảy chiêm. Xem lại coi của ông Canavaggio, bán rẻ hơn nhiều
lắm, tại Chợ-Lớn rẻ hơn năm cắc tư, tại Bắc-Liệu hai cắc bảy chiêm, mỗi trăm
kilo.
Như khách nào mà ngăn trở
điều chi, hãy tỏ cho ông Canavaggio, tại đường La Grandière số 84, Sài Gòn."
(Số 41, ngày 05/06/1942).
"Nông Cổ Mín
Đàm" là một tuần báo kinh tế tư nhân nên không nhận được bất kỳ khoản tiền
trợ cấp nào của chính phủ và buộc tự tìm cách phân phối và thu hút độc giả.
Trong khi đó, các tờ công báo, như Gia-định báo,
được in theo yêu cầu của chính phủ, được phát không tới các sở hành chính và
trường học của Nhà nước, hay các địa phương được lệnh trích ngân sách đặt mua.
Thế nhưng, dù phát hành rộng rãi khắp Lục tỉnh, số người đặt mua báo Nông-cổ
mín-đàm vẫn không nhiều. Sau một năm phát hành, năm 1902, tờ báo mới có 325
người đặt mua. Điều này hoàn toàn có thể hiểu được vì người đặt mua báo phải là
những người biết chữ và có điều kiện tài chính, nên danh sách độc giả của tờ
báo chủ yếu là các quan chức và điền chủ địa phương, hay các công chức nhà
nước.
Một khó khăn khác mà "Nông
Cổ Mín Đàm" phải đối mặt là số người đặt mua chịu rất nhiều, tới mức tờ
báo phải tha thiết năn nỉ những người còn nợ tiền thanh toán tiền báo trong mục
"Bổn quán cẩn tín" :
"Bổn quán kính ít lời
với chư quí hữu, sau xin trân tình cho rõ lẽ đục trong: Nhựt trình "Nông
Cổ Mín Đàm" lập từ 1er aout 1901 đến nay, cũng gần giáp một năm, nhờ ơn
của các quí-hữu mua mà xem đặng ba trăm hai mươi lăm vị. Xin chư quí hữu xét
coi anh em chúng tôi, chẳng những lỗ công mà thôi, mà lại lỗ tiền nữa. Tuy vậy
mà đều làm hữu ích cho người, thì anh em chúng tôi dầu lỗ công dầu lỗ tiền,
cũng chẳng mỏi chí, nguyện làm sao cho đến thành sự cho người mới thôi. Thương
ôi! Chẳng những là ít người muốn xem mà thôi, mà lại trong số ba trăm hai mươi
lăm người mua, thì có hai trăm lẻ đã trả tiền. Xin coi như vậy thì hẹp cho
chúng tôi lắm.
Nay chúng tôi xin đăng
trọn những chư vị chưa trả vô nhựt trình này, đặng nhắc cho nhớ rõ, ráng gởi
bạc đến cho bổn quán, đặng mà xài kẻo lỗ nhiều lắm. Xin chớ phiền sao mà hỏi
tiền, vì thiếu và lỗ nên phải hỏi." (Số 41, ngày 05/06/1902).
Báo ra tám trang, song vào
những lúc đỉnh điểm, ban biên tập phải giành tới hai trang để đăng danh sách
những độc giả còn nợ tiền. Ngoài một số mục quảng cáo, tờ báo còn đăng hướng
dẫn cách thức vệ sinh phòng bệnh hoặc trồng trọt chăn nuôi. Còn phần giá lúa
gạo hay thông tin kinh tế không phong phú như tờ Gia-định báo.
Một số ý kiến đánh giá "Thương
cổ luận" là một mục quan trọng của tờ báo. Xuất hiện ngay trên trang nhất
từ số đầu tiên, "tác giả Lương Khắc Ninh thẳng thắn tuyên chiến với tư
tưởng tứ dân "sĩ, nông, công, thương" đã ăn sâu vào suy nghĩ của
người Việt bằng lời khẳng định: "Sự đại thương là đệ nhứt cách giúp cho
dân phú quốc cường". Đồng thời, những bài viết nhằm mục đích hướng dẫn các
thương nhân Việt Nam cách giao thương buôn bán và khuyến khích, kêu gọi học
đoàn kết để cạnh tranh với các thương nhân Hoa kiều và Ấn kiều. Vì lẽ đó, đây
được coi là tờ báo kinh tế đầu tiên bằng chữ quốc ngữ ". Tới năm 1906, "Thương
cổ luận" chính thức giã từ Nông-cổ mín-đàm, sau hơn 100 số.
Phổ biến chữ quốc ngữ
bằng… "truyện Tầu"
Ngoài ý nghĩa là tờ báo
kinh tế đầu tiên tại Việt Nam, "Nông Cổ Mín Đàm" còn là một ấn bản
giúp người đọc giải khuây lúc rảnh rỗi. Thực vậy, hơn một nửa số trang báo
giành đăng các truyện dịch của Trung Quốc hay truyện ngắn của Anh, Pháp. Trước
đó khi thể loại truyện này được đăng thường xuyên trên Nông-cổ mín-đàm, Huỳnh
Tịnh Của đã dịch một số tác phẩm Trung Quốc như Cao Sĩ truyện, Trang Tử, Chiến
quốc sách, Liêu Trai chí dị. Tuy nhiên, bản dịch hoàn chỉnh một bộ "truyện
Tầu" sang tiếng Việt phải kể tới Tam Quốc chí tục dịch, được đăng ngay từ
số đầu tiên, sau đó là các tác phẩm nổi tiếng khác như Liêu Trai chí dị, Kim cổ
kỳ quan, Bao Công kỳ án...
Là một trong những ấn phẩm
hiếm hoi trong giai đoạn này, "Nông Cổ Mín Đàm" trở thành nơi thử
nghiệm của một đội ngũ dịch "truyện Tầu", vừa tinh thông Hán học và
biết chữ quốc ngữ như, Nguyễn Chánh Sắc, Trần Phong Sắc, Nguyễn An Khương,
Nguyễn An Cư, Phạm Công Tắc, Đinh Văn Đẩu, Trần Hữu Quang, Huỳnh Trí Phú, …
Nhờ giữ các chức vụ chủ
bút hay phụ bút cho tờ báo, họ khởi xướng phong trào dịch tiểu thuyết thần kỳ,
anh hùng nghĩa hiệp của Trung Quốc trong những năm 1905-1910. Nguyễn An Khương,
Nguyễn Chánh Sắc, Trần Phong Sắc đã được báo Phụ nữ tân văn đánh giá là "những
tay dịch thuật trứ danh của Nam Kỳ", riêng "Trần Phong Sắc là nhà
dịch thuật trứ danh nhứt", với 29 bộ truyện Tàu được dịch sang tiếng Việt.
Ngoài mục truyện dịch, "Nông
Cổ Mín Đàm" còn có mục "Thi phổ" để đăng các sáng tác thi ca mới
của độc giả hay văn học dân gian sưu tầm… Tờ báo cũng là đơn vị đầu tiên tổ
chức cuộc thi truyện ngắn trong lịch sử Văn học Việt Nam hiện đại.
Dù ra sau các tờ Thông
loại khóa trình, Phan Yên báo, Nhựt-báo Nam-kỳ, nhưng "Nông Cổ Mín
Đàm" hội tụ đầy đủ yếu tố của một tờ báo và tồn tại trong một khoảng thời
gian khá dài. Cách trình bày của tờ báo rất đơn giản, do hạn chế của kỹ thuật
in ấn thời kỳ này. Ngoài tên báo trên trang nhất được in to và trình bày một
cách cầu kỳ hơn, các bài viết bên trong được chia thành hai cột, không hình
minh họa. Ngoài ra, các mục cách nhau bằng một dòng kẻ và tên tiêu đề được in
to đậm hơn.
Cách hành văn của tờ báo dài và lủng củng, thể hiện rõ
đặc điểm của tiếng Việt thời kỳ này. Chính vì vậy, các tác phẩm dịch thuật được
đăng trên báo đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện văn phong chữ
quốc ngữ, cùng với việc bổ sung từ vựng chuyên môn và du nhập vốn từ mới. Cuối
cùng, không chỉ phổ biến tư tưởng Đông phương, "Nông Cổ Mín Đàm" còn phổ biến cả học thuật phương
Tây, theo con đường mà Trương Vĩnh Kỹ đã làm từ trước.
Theo nhận xét của một nhà nghiên cứu, "Nông Cổ Mín Đàm" ra đời trong thời buổi sơ khai của nền báo chí nước ta, lúc chữ quốc ngữ cũng còn ít người biết đọc. Cho nên, mặc dù nó đã đình bản chưa đầy một thế kỷ, mà có ít người biết đến tờ báo này". Ngoài ra, cũng cần đề cập tới vấn đề nộp lưu chiểu. Do chính quyền thuộc địa còn phải đối mặt với những biến động chính trị-xã hội trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX nên không chú ý đến công việc lưu trữ. Cuối cùng, vì đây là tờ báo tư nhân nên chỉ được lưu giữ tại các gia đình và các cá nhân, do vậy không tránh khỏi bị tản mát và thất lạc.

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire