Vào những năm gần cuối
thập niên 50, bọn nam sinh Trung học đệ I cấp chúng tôi rất sính thơ văn. Lúc
đó, mặc dù thơ Việt đã được đưa vào chương trình giảng dạy các lớp Việt văn,
nhưng thơ Pháp vẫn còn ảnh hưởng rất nhiều bởi vì các giáo sư đều xuất thân từ
lò đào tạo của Pháp.
Ngoài các
nhà thơ tiền bối như Tản Đà và Đông Hồ, chúng tôi còn được ngâm nga các bài thơ
tình lãng mạn của Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh, Hàn
Mạc Tử... Nhưng thích thú nhất vẫn là những bài thơ tình của Verlaine, Musset,
Baudelaire, Rimbaud, Eluard... Tuy văn dốt chữ nát nhưng bọn nam sinh chúng tôi
cũng học thuộc lòng những câu thơ tình ướt át của các thi hào Pháp để trổ tài
tán đào (các nữ sinh cùng trường)!
Cái thời
lãng mạn ở lứa tuổi mộng mơ nhìn đâu cũng thấy bướm lượn hoa cười. Những lần
thất tình nhè nhẹ, tuy đau khổ, ray rứt nhưng chưa đến đổi tuyệt vọng. Tình yêu
lãng mạn của thi sĩ Nguyễn Bính với cô láng giềng đầy thi vị làm cho giới trẻ
chúng tôi rất lấy làm thích thú, say mê. Tiến xa hơn một chút, thi sĩ Lưu Trọng
Lư với mối tình đơn phương đau khổ, nhưng vẫn là thứ tình yêu trong sạch.
Em ngồi
trong song cửa
Anh đứng
dựa tường hoa
Nhìn nhau
mà lệ ứa
Một ngày
một cách xa!
(Lưu Trọng Lư: Một mùa
Đông)
Lãng mạn
và thi vị hơn như Paul Verlaine, chỉ những giọt mưa rơi cũng đủ làm cho con tim
thổn thức, thấm thía cõi lòng:
Il pleure
dans mon coeur
Comme il
pleut sur la ville
Quelle
est cette langueur
Qui
pénètre mon coeur?
(Paul Verlaine: Romances
sans paroles)
Xa hơn
nữa là mối tình tuyệt vọng sầu thảm. Đây cũng chỉ là mối tình đơn phương sầu
kín nhưng bi thiết hơn. Thi sĩ Arvers đã làm rung động hàng triệu con tim qua
bài đoản thi bất hủ "Sonnet d'Arvers":
Ma vie a
son secret, mon âme a son mystère,
Un amour
éternel, en un moment conçu.
Le mal
est sans espoir, aussi j'ai dû le taire,
Et celle qui l'a fait n'en
a jamais rien su.
Nhà văn
Khái Hưng đã phiên dịch sang thể thơ Lục Bát như sau:
Lòng ta chôn một khối tình
Tình
trong giây phút mà thành thiên thu!
Tình
tuyệt vọng, nỗi thảm sầu!
Mà người
gieo thảm như hầu không hay!
(Đoản thi của Arvers)
Một mối
tình bao la hơn (yêu cả vũ trụ, thiên nhiên, cảnh vật, đàn bà...), nhưng cũng
chỉ là tình yêu vật chất, chứ không phải lý tưởng, vị tha. Thi sĩ Paul Eluard
đã được thi đàn thế giới nhắc tới qua bài thơ bất hủ "Je t'aime":
Je t'aime
pour toutes les femmes que je n'ai pas connues
Je t'aime
pour tous les temps où je n'ai pas vécu
Pour
l'odeur du grand large et l'odeur du pain chaud
Pour la
neige qui fond pour les premières fleurs
Pour les
animaux purs que l'homme n'effraie pas
Je t'aime
pour aimer
Je t'aime
pour toutes les femmes que je n'aime pas.
Lứa tuổi
mới lớn của chúng tôi có nhiều cái ngông và lãng mạn mà người lớn không thể nào
hiểu được. Khi đến tuổi trưởng thành, người con trai va chạm với cuộc đời và
thực tế cay nghiệt mới chấn chỉnh lại, cho nên cái nhìn có khác hơn thời mới
lớn.
Đức Huỳnh Phú Sổ
(Hình bên
trái: dấn thân cách mạng/chình trị;
Hình bên
phải: lãnh đạo PGHH)
Thuở đó,
tôi có dịp đọc qua bài thơ "Tình Yêu" của Hoàng Anh (bút hiệu của Đức
Huỳnh Phú Sổ – Giáo-Chủ Đạo Phật Giáo Hòa-Hảo) nhưng không thấy thích thú mấy
vì bài thơ không có một chút lãng mạn nào, mà chỉ đề cập tới tình yêu nhân loại
và chúng sinh! Nay qua tuổi mộng mơ, đọc lại bài thơ "Tình Yêu" ấy
mới thấy cái hay của nó.
Bài thơ
"Tình Yêu" thuộc thể thất ngôn, chỉ có 3 đoạn 12 câu, nội dung như
sau:
Ta
có tình yêu rất đượm nồng,
Yêu đời yêu
lẫn cả non sông.
Tình yêu chan
chứa trên hoàn vũ,
Không chỉ
yêu riêng khách má hồng.
Nếu khách
má hồng muốn được yêu,
Thì
trong tâm chí hãy xoay
chiều.
Hướng về phụng
sự cho nhơn loại,
Sẽ gặp
tình ta trong khối yêu.
Ta đã đa
mang một khối tình,
Dường như
thệ hải với sơn minh.
Tình yêu
mà chẳng riêng ai cả,
Yêu khắp muôn
loài lẫn chúng sinh.
(1946)
Những chữ
in đậm nét và gạch dưới trên đây là do người viết dụng ý nhấn mạnh. Trước đây,
ai cũng nghĩ rằng Đức Huỳnh Giáo-Chủ chỉ biết làm thơ Đạo, chứ không biết làm
thơ vịnh cảnh và thơ tình. Thật ra, Đức Huỳnh Giáo-Chủ đã làm đủ thể loại và
thể tài, mà thể tài nào cũng đều tuyệt cú cả.
Tình yêu
có muôn màu muôn sắc. Tình yêu giữa trai gái là thứ tình yêu tự nhiên do Tạo
Hóa đặt để. Ngoài thứ tình yêu tự nhiên đó ra, còn có tình yêu đối với thiên
nhiên và muôn thú, chẳng hạn như: cây cỏ, cảnh vật, sông, biển, mây, con nai,
con ngỗng... Tình yêu cao hơn nữa là tình yêu đối với quê hương, tổ quốc. Đó là
tình yêu của các vị anh hùng, liệt sĩ. Tầng cao nhất của tình yêu là tình yêu
đối với nhân loại. Đó là tình yêu của các bậc Thánh Nhân như Đức Phật, Đức Chúa
Jésus... Xem thế, tình yêu không chỉ hạn hẹp giữa trai gái; và càng không thể
nói rằng chỉ có tình yêu sắc dục mới hay mới đẹp. Tả cảnh vật như Bà Huyện
Thanh Quan trong bài thơ "Qua Đèo Ngang", đó là tình yêu đối với thiên
nhiên. Bài thơ đó đã làm rung động hàng triệu con tim người Việt và cho tới nay
bài thơ ấy vẫn còn được ca tụng. Như vậy, bài thơ Qua Đèo Ngang phải là bài thơ
hay.
Bậc Thánh
Nhân có một khối tình lớn hơn, bao la hơn và tinh khiết hơn. Đó là tình yêu đối
với muôn loài và chúng sinh. Con người bình thường chỉ yêu đến tầng thứ hai của
tình yêu, đó là thiên nhiên và muôn thú. Chúng ta đang sống ở xã hội Tây
Phương, chứng kiến những cảnh âu yếm của người Tây Phương đối với chó, mèo,
chim, cá... Họ lập ra nhiều hội, như: Hội Bảo Vệ Súc Vật, Hội Bảo Vệ Chim
Muông, Hội Bảo Vệ Cá Voi... Nhưng những hội đó chỉ có mục đích duy nhất là làm
đẹp cho những người giàu sang, thừa tiền, dư thì giờ... Còn những người nghèo
khổ không nhà (homeless) sống chết ra sao thì họ không hề nhắc tới! Đó là thứ
tình yêu giả dối, vị kỷ của người thừa tiền. Còn tình yêu của Đức Huỳnh
Giáo-Chủ là tình yêu của Bậc Thánh Nhân, xuất phát từ con tim từ-bi bác-ái.
Ngài đã khuyên bổn-đạo chớ nên sát sinh vì loài vật giúp ích con người.
Tình yêu
đối với thú vật và thiên nhiên cũng chưa đủ, mà còn phải yêu con người và không
được phân biệt chủng tộc. Yêu nhân loại để không còn xảy ra chiến tranh chém
giết lẫn nhau. Đức Phật hay Chúa Jésus không chỉ yêu riêng dân Ấn Độ hay dân Do
Thái, mà yêu toàn thể nhân loại ở thế gian nầy. Đức Huỳnh Giáo-Chủ cũng thế,
Ngài không chỉ yêu riêng nhân dân Việt Nam, mà yêu toàn thể nhân loại. Cái tình
yêu bao la đó chan chứa trên hoàn vũ, trong đó có cả tình yêu đối với người
thiếu nữ kia. Vậy, ai có thể nói Đức Huỳnh Giáo-Chủ không biết yêu?
Mời qúi
độc giả đọc lại bài thơ "Tình Yêu" một lần nữa để thấy cái hay cái
đẹp của bài thơ, từ cách dùng chữ cho đến cách diễn tả ý của Ngài.
Câu 1: Ta
có tình yêu rất đượm nồng,
Khởi đầu
bài thơ, Ngài dùng chữ "Ta" như thế là tuyệt! Tại sao Ngài
không dùng chữ "Tôi" hay chữ "Thầy"? Chữ
"Ta" vừa diễn tả cái "uy" của bậc Thánh Nhân, vừa
giữ được khoảng cách giữa người nghe với Ngài. Chữ "Ta" ở đây
còn hàm xúc một ý nghĩa khác nữa, đủ biết người thiếu nữ kia đã tỏ tình yêu với
Ngài không phải là một tín-đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Vì thế, Ngài dùng chữ "Ta"
thay cho chữ "Thầy". Ngài chỉ xưng "Thầy" đối
với tín-đồ mà thôi. Chỉ một chữ "Ta" cũng đủ làm cho người đọc
thấy được cái uy lực của Ngài mà vẫn giữ được chất thơ.
Đượm
nồng có nghĩa là đằm thắm, dùng ở đây rất là tuyệt! Chữ đượm
nồng do ở câu "duyên càng đượm, lửa càng nồng" mà ra. Ca dao có
câu: "Ai về ai ở mặc ai, Thiếp như dầu đượm thắp hoài năm canh".
Câu 2: Yêu
đời yêu lẫn cả non sông.
Có người
chỉ yêu đời mà không yêu non sông. Đó là những người trốn quân
dịch hồi thời VNCH. Vì yêu đời và yêu non sông nên Ngài mới xả
thân cho cuộc cách mạng đạo Phật; đồng thời xiển dương thuyết "Dân-Chủ
Xã-Hội".
Câu 3:
Tình yêu chan chứa trên hoàn vũ,
Chan
chứa là lênh láng, mênh mông. Tình yêu của Ngài bao la,
mênh mông, lai láng khắp hoàn vũ (thế giới).
Câu 4:
Không chỉ yêu riêng khách má hồng.
Vì tình
yêu của Ngài bao la quá nên không thể yêu riêng một ai, dù đó là một thiếu nữ
tuyệt đẹp, nhan sắc vẹn toàn (khách má hồng).
Câu
5: Nếu khách má hồng muốn được
yêu,
Ngài nhấn
mạnh chữ "muốn" rất tuyệt vời! Với chữ "muốn"
đó đủ chứng tỏ người thiếu nữ ấy đã yêu Ngài và tỏ tình với Ngài.
Câu 6:
Thì trong tâm chí hãy xoay chiều.
Chữ tâm
chí gồm cả con tim (tâm) và ý chí (chí) để suy nghĩ và hiểu
biết chứ không chỉ rung động bằng con tim mà thôi. Nếu có ý chí thì người thiếu
nữ kia phải suy nghĩ lại (xoay chiều). Và điều quan trọng hơn hết là Đức Huỳnh
Giáo-Chủ đã dằn mặt người thiếu nữ đó: Chớ nên quyến rủ người tu hành!
Câu 7:
Hướng về phụng sự cho nhơn loại,
Tình yêu
của Ngài cao cả và thiêng liêng quá nên Ngài muốn cho người con gái kia thức
tỉnh để mà lo lắng (phụng sự) cho loài người (nhân loại).
Câu 8: Sẽ
gặp tình ta trong khối yêu.
Người con
gái ấy chỉ được gặp thôi chứ không được đáp lại bằng tình yêu thông
thường vì tình yêu của Ngài là cả một khối tình to lớn, bao la, không thể tách
rời được.
Câu 9: Ta
đã đa mang một khối tình,
Đa
mang có nghĩa là bận bịu nhiều (Ca dao: Đa mang chi nữa
đèo bồng). Ngài đã bận rộn với khối tình lớn kia rồi thì không còn đầu óc đâu
để nghĩ đến chuyện vụn vặt, tình yêu trai gái.
Câu 10:
Dường như thệ hải với sơn minh.
Thệ
hải, sơn minh do chữ "thệ hải, minh
sơn", có nghĩa là thề nguyền. Lòng Ngài đã thề nguyền với non sông rồi thì
không thể nào thay đổi được.
Câu 11:
Tình yêu mà chẳng riêng ai cả,
Khối tình
yêu bao la đó không thể nào yêu chỉ một người.
Câu 12:
Yêu khắp muôn loài lẫn chúng sinh.
Chúng
sinh là nói chung các loài sinh vật (Ca dao: Thương thay
thập loại chúng sinh, Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người). Câu kết cho
thấy Ngài yêu tất cả loài người và sinh vật ở thế gian nầy, chứ đâu riêng gì
một người, một nước, một chủng tộc.
Hiểu được
bài thơ "Tình Yêu" của Đức Huỳnh Giáo-Chủ là hiểu được triết lý của
Ngài. Đức Huỳnh là Đức Phật tái sinh để cứu khổ độ đời, chứ không chỉ yêu
thương một người, dù người đó là một tuyệt sắc giai nhân. Bài thơ "Tình
Yêu" đã cảm hóa được người thiếu nữ ấy và làm rung động hằng triệu con tim
người Việt từ thập niên 40 đến nay.
(Ðức Phố,
Xuân Tân Mùi, 1991)
* VĨNH LIÊM





Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire