Chú
thích của Vĩnh Liêm: “Bại Tướng” không có nghĩa là thua trận, mà vì bị Dương Văn Minh, với cương vị là Tổng thống, bắt buộc
đương sự phải buông súng, rã ngũ.
Đôi dòng về Thi sĩ Hữu Phương: Hữu Phương là bút hiệu của Phó Đề Đốc Nguyễn
Hữu Chí. Ông Nguyễn Hữu Chí sinh tháng 11 năm 1931 tại Bến Tre. Năm 1951, ông
theo học trường Hàng hải Thương thuyền ở Sài Gòn. Tháng 7 năm 1953, ông gia
nhập Khóa 3 Hải Quân Việt Nam. Vinh thăng Phó Đề đốc tháng 11 năm 1972. Chức vụ
cuối cùng của ông là Phụ tá Tư lệnh Hải Quân đặc trách Hành quân Lưu động biển
kiêm Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm Duyên phòng 213. Nhà thơ Hữu Phương chính thức
gia nhập làng thơ từ năm 1960. Ông đã xuất bản 3 thi phẩm tại Sài-Gòn: Luống
Biển (1962), Tâm Sự Người Đi Biển (1963) và Neo Tuổi Vàng (1967). Ông có 3 thi
phẩm sáng tác ở hải ngoại, đó là Kiếp Lưu Đày I, II và III (chưa xuất bản).
Kỳ 3: NỖI BUỒN CỦA CỐ THI SĨ HỮU-PHƯƠNG
Trong
“Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn”
Tôi còn giữ được bản thảo tập thơ thứ hai của Cố Thi-sĩ Hữu-Phương, “Nước
Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn”, mà nay tôi mới có dịp đọc lại. Tập bản thảo này gồm
43 bài thơ, trong đó có bài thơ “Nghẹn Ngào Trông Thấy Màu Xanh Cây Lá Xứ
Người” đã được tác giả chuyển sang Anh ngữ “The Natural Green Revives Within Me
Memories of My Homeland”. Các bài thơ trong thi tập này đã được tác giả sáng
tác trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 1981 tới tháng 6 năm 1983. Tựa đề cho
thi tập này không chính thức được tác giả chọn, mà do người viết chọn từ các
tựa đề khác nhau ở ngoài bìa tập bản thảo, chẳng hạn như: Buồn Việt Nam, Buồn Á
Việt, Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn, Những Ngày Quạnh Hiu, Non Sông Tủi Buồn,
Tháng Ngày Hắt Hiu, Kiếp Lưu Ðày, và Ðâu Là Ðất Sống. Vì “Kiếp Lưu Ðày” đã được
tác giả chọn cho thi tập thứ nhất mà người viết đã giới thiệu trước đây, cho
nên không được chọn làm tựa đề cho thi tập này. Còn lại bảy tựa đề kia, người
viết thấy “Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn” là thích hợp nhất nên được chọn vì
nó nói lên được nỗi buồn mất nước của tác giả.
Mang kiếp sống tị nạn hay “Kiếp Lưu Ðày” là một nỗi buồn triền miên, không
bao giờ chấm dứt, nhất là đối với nhà thơ như nhà thơ Hữu-Phương. Ngoài mặt,
nhà thơ Hữu-Phương lúc nào cũng giữ nụ cười bình thản và tươi tắn, nhưng trong
lòng ông thì đau như cắt, rối như tơ. Khó có ai hiểu được nỗi lòng của thi sĩ
Hữu-Phương nếu chưa có dịp đọc những bài thơ của ông. Từ những cảnh vật chung
quanh ông, như màu lá của cây, màu tuyết trắng, màu mây đen ảm đạm, tiếng gió
rít, cơn lạnh của mùa Ðông, những con đường khúc khuỷu, v.v…, thảy đều làm cho
tâm hồn thi nhân xúc động, khiến ông nghĩ tới thân phận mình và thân phân quê hương.
Chỉ một cơn lạnh đầu mùa của mùa Ðông cũng đủ làm cho thi nhân xúc động:
Mộng ước ta xây suốt bốn mùa
Mới về cơn lạnh đã tiêu sơ
Lá chưa rụng xuống hồn ngơ ngác
Dẫu thế không chùn trước xác xơ.
(Nếu Phải)
Nhiều đêm chạnh lòng nghĩ tới quê hương, thi sĩ Hữu-Phương chỉ mong làm sao
trả được ơn đất nước như ông đã từng làm trong suốt cuộc đời binh nghiệp qua 22
năm:
Ðất nước như xa tận cõi nào
Triền miên văng vẳng tiếng hờn đau
Sau lưng dĩ vãng kinh hoàng lắm
Cuối kiếp mong sao trả nợ đầu.
(Nếu Phải)
Nhưng dân và nước đang triền miên đau khổ! Ông phải làm sao đây?
Tương lai nào hứa hẹn thần tiên
Cho nước cho dân hết muộn phiền
Nếu phải nên cầu ta thả nhịp
Mong rằng quê mẹ hưởng bình yên.
(Nếu Phải)
Khi thấy người vui mà lòng mình thì quặn thắt đớn đau. Càng nghĩ tới đồng
bào ruột thịt bị lưu đày trên chính quê hương mình, tác giả đã thốt lên:
May mắn cho ta lưu đày trốn thoát
Quên sao đồng bào thân thuộc còn kia
Mỗi lúc đi sâu vào vùng hiu hắt
Ðến cả thương yêu cũng phải chia lìa.
(Khi Thấy
Người Vui…)
Dường như thi sĩ Hữu-Phương rất sợ mùa Ðông. Hầu hết trong suốt thi tập
“Nước Non Ta Thăm Thẳm Nỗi Buồn” và “Kiếp Lưu Ðày”, thi sĩ Hữu-Phương luôn luôn
nhắc tới cảnh vật mùa Ðông, những cảnh tuyết phủ trắng xóa, những ngày dài ảm
đạm thê lương, những cành cây trụi lá buồn hiu hắt… Vì ông vốn là kẻ trầm tư
nên không sao ngăn được nỗi buồn khi nhìn thấy mùa Ðông đang tới:
Mùa Ðông lại đến tím rừng thu
Trời dẫu rất quen vẫn ẩm mù
Ðất dẫu thân nhiều nhưng buốt lạnh
Huống chi hồn kẻ vốn trầm tư.
(Mùa Ðông Lại
Ðến)
Kiếp lưu vong làm cho lòng thi sĩ càng ngao ngán hơn khi đối diện với mùa
Ðông:
Nghĩ rằng vong kiếp chơi vơi
Mấy mùa Ðông nữa vẫn đời lưu ly.
(Lạnh Ðông)
Dù chưa tới
mùa Ðông đi nữa thì lòng thi sĩ cũng không thể nào vui sướng cho được, bởi vì:
Ruột thịt thân nhân nếm cảnh cơ hàn
Hẳn so sánh thế nào tự do và đảng thuộc
Tiếc thương ngọc vàng xưa hạnh phúc
Cõi tha hương vui sướng cũng ơ hờ.
(Nhận Chân)
Thi sĩ Hữu-Phương ôm ấp tình quê trong lòng một cách thiết tha cho nên lúc
nào ông cũng đều nhắc tới quê hương:
Sâu trong cái xó đời ta vẫn
Ôm ấp tình quê với thiết tha.
(Nhớ Quê)
Rồi mùa Ðông cũng phải đi qua để nhường chỗ cho mùa Xuân tới. Nhưng Ðông
tàn hay Xuân tới, nỗi buồn của thi sĩ Hữu-Phương vẫn chất ngất, bởi vì ông luôn
luôn hướng về quê hương.
Vẫn là viễn xứ khơi vơi
Làm sao ngắm lại khoảng trời quê hương
Ước mơ chất tới thiên đường
May ra thấy chút vẻ buồn Á Ðông.
(Buồn Á Ðông
Giữa Trời Viễn Xứ)
Dẫu rằng ở xứ người vẫn có đủ bốn mùa Xuân Hạ Thu Ðông, nhưng không có mùa
nào làm cho thi sĩ Hữu-Phương vui hưởng lạc cảnh cả. Mùa Xuân đang tới ở xứ Mỹ,
nhưng mùa Xuân của thi sĩ đã chết trong lòng khi mất quê hương:
Thôi đừng nhắc chuyện xưa rồi
Mùa Xuân như đã xa xôi cõi nào.
(Ðừng Nhắc Nữa
Chuyện Ngày Qua)
Qua một đêm dài thao thức, sáng tỉnh dậy chợt thấy cuộc đời buồn tẻ nơi xứ
lạ quê người:
Bắt đầu khi tỉnh dậy
Cuộc sống nghe đã buồn
Ngày nào trong mong đợi
Niềm vui bến tương phùng.
(Chỉ Là Mênh
Mông)
Dẫu là màu xanh biếc của lá cây, ấy thế mà nó cũng gợi lên một nỗi đau buồn
trong lòng thi nhân. Bởi vì cái thân tị nạn chơ vơ nơi đất khách thì làm sao mà
không buồn cho được?
Chơ vơ đất khách ngại ngùng
Hồn ta lơ lửng giữa vùng đìu hiu.
(Nghẹn Ngào
Trông Thấy Màu Xanh Cây Lá Xứ Người)
Rồi mùa Xuân nơi xứ người lại tới, ấy thế mà thi sĩ cũng không cảm thấy vui
cho được!
Ðầu xuân thiên hạ dập dìu
Ngờ đâu vườn đã rụng nhiều cánh hoa
Lạnh Ðông còn đó buốt da
Niềm vui chợt thấy xót xa lanh lùng.
(Ðầu Xuân Ði
Xem Hoa Ðào Nở)
Khi lá đã xanh trên cành, cảnh vật thật là tươi mát. Nhưng đối với thi sĩ
Hữu-Phương, màu xanh tươi mát ấy cũng làm cho ông chạnh lòng nghĩ tới thân phận
lưu vong:
Bâng khuâng nhìn ngắm xứ người
Nỗi lòng chung đậu nghĩa đời vong nô.
(Biển Lá)
Cảnh ăn nhờ ở đậu nơi xứ người thì làm sao lòng mình vui cho được! Cái đau
nhất là khi nghĩ tới một thời kiếm cung ngang dọc bị chìm vào quên lãng:
Thân phận ta núi buồn
Một khoảng dài lưu vong
Ai từng giương cung nỏ
Còn nghĩ gì nữa không?
(Ai Từng
Giương Cung Nỏ)
Một bữa cơm ngon của gia đình cũng làm cho thi sĩ Hữu-Phương phải suy nghĩ
và nhớ về quê hương nơi có thân bằng quyến thuộc đang chạy lo từng bữa mà vẫn
không đủ no:
Một bữa cơm ngon
Làm ta suy nghĩ
Quê nhà héo hon
Tìm đâu mỹ vị.
Ngày xưa đầy đồng
Gạo thơm lúa tốt
Bây giờ não nùng
Nhà xiêu mái dột.
(Hiện Tại và
Ngày Qua)
Chính vì quá tha thiết tới quê hương cho nên thi sĩ Hữu-Phương cũng dặn
lòng mình không đi nghỉ hè như những người đồng hương khác. Bởi vì tìm vui cũng
chẳng ích lợi gì trong khi trong lòng mình đang ngổn ngang trăm mối sầu đau:
Sực nhớ tìm vui chẳng ích gì
Làm sao giải được nỗi sầu bi
Quê cha đất mẹ dài đau xót
Vẫn lắm người mơ một chuyến đi.
(Sực Nhớ)
Ðôi khi suy nghĩ về cuộc đời, thi sĩ Hữu-Phương đã buộc miệng than:
Một khoảng đời qua mấy nhục nhằn
Ðắng cay nghìn nỗi mấy băn khoăn
Vui nào dai dẳng buồn không gợi
Cũng mãi nhập nhòa chuyện gió trăng.
(Một Khoảng Ðời
Qua)
Những ước mơ
của thời quá khứ giờ đây đành phải giã từ trong cơn uất nghẹn của người anh
hùng ngã ngựa:
Mảnh trời nào đó tôi mơ ước
Vẫn thấy mù tăm một biển buồn
Mảnh hồn nào đó tôi mong giữ
Chỉ là hư ảo bóng hoàng hôn.
(Ước Vọng Giã
Từ)
Nỗi buồn luôn chất ngất trong hồn, nhưng thi sĩ Hữu-Phương vẫn vững niềm
tin và nuôi chí khí phục thù:
Ta nuôi hồn ta lại
Vun thêm chí quật cường
Sau một lần thua bại
Thành trì phải vững hơn.
Vững lòng đi! Chiến sĩ!
Khi đã quyết tâm rồi
Ngày qua thôi đừng nghĩ
Ngày mai rạng hướng trời.
(Ai Từng
Giương Cung Nỏ)
Vì việc quang phục đất nước không phải một sớm một chiều mà thành tựu ngay,
cho nên ông khuyên ta nên lưu tâm đến việc “trồng người” cho mai hậu:
Trồng người vốn để cầu mong
Ðổi thay cũng chẳng sờn lòng quốc gia
Càng xa càng thấy nhớ nhà
Anh em vẫn đó thiết tha mãi còn.
(Trồng Người
Cho Mai Sau)
Ông khuyên mọi người nên đoàn kết lại, vì lẽ:
Vì quốc gia ta phải dẹp tư thù
Người quốc gia chỉ có một tâm tư
Thống khổ đồng hương xui ta kết hợp
Mục đích giúp chinh nhân mau thắng cuộc
Diệt bạo tàn bình trị lại giang san
Ðược sống đây tương đối đã huy hoàng
Không thể để phôi pha bầu nhiệt huyết
Bài học nào giá trị hơn đoàn kết
Người Việt tha hương xin chớ hững hờ.
(Bài Học Ðoàn
Kết)
Thi sĩ Hữu-Phương đã đặt đất nước quê hương lên trên tất cả mọi vấn đề và
ông khẳng định rằng Việt Nam sẽ không bị phai mờ như mọi người suy tưởng:
Nước non là tất cả
Việt Nam không chào thua
Phải huy hoàng sáng giá
Việt Nam không phai mờ.
(Nước Non Là
Tất Cả)
Và ông luôn mơ ước một ngày huy hoàng trên đất nước sẽ tới:
Nếu ta chưa về ven biên đó
Chẳng phải phai sờn ý đấu tranh
Mà bởi người ta không muốn giữ
Nguyện thề vì nước chẳng màng danh.
. . . . . . . . . . . . . . .
Nên ta luôn nghĩ ngày mai ấy
Thôn xóm ven biên ngập sắc vàng
Sọc đỏ ngày xưa bừng đỏ lại
Huy hoàng phơi phới khắp trời Nam.
(Nếu…)
Tuy không xông xáo hoạt động như nhiều người khác, nhưng thi sĩ Hữu-Phương
lúc nào cũng hướng tâm về quê hương một cách chân thành và tha thiết. Ông mơ
ước “mặt trời tự do” hãy mọc trên quê hương Việt Nam thân yêu để càn quét lũ
Cộng sản hung tàn:
Ôi! Việt Nam! Việt Nam!
Vàng son nào tôi ấp ủ
Thân ái nào tôi lưu giữ
Xin mặt trời đừng quên
Hỡi mặt trời tự do!
Hãy đổ nắng thật nhiều
Hỏa thiêu loài qủi đỏ
Cho đất nước tôi
Cộng sản sẽ không còn
Chỉ còn một Việt Nam
Trung hòa nhân nghĩa.
(Xin Hãy Giữ
Giùm Tôi Mặt Trời)
Luận về tình nghĩa vợ chồng, có lẽ thi sĩ Hữu-Phương là người thấm thía
niềm đau nhất trong giới làm thơ:
Ðâu là tình nghĩa sắt son
Thói đời hai chữ một nguồn xót xa.
(Ðâu Là Tình
Nghĩa)
Cuộc tình ví như cơn sóng vỗ bờ cát trắng hay một chiều lộng gió ở ngoài
biển khơi:
Ngày của bỗng dưng
Chùn mây lộng gió
Người không thẫn thờ
Quyến luyến chi ta.
(Cuộc Tình)
Và cũng có lúc cuộc tình mênh mông như biển cả:
Cạn rồi khoảng sông
Người xưa ngẩn mặt
Muộn rồi chờ trông
Tình xưa hiu hắt.
(Mênh Mông)
Trong một bài văn xuôi, thi sĩ Hữu-Phương đã có cái nhìn về Tình Yêu, Hạnh
Phúc và Ðức Tin như sau:
“Ý nghĩa cuộc sống xuyên qua những mệnh đề hệ trọng như Tình Yêu, Hạnh
Phúc, Ðức Tin… có thể không còn là gì nữa hết. Cái có cái không vả chăng chỉ
mang một tính chất phù du và vay mượn mà thôi….” (Từ Một Va Chạm…)
Tuy nhiên, thi sĩ Hữu-Phương có một đời sống tâm linh thật là vững chắc,
cho nên ông đã xác quyết:
Chìm theo hư ảo
Ai đã cuồng mê
Chỉ còn có đạo
Sáng soi lối về.
(Ðời Như Trũng
Sâu)
Vâng, thi sĩ Hữu-Phương đã được soi sáng lối về Nước Chúa. Dù nỗi đau mất
nước vô cùng xót xa trong lòng thi nhân nhưng sự ra đi đột ngột và vĩnh viễn
của thi nhân đã hóa giải nỗi đau buồn ấy cho ông để ông được thanh thản về với
Chúa.
Thế là một kiếp nổi trôi
Triền miên uất hận một đời ngửa nghiêng
(Một Ngày Nắng
Tắt)
Từ nay, thi sĩ Hữu-Phương không còn phải vương vấn nữa về cuộc đời tị nạn
bất đắc dĩ mà ông đã gánh chịu trong quãng đời còn lại. Nỗi buồn của ông đã chấm
dứt cùng với thi tập này. Mong rằng những dòng tâm tình chia xẻ này, thay cho
nén tâm hương, sẽ làm cho thi sĩ Hữu-Phương mỉm cười thanh thản nơi miền Lạc
Cảnh.
(Ðức Phố, ngày 25 tháng 2 năm 2001)
* VĨNH LIÊM


Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire