Bà Nhưn Giáp nghiến răng:
– Tui đã thề với má tui là không bao giờ tui trở về Đạo Thạnh. Nay ông ứng bà hành gì mà ông lại
có ý nghĩ kỳ cục đó? Thà
tụi mình tấp vào xứ
khỉ ho cò gáy nào đó để “trụ” còn hơn là quay về cái xứ Đạo Thạnh
bạc bẽo đó?
Bà nguýt chồng rồi lần
ra trước mũi ghe mở khạp gạo xúc gạo nấu cơm.
Chiều nay ghe chở than củi của hai vợ chồng đã đến
chợ Cái Răng thuộc tỉnh Cần Thơ. Họ mua than ở U
Minh Thượng lần hồi về đây. Bà vốn thực tế.
Ngoài việc chở than bà còn mua thuốc cao đơn hườn tán, bán
dọc đường. Đã gần hai mươi năm qua, hai vợ chồng
sống nghề thương hồ. Họ mua đi bán lại đủ thứ
loại hàng hoá: lúa than, mắm, lá chầm, đồ gốm, mía… Hai mươi năm trước,
cả hai sống bằng nghề buôn theo gót du canh, theo nghĩa
là đoàn người khẩn hoang đến từ địa danh hoang vu này đến địa danh khỉ ho cò gáy
khác. Đoàn người khẩn hoang kia đốn tràm, đốt
sậy làm rẫy, làm ruộng,
lập vườn,… Cuộc đất vừa hình thành có khách trú tới
mở tiệm tạp hoá, tiệm trà, tiệm
trồng răng vàng, tiệm bán đồ sắt…
Đạo Thạnh là một
làng nằm gần Ngã Ba
Trung Lương thuộc tỉnh Mỹ Tho, nổi tiếng về mận hồng đào, một loại mận màu hường
lợt nhưng không ngọt bằng mận da người. Đạo
Thạnh cách ga xe lửa Trung Lương một cây số, cách châu thành tỉnh
Mỹ Tho bốn cây số. Cách
đây ba mươi năm, có lần bà Nhơn Giáp theo về
Đạo Thạnh. Chỉ về quê cũ một lần thôi mà tâm tư bà còn ê ẩm cho tới bây giờ.
Số là bà Tám Liệu,
má của bà Nhơn
Giáp vốn là người làng Đạo Thạnh hồi mười sáu tuổi
theo cô Hai Ngọc Loan, con bà Thông Đàn về Vĩnh Long vì cô
Loan lấy chồng xa, cần có người
tớ gái tâm phúc để đỡ đần tay chân và bậu bạn sớm hôm. Chồng
cô Loan là thầy Ba Phương, con ông Hương Cả Thành mới hai mươi
tuổi mà đã có tương lai sáng sủa. Thầy
làm thông ngôn cho quan Chánh Chủ Tỉnh người
Pháp ở Vĩnh Long, được ông giúp đỡ để tiến thân vào
làm trong Soái Phủ Nam Kỳ. Sau mười bảy năm ở đợ, Tám Liệu không nghe cô Loan lúc đó đã trở
thành bà Phủ Phương, tính chuyện lứa đôi cho mình. Tám Liệu
dan díu với Hai Báu,
làm thợ rèn trong làng, có chửa,
bị chủ đánh đập rồi đuổi đi. Tám Liệu sống nghèo khổ
với Hai Báu ở trong lò rèn
bên sông Cổ Chiên; mãi đến khi
con Tý (tức bà Nhưn
Giáp bây giờ) lên mười tuổi bà tính về thăm Đạo Thạnh một chuyến. Hai Báu can vợ:
– Đi xa làm ăn
có khá giả thì khi về thăm quê, xóm giềng cũ mới trọng vọng mình.
Má nó bỏ xứ suốt 27 năm rồi, người thân thuộc
lớp chết, lớp tứ tán đến nơi khác,
còn ai đâu mà về thăm? Lại nữa, má nó về
Đạo Thạnh chẳng có một phân
vàng nào đeo, chẳng có quần hàng áo lụa để diện thì về
đó ai mà thèm chứa?
Bà Tám Liệu không nghe dắt con gái lên đò máy về
Đạo Thạnh. Bà chỉ có bộ
đồ vải xiêm đen bóng lớp hồ gọi
là tươm tất. Tai bà đeo
bông chuỗi hỗ phách, cườm tay
đeo chiếc huyền. Cô con gái mặc chiếc áo vải in bông đã cũ, quẩn
vải ú. Đúng như lời Hai Báu tiên đoán. Dân làng Đạo Thạnh hầu hết không ai nhìn ra bà Tám Liệu. Có vài
chỗ bà con xa lạ lại thấy bà ăn mặc lôi thôi tỏ ra lợt
lạt không thèm mời ăn trầu uống nước chứ đừng nói là mời ăn cơm. Buồn tủi quá, bà
Tám Liệu mua bánh bò, bánh ích và nhang đèn
tìm đến mồ mả cha mẹ cúng
vái rồi dắt con ra ga xe lửa Trung Lương ngủ đỡ một đêm, để sáng sớm cả hai
đến Ngã Ba Trung Lương đón xe đò về Vĩnh
Long.
Cô Tý lớn lên được cha mẹ gả cho một anh kép hát
bội tên Giáp cũng xuất thân từ Đạo Thạnh. Kép
Giáp mặt mũi khôi ngô, nhưng đến
tuổi 30 thì hư tiếng, phải làm kẻ nhắc tuồng cho đào
kép, mà người trong nghề gọi là Nhưn…
Nhưn Giáp đêm đêm đứng ở cánh gà nhắc
tuồng cho đào kép mãi đâm chán nên bỏ đi làm nghề thương hồ khá hơn…
Ba mươi năm thấm thoát trôi qua.
Giờ đây chiều
xuống êm đềm. Bên kia
sông, sát bến nước là chỗ
phơi lưới cá, có chiến vó vừa cất lên. Sau chỗ
phơi lưới cá là chiếc lò gạch nóc tròn, màu gạch
đỏ rực trong ánh hoàng hôn. Bà Nhưn Giáp đợi
cơm sôi, sẵn mẻ than nướng mấy con khô sặc sửa soạn dọn mâm nhậu
cho chồng.
Cũng đã từ
lâu khi thấy cảnh vợ chồng không con không cái mà cứ trôi nổi
bình bồng trên chiếc
ghe thương hồ hoài, bà cũng tự hỏi, rồi
đây cả hai chết dọc đường thì thi thể tìm đâu ra miếng
đất an táng? Bà cũng tự giận mình, hồi 40 tuổi mà không chịu
nuôi một đứa con để cậy nhờ lúc tuổi già bóng xế.
Ông Nhưn Giáp hiện giờ có một người em gái tên là cô Ba Ất,
đi tu từ nhỏ, có lập một cái am
nhỏ ở làng Lộc Hoà tỉnh
Vĩnh Long. Vợ chồng ông Nhưn Giáp hễ làm có tiền, sắm vàng rồi
gửi cho em, tính đến nay cũng súc tích được mười bảy lượng vàng rồi.
Ông bà không dám lận tiền
trong mình vì trên bước đường thương hồ dẫy đầy
trộm cướp. Sư bà Diệu Pháp,
pháp danh của Ba Ất đã bao phen khuyên anh
chị nên “trụ” lại bất cứ một địa danh nào thích hợp, rồi cất nhà rồi
lần hồi buôn bán, sắm vườn, có cơ ngơi vững chắc để gởi nắm xương tàn về
sau. Ông Nhưn Giáp sực nhớ đến chuyện lũ voi rừng
già, dù có kiệt quệ thế mấy, mà khi gần chết cũng tìm về
cho được chốn bỏ thây của đồng loại mình để xương cố và cặp
ngà của mình được
gần xương cốt và cặp ngà của
đồng loại.
Dù sao ở Đạo Thạnh
ông Nhưn Giáp cũng còn một mảnh vườn
hai sào đất, giáp với
vườn làng (tức là vườn
thuộc về ban Hương Chức Hội Tề), ở đó có phần
mộ cha mẹ ông. Bấy lâu hai sào đất đó, ông cho đứt
một đứa em bà con nhà chú để hắn trồng
cây đinh hương cân bán cho tiệm thuốc
bắc cùng trông khoai từ, khoai
môn, khoai sọ.
Tuy ghét làng Đạo
Thạnh, tuy thấy chồng lẩn thẩn chưa chi mà tính
việc hậu sự, nhưng bà Nhưn Giáp cũng cảm
thấy kiếp sống thương hồ phải chấm dứt trong vòng
năm tới. Gặp trời lạnh, trời ẩm ướt các khớp xương bà đau nhức,
lòng ngực như chứa sa mù đặc sệt khiến cho hơi thở của bà khò
khè.
Ông Nhưn Giáp ngồi trước
mũi nghe nhậu một mình cho tới lúc bóng trăng trồi lên khỏi ngọn bần
ven sông Bassac ba sào. Trong khoang ghe, bà Nhưn Giáp thắp
ngọn đèn dầu mỡ cá, rồi
lấy chiếc tượng sành đổ vào đó
một ít cơm nóng và rưới một muỗng
nước cá kho sền sệt. Vậy là xong bữa ăn tối. Cơm xong, bà
giăng mùng đi ngủ sớm, trong lúc ông
lấy cây đờn cò kéo
ò e những bản Xuân Nữ,
Tây Thi, Văn Thiên Trường…
Trong mùng, bà Nhưn Giáp chạnh
nghĩ tới những đoạn đời tha phương cầu thực: những gánh
hát nhỏ di chuyển bằng ghe, những kẻ du canh, những khách thương hồ. Có một hôm nọ, cách đây bốn năm ông Nhưn Giáp bán trúng kỳ dưa hấu lời năm mươi phần trăm
số vốn, nên đưa vợ đi ăn ở một tiệm cơm Tàu tại chợ Vang Xáng, thuộc
huyện Hoả Lựu, tỉnh Rạch Giá. Đây cũng có thể
gọi là cao lâu, vì nó có căn gác rộng, mái lợp ngói móc, trần
gỗ.
Ông mặc bộ bà ba vải
xiêm đen, vai quàng khăn rằn tất cả
đều mới tinh. Bà mặc chiếc áo xuyến
trắng, quần lãnh trơn, tóc chải láng, đeo một vài món nữ trang bằng
vàng pha đồng, đi guốc sơn đen mới. Cả hai
mạnh dạn bước lên lầu, gọi phổ ky đem món ăn lại. Bên cạnh bàn hai ông bà đã có một chiếc bàn sắp sẵn một vài dĩa thức
ăn, cơm canh cùng nhạo rượu và 4 ly uống rượu.
Hai vợ chồng ông Nhưn
Giáp bồi hồi nhìn nhau. Cả
hai đều biết người đàn bà đó đang làm đám giỗ cho người
thân; nhưng vì chưa về nhà kịp (hoặc vì không có nhà) nên
đành cúng kiếng ở tiệm ăn. Cảnh tượng gợi lên kiếp người bèo bọt,
cái số phận cô độc
của một vài người đã từng quen biết với cặp vợ chồng không con này.Giữa bàn là một bát nhang, có cắm sẵn nén nhang huyền
đàn tuôn khói nghi ngút. Một người
đàn bà tuổi ngoại tứ tuần, ốm tong teo, lưỡng
quyền nhô lên cao đang khấn lạy, nước
mắt tuôn lai láng. Sau khi rót rượu ra cúng, bà ta còn khóc thêm chặp nữa và thu
mình trong góc căn lầu… chờ nhang cháy hết,
cầm đũa ăn cơm.
Vốn tò mò, bà Nhưn Giáp muốn
hỏi người đàn bà rằng: “Cô giỗ ai đó?” Nhưng ông chồng
vừa thoáng thấy vẻ tò mò của
vợ, vội vàng nắm áo kéo
bà lại. Theo ông, chuyện
muốn biết người được giỗ cúng là ai không cần
thiết. Bà vợ ông có
thể đoán ngược, đoán
xuôi mà vẫn thấm thía cuộc
đời bèo bọt như thường. Quả vậy, hôm đó trở về ghe, bà Nhưn
Giáp khóc cả buổi. Ông cũng không biết
phải khuyên can, an ủi bà cách nào? Từ lâu, cảnh già không con, cuộc sống bềnh bồng làm cho
vợ chồng bao phen suy nghĩ, và càng lúc nó trở
thành một ám ảnh
không nguôi, một ám ảnh vằng vặc. Thế mà cả
hai không ai dám nói ra. Vì cả hai vẫn
còn có ảo tưởng mình khoẻ mạnh, nếu không
đeo đuổi nghề thương hồ thì biết
làm nghề gì hơn?
Nhưng giờ đây cảnh cúng giỗ dọc đường xuôi ngược
nhắc nhở họ nên “trụ” lại, và vô tình nó làm cho hai vợ chồng cảm thấy mình yếu đi nhiều, sức khoẻ không
còn vững vàng như hồi năm
ngoái.
Rồi đó một
hôm ghe chở lúa của
cặp vợ chông thương hồ kia phải
ghé nhà thờ Cái
Răng, vì hôm đó bà ngã bịnh ban cua lưỡi trắng. Vị linh mục
nhân từ khuyên ông
đưa vợ đi nhà thương ở Cần Thơ
điều trị. Chừng bà bình phục, ông vẫn neo thuyền dưới bến nước nhà thờ.
Dù là đạo Phật nhưng vì mến linh mục, ông Nhưn Giáp vẫn
dự lễ Chúa Nhật vẫn mang hoa huệ dâng Đức Mẹ, và vì hiếu kỳ ông chú tâm nghe lời Cha giảng Kinh. Và đau
khổ cho ông biết bao, bao nhiêu lời giảng đạo bay vuột qua khỏi trí óc của ông, chỉ trừ một
câu: Chồn cáo có
hang, chim có tổ, con người không có
chỗ gối đầu.
Ông Nhưn Giáp bao phen rùng mình khi nghĩ tới
cái quê hương vĩnh viễn của
con người. Sống gửi thác về… Nếu về
dưới âm phủ địa ngục thì buồn quá để rồi lại
sống gởi trên trần gian bao nhiêu lượt nữa? Đi về rồi lại đi về. Vậy thì cõi âm phủ đâu phải là quê hương vĩnh viễn của con người? Nếu nó vĩnh
viễn thì đâu có vụ đi đi về về, đâu còn cái vụ “sống gửi thác về?”
Lại nữa cõi âm là cõi của kẻ bị
trừng phạt, cõi u tối đầy tiếng rên than. Vậy thì quê hương đau khổ
đến vậy sao?
Cô Ba Ất, em của
ông Nhưn Giáp vốn sinh trưởng ở Đạo Thạnh,
sau theo cha mẹ về Cầu Dài, một ngoại ô của tỉnh Vĩnh Long cách
thành phố con rạch Long Hồ. Vậy mà, có
lần theo cha mẹ đi Lộc Hoà mua bán, khi đi ngang doi đất
có có cây gừa, cây đa,
cô bỗng bảo:
– Hồi đó tui ở đây.
Bà mẹ mắng:
– Đồ khùng,
mày ở hồi nào tới giờ
theo vợ chồng tao ở hai nơi là Đạo Thạnh
và Cầu Dài…
Mày ở hồi nào?
Cô Ba Ất rơi nước mắt:
– Tui là con gái ông Hương Cả Bình. Hồi đó tui tên Hoà.
Cha mẹ ông Nhưn
Giáp kinh hoảng và ngạc nhiên tột độ. Cả hai dọ hỏi thì mới
biết Lộc Hoà có gia đình ông Hương Cả Bình. Ông này có cô con gái út tên Hoà, chết hồi 18
tuổi.
Cô Út khẳng định:
– Tự dưng qua đây, tui nhớ
lại quê nhà hồi kiếp trước.
Và cô than thở:
– Ba má nghĩ coi, kiếp trước
tui có một quê hương,
kiếp này tui có hai ba quê hương. Con người
không có chỗ “trụ” vũng chắc, muốn ở yên không được, cứ trôi nổi
hoài. Thôi xin ba má tha tội bất hiếu
cho tui, tui muốn ở đây tu hành. Vì ở
đây có am sư cô Diệu Mãn.
Dầu có ráo
nước miếng khuyên lơn, nhưng vì thấy con gái quyết chí xuất gia nên đành để cô Ba Ất đến am
Thanh Liêm tu hành.
Tối nay, trong cơn gió sông hiu hiu, dưới ánh trăng bạc
nhược lọc qua lớp sa mù ẩm đục, tự
dưng ông Nhưn Giáp nhớ lại ánh đèn dầu chong dưới mái am.
Cô Ba Ất giờ đây trở thành sư bà Diệu Pháp, tu hai pháp môn Thiền
Tông và Tịnh Độ – Thiền Tịnh
Song Tu. Tết năm ngoái, vợ chồng ông có
về Lộc Hoà thăm sư bà. Mỗi khi nhìn vầng trán cao sáng sủa
đôi mắt hiền lành của
em, ông Nhưn Giáp ôn lại chuyện
tiên kiếp của sư bà. Ông không tin rằng em mình bịa
đặt. Làm sao ai có thể cắt nghĩa cái hiện tượng nhớ lại kiếp trước của em ông? Tai mắt con người có giới
hạn, làm sao thấy xa và nghe
xa trên cõi trần, huống hồ gì tới
chuyện tiền kiếp? Nhưng nhà ông Hương Cả
Bình ở Lộc Hoà còn
đó. Sự thác sanh của cô Hoà vẫn có thiệt. Làm sao một kẻ chưa từng đi Lộc Hoà bao
giờ như em gái ông lại biết được? Lại nữa, em
gái ông khi đến nhà ông Hương Cả Bình còn chỉ
cho người đào ở gần hông
nhà, dưới đám cây bồ công anh, gặp một cái chén da rạn,
một cái dĩa quả tử mà hồi
xưa cô Hoà đã chôn lén.
Quê hương bao kiếp trước.
Quê hương kiếp này.
Quê hương bao kiếp sau. Đó là chỉ
nói quê hương trên cõi trần. Lại còn quê hương vào lúc “thác về” tức là cõi
âm phủ. Thì ra con người
có quê hương thật sự bao giờ đâu! Phải đi đi về về suốt qua hai cảnh giới. Hồi còn mạnh khoẻ, còn hăng hái bán buôn,
còn say mê cảnh sông hồ, chưa
bao giờ ông nghĩ tới chuyện sống chết luân hồi. Nhưng, lúc sức
lực cạn vơi, và sau bao năm xuôi ngược trên sóng nước, tự dưng trong cõi sâu
thẳm của tâm linh ông bỗng loé ra một tia sáng bạc nhược,
nhưng cũng đủ cho ông biết rằng: Ngay trên cõi tạm này là cõi trần
gian, có mấy ai suốt đời ở một nơi cố định?
Dù vui hay khổ về chuyện xê dịch, nhưng đến lúc già
yếu, ai cũng phải tìm cho ra một
chỗ “trụ”. Chuyện đầu thai, chuyện luân hồi,
dù chưa có ứng nghiệm, dù tin hay không tin, nhưng ông đủ thấu hiểu rằng con người sinh
ra đời chẳng phải là một tình
nguyện, mà con người như một
mảy lông ném vào cơn vận chuyển
không ngừng nghỉ.
“Chồn cáo có hang chim có tổ,
con người không có chỗ gối đầu?” Đã bao lần, ông Nhưn Giáp lặp
lại câu đó để rồi ngậm ngùi thương xót cho kẻ chết dọc đường, để rồi thương cho lũ voi khi gần
chết cố gượng sức lết về hang động của tổ tiên, đồng
loại để gửi ngà gửi xương.
Sau khi bán than cho các vựa
than ở Cái Răng, ở chợ Cần Thơ, ông bà Nhưn Giáp lần hồi về đến chợ Vĩnh Long. Dọc đường họ bán thuốc cao đơn hườn tán,
bán dây chuyền, kim hát máy, bán cuốn
bài ca và các tuồng thu tranh trong dĩa nhạc,
bán luôn cả dĩa nhựa.
Ông nói với bà:
– Kỳ này, vợ
chồng mình mò mẫm đi Lái
Thiêu mua lu hũ, chén sành, liễng kiếng để bán dạo khắp vùng Tiền
Giang. Mình bán hết chuyến chót thì năm cùng tháng tận, rồi về Lộc Hoà ăn Tết với sư bà. Ra giêng mình phải
dọ hỏi ruộng đất, hoặc chỗ nào có thể “trụ” để
sanh sống… trên bờ thì mua.
Bà vợ nói:
– Ông có cái tật… lên bờ nhớ sông, xuống sông nhớ bờ thì còn nước non gì. Tui còn nhớ lần ông về
Lộc Hoà thăm sư bà. Ông nói rằng ông là cá, lên bờ phát ngộp thở như
cá mắc cạn.
Về đến chợ Vình
Long mà không có hàng hoá thuộc loại thổ sản thì cũng ngặt cho bà. Nhưng bà biết
ông thích gặp các tay
thương hồ để mặc sức mà đàm
đạo chuyện sông hồ, chuyện anh hùng bốn bể, từ chuyện trên nguồn
có kẻ đốn củi hầm than tới chuyện ngoài vàm khơi có kẻ chài cá.
Đã ghé bến chợ, bà Nhưn Giáp đi viếng chợ, một một con cá chẻm,
một con cá bông để làm món nhậu cho chồng. Khi về tới ghe, bà đã thấy ông chồng đang
quạt than nướng khô cá gộc, khô cá thiều. Mùi khô thơm ngát bay toả
khắp dãy ghe đậu từ phía bến
nước chợ cá tới bến Chú Cụt.
Cạnh ghe thương hồ của vợ chồng bà là ghe chở
khô mắm Cà Mau.
Chủ ghe giữ phần đà công (lái ghe) còn đứa cháu giữ chân trạo phu.
Ghe mắm đã bán hết cho vựa bà Tám Phuông bên kia bến chợ, tức là về phía bến Cầu Dài, gần dãi trạm lá chầm. Nhưng còn khô cá sưởu,
khô cá lăng sình thì chủ ghe bán lẻ ở tại chợ cá Vĩnh Long.
Bà Nhưn Giáp vừa thấy ông Bảy Tịnh chủ ghe mắm và khô
đang lui cui luộc trứng vịt lộn, trứng ung thì biết chốc nữa đây sẽ
có cuộc nhậu nhẹt… Ngoài ông Bảy Tịnh còn có ông Ba Chất
chủ ghe lươn, ông Năm Bảnh chủ ghe đồ gốm… Thế cũng
đủ cho tiệc rượu thêm xôm tụ. Các tuý tửu phiên vương kia có thể
nhâm nhi cả lít rượu
đế. Bà Nhưn Giáp xưa kia vốn không ưa không ghét chuyện nhậu nhẹt của chồng. Nhưng từ
một năm nay, bà thích dỏng tai nghe ké chuyện kể của các tay thương hồ.
Bà càng lúc càng muốn chia sẻ
tâm sự với họ, nên bà thường tham dự tiệc nhậu, để có dịp
hỏi han họ chuyện nọ chuyện kia.
Chiều tối. Thành phố
lên đèn. Vì bên sông đầy rác rến, lại gần cầu tiêu chợ,
nên ai muốn tắm rửa thì chèo ghe đến khúc sông để tắm gội
nấu cơm và xách nước đổ vào hũ, vào khạp, lóng phèn cho nước
trong để dành xài. Bà Nhưn Giáp lôi trong rổ
những trái cốc, những trái khế, những trái me xanh, rồi
gọt vỏ cốc, và rửa khế, me cho sạch, bày tất cả lên dĩa. Trái cây chua chấm
mắm ruốc giã tỏi ớt cũng là món nhắm độc đáo rồi.
Bà xào nấu hai món nhậu
bằng cá chẽm và cá
bông rồi dọn vào mâm lớn cho chồng.
Ông Nhưn Giáp hướng về phía chiếc ghe mũi lá chầm,
trên đó có chị đàn bà
ngoài bốn mươi mặt mày tiều
tuỵ, mắt sâu hoắm, tóc tai
biếng chải.
– Nè thím Sáu Ách, thím kêu chồng thím qua ghe tui nhậu một phen.
Vợ Sáu Ách hỏi:
– Tụi nhậu ké được
không anh Nhưn?
– Có mụ vợ tui, thím tháp tùng qua nhậu cho vui.
Vợ Sáu Ách nói:
– Để tụi này
chèo ghe qua bên An Thành tắm rồi lựa trái bần về ăn kèm với
mắm cá sặc chắc là
ngon.
Chị ta réo bà
bán vôi bột đậu ghe ké bên ghe mình, mượn
cục xà bông sả đi tắm gội cho thơm tho. Bà Nhưn Giáp nghĩ thầm:
– Con này biết… chuyện. Vợ chồng nó không tắm xà bông sả thì ai mà dám ngồi gần.
Bà vừa chùi nồi, soong vừa cười chúm
chím khi nhớ lại cái hôm đầu tiên gặp vợ chồng Sáu Ách. Sáng hôm đầu
tiên ngồi tại chợ Vĩnh Long bán khô, bà Nhưn Giáp bỗng chột bụng, mắc đi cầu. Bà liền nhờ bà bán mắm ruốc kế
bên coi chừng sạp khô giùm mình và đi lẹ về phía cầu
tiêu công cộng cất dựa bến chợ. Vừa xổ bụng
xong, thì bà nghe có tiếng cằn nhằn của người đàn bà ngồi dưới sàn cầu
tiêu.
– Hôm nay, vừa ra ngõ là mình gặp một chị đàn bà
chửa nên mình xui tận mạng. Nãy có ba ông, một bà vào đây tiêu chảy
thì mình còn kiếm chác được gì đâu.
Thì ra chị đàn bà chuyện nghề đi vớt phân
thiên hạ, vò tròn bằng bụm
tay, phơi khô rồi bán cho
mấy người Tiều (Triều Châu) chuyên nghề
làm rẫy.
Đêm đó trằn trọc mãi trong khoang ghe, bà Nhưn Giáp bỗng nghe ở ghe đậu cách ghe bà ba bốn chiếc ghe có tiếng
than khóc. Bà rủ ông
chui ra ngồi đầu ghe nghe ngóng.
Trên trời trăng sáng vằng
vặc. Thành phố vào nửa
khuya hãy còn ồn ào. Nhưng
tiếng ồn ào ở xa văng vẳng mơ hồ vì ngược theo chiều gió chướng
thổi lao xao. Tiếng than khóc vì thuận chiều
gió, đến tai đôi vợ
chồng già rõ mồn một:
Người đàn bà bỗng
ngừng khóc đổi qua giọng the thé:
– Hồi đó tui
bảo anh đi tập hát cải lương. Anh nghe lời ông bầu gánh Rương Đen, đi theo nghề
hát bội. Giờ đây hát
bội hết thời, không ai thèm coi. Gánh Rương Đen rã tại
chợ Lách, may mà tui còn chút đỉnh tiền
mua chiếc ghe để về đây vớt phân thiên hạ. Vớt ba cái thứ
thúi tha hoài, rồi chẳng biết ngày nào về quê quán đây? Năm cùng tháng tận
rồi mà mình chưa mua được chai rượu,
con vịt để dành ăn Tết.
Tiếng người đàn ông
lè nhè:
– Tao biểu mày nín. Số tao là số
bần cùng, dẫu có đi
theo cải lương, thì với
cái giọng thùng
thiết bể chắc gì tao được
làm kép chánh đâu. Nghề hát bội là nghề ông cha tao, nuôi các cô, các chú, các anh chị em tao
đã hai đời rồi; có lẽ
nào tao phụ nó? Bộ
mày tưởng hễ ai đi hát cải lương rồi cũng ngang hàng với
Bảy Nhiêu, Năm Châu, Tư Út hết hay
sao? Có nhiều gánh cải
lương đi hát ở miễu đình, gặp
lúc trời mưa thưa khách thì sáng hôm sau họ đi bắt cóc nấu cháo.
– Thịt cóc coi
vậy mà thơm tho, nói cho anh biết.
– Ấy, mình vớt
cứt sanh nhai chớ có ăn cứt đâu nà. Dầu sao đi nữa, mình cũng
đắp đổi qua ngày nhờ nghề vớt hạ tiện này. Mày chê nó thì mày ngu như ăn cứt.
Vốn là nghệ sĩ, ông Nhưn Giáp cảm xúc lắm. Vào thập niên 30, các gánh cải
lương thuộc loại trung ban khi lưu diễn thì dùng
ghe chài. Còn các gánh hát bội, gánh tiểu
ban chuyên lưu diễn ở làng, ở
quận, thì dĩ nhiên lấy sông nước làm đường di
chuyển, lấy rạch con, kinh nhỏ để vào tận
các làng hẻo lánh. Hồi
xưa ông Nhưn Giáp đi gánh hát Rương Vàng, chuyên diễn
tại các miễu, các
đình nằm dọc trên rạch
Long Hồ, trên sông Cổ Chiên. Gánh Rương Đen rã ba phen. Ông bầu phải trở về nghề làm ruộng rẫy để rồi có đủ
tiền, ông hội đào kép
cũ dựng lại gánh. Ông bầu
cũng là một kép lão
đóng vai Tỷ Can trong vở Mổ Tim Tỷ Can hay thần sầu. Đã trót lâm đời nghệ sĩ, đã mắc
nợ tổ nghiệp, ai mà rứt khỏi nghiệp cầm ca dễ dàng?
Sáng hôm sau, vợ chồng ông Nhưn Giáp tìm ghe người vớt cứt. Hỏi ra đó là Sáu Ách, em của Hai Canh, mà Hai
Canh là bạn chí thân của ông Nhưn Giáp khi cả hai cùng thay phiên đóng các
vai chính trên sân khấu Rương Đen. Không ngần
ngại, ông Nhưn Giáp lấy năm chục đồng trao cho
Sáu Ách, mời hai vợ chồng qua ghe mình dùng cơm, viết một bức thư cho sư bà Diệu
Pháp, nhờ sư bà tìm
cách giúp đỡ vợ chồng Sáu Ách khi họ
về Lộc Hoà.
Khi các bợm nhậu bày tiệc thì bóng trăng tròn trịa
đã nằm vắt vẻo trên dãy cây đen thẫm bên kia cù lao An Thành. Riêng
cậu Hai Chí Thành, cháu ông Bảy Tịnh
không biết nhậu. Cậu vốn ăn chay trường,
nhưng cũng đến mâm chậu trái cây
chua chấm muối ớt để hóng
chuyện sông hồ. Vợ chồng
Sáu Ách được tắm gội bằng xà bông sả, họ mặc nguyên bộ
quần áo bằng vải ú còn
mới thơm mùi long não.
Mấy hôm
rày, ông Năm Bảnh thèm thịt
chó, nhưng ông Ba Chất không chịu bảo rằng:
– Con chó vốn là loài
thú vật gần gũi với con người, lại hết lòng trung tín với người. Mình ăn
thịt nó hoá ra mình ăn thịt thủ hạ
mình hay sao? Thủ hạ của mình có khi còn phản phúc nữa là… Còn con chó trước sao sau vậy?
Ông Nhưn Giáp có vẻ yêu mến nể nang cậu Hai Chí
Thành lắm. Khuôn mặt của cậu
hiền, cậu tươi cười nhưng không có hậu ý gì. Thần thái của cậu sáng rỡ. Hết màn trái cây chua, cậu
xin ly nước trà ngồi nhâm nhi
hầu chuyện các bậc “trưởng thượng”. Bà Nhưn Giáp đem dĩa bánh xôi vị mời cậu, và nhấn đi nhấn lại đây là
món bánh chay.
Các bợm nhậu hết nói về huyền thoại, về truyền kỳ các cuộc
đất mà họ đi qua, rồi đề cập cách sinh hoạt các dân vùng khai hoang khẩn
đất, về thổ sản. Mới đó mà đã hết một lít rượu ngâm hoài sơn, thục
địa và cam thảo. Bà Nhưn
Giáp lấy thêm bốn chai rượu
nếp than màu nâu đỏ, đặc sền sệt khi rót ra thơm ngào ngạt. Từ ba mươi năm qua, cuộc sống thương hồ đã làm cho tâm hồn bà phong phú, kiến
thức bà dồi dào, nhưng
giờ đây ám ảnh về chỗ “trụ” đã có một chỗ đứng trong tâm hồn
bà, càng ngày càng lớn rộng,
càng vững bền. Vợ chồng Sáu Ách sau khi vớt phân thiên hạ,
có thể tắm gội bằng xà bông sả là mùi xú khí bay đi, nhưng giấc
mộng trở về quê của họ làm sao
mà tắt mất? Ông Nhưn Giáp có thể
mượn rượu tiêu sầu giải muộn, nhưng khi men rượu
thoảng qua, ám ảnh về chỗ “trụ”càng vằng vặc, càng sáng ngời…
Còn bà, bà cũng mệt rồi, cần một “chỗ gối đầu”
để nghỉ ngơi.
Ông Ba Chất đang lúc ngà ngà vụt tâm sự:
– Bà con biết tại sao tui không ăn thịt chó không? Hồi
đó tui sanh đẻ tại Tân Hiệp, thuộc tỉnh Mỹ Tho. Tía tui
làm nghề thuốc nam, chuyên nghề
sửa những người trặc chân, nghề cắt giác. Tía má tui sanh đầu đuôi có
hai anh em tui. Anh lớn tui tên là Hai Chơn. Rồi
một ngày nọ, có một
người đàn ông xứ Quảng Nam từ Tân An thả xuống, bán quế,
kỳ nam, thuốc dán (tức là loại
thuốc cao). Ông ta ăn nói vui vẻ tính tình bãi buôi. Tía tui hợp ý với
ông ta kết làm anh
em, ổng nhỏ hơn tía tui một
tuổi làm nghĩa đệ. Dè đâu
ông này tán tận lương tâm thấy
má tui có bóng sắc nên lén tía tui ve vãn má tui. Má tui cũng mê cái mã khôi ngô của
ông Quảng Nam, xiêu lòng. Lúc đó, tía tui mắc chứng bệnh phù thủng, không hiểu sao biết
được tự sự. Phẫn uất quá, vào lúc sáu giờ
sáng, tía tui lết ra đường rầy xe lửa Mỹ
Tho – Sài Gòn cho xe lửa cán nát thây. Má tui sau một
năm để tang cho tía tui, chánh thức sống
chung với ông Quảng Nam. Ổng bắt hai anh
em chúng tui đi chăn trâu mướn cho ông Hương Sư Kỉnh ở xóm Tre, cách xóm tôi
hai cây số. Thiệt tình, hai anh em tui lúc
mới mồ côi cha, còn nhỏ quá đâu hiểu chuyện thương tâm của
tía tui. Lại nữa, trẻ con trong xóm hễ vừa mới lớn lên là
đi chăn trâu, ở đợ. Hai anh em tui được vợ chồng ông Hương Sư thương tình, cho ở ngoài
chòi khá rộng, cất giữa ruộng, có
chõng tre, mùng mền, có nồi niêu. Anh tui có nuôi một con chó Vá.
Hai anh em tui coi nó như đứa em út
trong nhà. Vì mồ côi, nên hai anh em tui thương
yêu, trìu mến nhau lắm. Không hiểu
ai đó học lại chuyện tự vận của tía tui cho anh tui nghe. Bắt đầu từ đó, ảnh tư lự, buồn bực lắm nên thường
đến chùa Kim Quang luôn. Đêm nọ, hai
anh em lạnh quá vì vào tiết lập Đông, cả hai ômg chặt nhau
ngủ mà không đủ ấm. Ảnh đốt mẻ lửa ở chiếc cà ràng, rồi than thở:
– Ba à, mày thấy chuyện nhà mình thảm thiết lắm không? Lớn
lên mày cũng đừng thèm cưới vợ, sanh con làm gì?
Đừng có nghĩ nối dòng, nối giống làm chi? Dòng mình là
dòng nghèo nàn, làm nghề lặt vặt, hoặc đi làm mướn
ở đợ, có gì vẻ vang đâu mà
nối? Mà mày cũng đừng oán hận gì ông tía ghẻ
tụi mình. Chẳng qua tại kiếp trước, tía tụi mình có làm gì oan trái với
ổng, nên kiếp này ổng
báo oán.
Rồi một hôm nọ,
anh tui tìm về nhà mẹ
và tía ghẻ, bảo rằng thôi không làm mướn. Tía ghẻ tụi tui
đánh ảnh thiếu điều nứt đít. Ảnh khóc:
– Xin chú đừng giận
con tội nghiệp. Con về đây để có chết được thấy mặt má con.
Con chó theo ảnh, chồm
lên táp vào cánh tay tía ghẻ tụi tui
rồi chạy mất. Má tui liền can gián và lấy muối xức vào vết
roi cho anh tui. Đêm đó anh tui nổi cơn nóng lạnh. Sáng ra mình mẩy
ảnh đầy mụt đỏ. Ảnh bị trái giống và chết vì bệnh oan
nghiệt này. Tía ghẻ tui toan đi thưa làng nước, để đem xác ảnh
thiêu ra tro. Má tui khóc, năn nỉ ổng, vào nửa đêm bó chiếu thây ảnh rồi chôn gần
chòi tui. Tội nghiệp con chó Vá, cứ mỗi chiều nó ra mộ
ảnh nằm rạp, rồi cất mỏ tru lên từng hồi
thảm thiết. Mấy cây ổi quanh chòi, cây nào do anh tôi trồng, tôi cắt
miếng vải trắng, gọi là để tang
cho ảnh. Con Vá chỉ nằm dưới những tàn cây mang mụn vải trắng. Rồi đó,
liên tiếp ba ngày tui bị sốt rét, nóng mê man, nằm lì trong chòi. Nhờ
ông Hương Sư thương tình, mời thầy
thuốc nên tôi mới gượng ngồi dậy. Kỳ đó tui đau ban trắng, uống mỗi ngày hai
gói cảm mạo phát tán. Con chó Vá cứ
quanh quẩn theo tui. Lúc đó, vào mùa Vu Lan, mưa
tháng bảy cứ dầm dề. Suốt ba ngày,
tui không thấy con Vá. Đến
khi mưa tạnh, thằng Ân, tên hầu trà nước của ông Hương Sư đến
thăm tôi, và cho tôi biết con Vá đã chết, xác nó nằm úp trên mộ anh tui. Chuyện vẫn chưa hết đâu. Sáu tháng sau, ông tía ghẻ tui phát
điên vì nọc chó, cứ rống, cứ
tru và như ngộp thở, le lưỡi thở hào hển. Ổng chết. Đó là
điều tui rất khổ tâm vì cái cảnh goá bụa của má tui, cảnh côi cút của lũ em khác
cha, sau hai năm cư tang cho ông tía ghẻ thứ nhất. Bà sống lận đận với cái nghề
mua thúng bán bưng ở ga xe lửa Trung Lương, ở
chợ Bến Chùa. Tôi bỏ nhà làng ra đi, để khỏi thấy mấy đứa em tôi bị
ông tía ghẻ thứ hai hành hạ. Ông này vốn ghiền
rượu, hễ say sưa là ổng đánh má
tôi và các em tôi còn hơn kẻ thù. Năm
năm sau má tôi qua đời. Các em tôi được
người chú đem về Thủ Thừa dạy. Tôi về xóm cũ, chỉ thấy nền
nhà cỏ mọc. Sau đó, tôi ở chơi với bà con lối
xóm một tháng,
thăm mộ tía má tôi, mộ
tía ghẻ, và mộ
anh tôi, cùng mộ con chó có
nghĩa, bồi đắp các ngôi mộ cho tử
tế, rồi đi Thủ Thừa thăm các em. Từ đó trên hai mươi năm, tôi vẫn sống đời chợ gạo sông nước, chưa có dịp
nào về nơi cố quán cả.
Bóng trăng giờ
đây đã lưng chừng trời. Ngoài vàm, một chiếc ghe giương buồm chạy về phía Bắc Mỹ Thuận. Ông Năm Bảnh
buồn rầu nói:
– Tui bỏ quê chừng hai mươi năm, trở về thăm quê thì lớp người sanh trước tui rủ nhau thăm ông bà tổ tiên. Điều đó chẳng nói làm chi. Còn những
người đồng hành với tui thì cũng
đi tứ tán theo kiểu
tha phương cầu thực; mà nếu kẻ còn ở lại thì họ cũng già cả lẩn lộ. Tụi nhỏ mới tấn lên, nhìn
tui một cách tò mò, ghẻ
lạnh. Quê của mình mà
làm mình buồn tủi còn hơn quê người.
Cảnh vật thay đổi làm mình như lạc lõng ở rừng, ở hóc Bà Tó…
Nãy giờ, cậu Ba Chí Thành yên lặng ngồi nghe các bậc
“trưởng thượng” đàm đạo. Cậu chỉ cười hiền, ánh mắt sáng ướt, môi cười chúm chím. Ông Nhưn Giáp liền
gợi chuyện với cậu:
– Sao chú Ba? Nãy giờ, cháu chưa kể chuyện về quê quán
của cháu cho các chú, các bác cháu ở
đây biết. Quê cháu
ở đâu?
Cậu Ba Chí
Thành nhỏ nhẹ thưa:
– Thưa các bác, các chú, bác Bảy
của cháu chắc cũng đã kể
qua cho các bác, các chú quê quán của hai bác cháu rồi. Quê cháu ở
làng Mỹ An cách tỉnh
Vĩnh Long mười lăm cây số. Cháu mồ
côi cha mẹ hồi sáu tuổi.
Bác Bảy cháu đi
buôn, nên gởi cháu cho sư bà Diệu
Đức ở chùa Sơn Thắng nuôi dưỡng.
Sư bà dạy cháu học
kinh kệ, và cho học chữ ở nhà trường. Khi 15 tuổi, cháu rời
Vĩnh Long, đi lưu học ở Mỹ Tho, tới năm thứ hai chương trình Pháp. Vì thấy sư bà yếu
quá, cháu trở về chùa phụng
dưỡng sư bà. Thiệt sự, sư bà là kế mẫu của má cháu, nhưng cháu thương
bà còn hơn là bà ngoại ruột. Trước khi viên tịch,
sư bà muốn cháu đi
đây đó để kinh qua thế sự, trước khi trở về chùa tu lại. Mấy năm nay, cháu
theo bác Bảy đi thương hồ, có lẽ
năm tới cháu trở về chùa, thọ
giới sa-di…
Bà Nhưn Giáp nói:
– Vậy thì cậu
còn có chỗ trụ; đó là
chùa Sơn Thắng chớ gì?
Cậu Ba Chí
Thành vẫn giữ giọng ôn nhu:
– Dạ thưa bác Nhưn
gái, chùa ở đâu đối với cháu cũng vậy, cũng vừa là nơi
tạm, mà cũng vừa là quê hương. Quê hương chỉ là điều
mê vọng, chỗ nào ở cõi Ta Bà này cũng chỉ
là mê vọng, như vậy thì chỗ nào cũng là quê hương cả.
Quê hương thiệt sự có
chăng là do ở tâm mình mà thôi.
Ba Chất giả bộ cung kính, xá dài cậu Ba Chí Thành:
– A di đà Phật. Chí Thành Bồ Tát nói cao xa quá tui không hiểu
gì hết trọi á. Còn
tui chỗ nào có bán rượu
là quê hương của tui.
Cậu Ba Chí Thành cười
vui vẻ, chớ không cãi cho ra lẽ.
Đêm đó, sau khi tiệc
rượu dẹp đi, ai về ghe nấy, ông bà Nhưn Giáp vẫn
trằn trọc. Ông thì nhớ lại lời kể của ông Ba Chất mà thương cảm
cho kẻ bỏ làng nước để trốn tránh cái tuổi thơ đầy nước mắt của mình và
ông thương luôn con chó nằm chết bên mộ
chủ. Ông cũng đã xa quê, bỏ lại cái chòi lá xiêu vẹo bên ven ao cuối
xóm, bỏ luôn con
chó cái và bốn con chó con mới
đẻ đầy tháng. May phước con chó cái dắt con đến nhà một
bà điền chủ nhơn đức, được bà nuôi luôn. Vậy mà, mười lăm
năm sau, tình cờ đi ngang quê cũ, ông có ghé lại thăm, bà con lối
xóm kể lại rằng chiều chiều khi bóng hoàng hôn nhuộm vàng một nửa mảnh
cái ao, con chó cái dắt con đến
chỗ nền chòi xưa, cất tiếng tru lên thẳm thiết. Từ đó, mỗi
chiều, khi ghe đậu ở một bên sông nào, ông Nhưn Giáp cũng
lắng tai nghe tiếng cho tru để hoài niệm
loài nghĩa thú kia. Nhưng đồng thời
tiếng chó tru lại thúc giục
ông tìm cho mình một quê hương. Tiếng thúc giục
đó có khi lẩn vào tiếng
gà gáy lẻ tẻ ở một thôn xóm vào buổi trưa lặng ngắt; tiếng gà trưa
gợi nên cảnh sống nơi thôn ổ trù mật, có tình lân lý, có kỷ niệm trong lễ thánh hội
đình.
Còn bà, bà cũng không ngủ vì bứt rứt. Bấy lâu nay đành rằng
bà thích chỗ trụ, nhưng nhứt định chỗ trụ không phải làng Đạo Thạnh
bên đường rầy xe lửa, gần Ngã Ba Trung Lương. Bà cũng không thích nuôi heo nọc vì bà nhờm gớm cái mùi hôi hám của
nó. Ông bà kể như tuyệt tự, có lẽ một dạo ông làm nghề
thiến heo, làm tuyệt tự nhiều con heo nên lãnh cái quả xấu ngày nay vậy.
Ai đời, ông Nhưn Giáp muốn vợ mình gây giống cho heo, còn ông
thì làm tuyệt giống loài heo bằng
nghề thiến heo, xây dựng làm chi
rồi phá vỡ, ngẫm nghĩ có kỳ cục hết chỗ nói hay
không?
Ông Bảy Tịnh nhứt quyết cùng vợ chồng ông Nhưn Giáp vượt
sông Cổ Chiên,
sông Hàm Luông để xuôi về miền Đông, đến Lái Thiêu mua đồ
gốm và liễng kiếng. Liễng kiếng là một thứ liễng làm bằng
gương, trên mắt gương dài họ vẽ từng câu chữ
nho, có trang trí chung quanh rìa bằng hoa lá, chim bướm, dơi, rồng phụng, tiên cô,
tiên ông.
Vào một buổi trưa, hai chiếc ghe tới một
bãi hẫm, phía
trên bãi hẫm là một vùng cây trầm thuỷ như cây bần,
cây đước, cây mắm,
và trên nữa là rừng
tre, đan chằng chịt dây mây, dây choại,
dây cóc kèng…
Nước lớn dồn đầy sông. Sông quá lớn. Đứng bên này bờ
sông nhìn qua bên kia, ông Nhưn Giáp chỉ
thấy một vệt cây đen thẫm chìm trong hơi nước mù xanh. Gió thổi
lồng lộng. Sóng dữ chồm lên từng
lượn lớn như vồng khoai tràn vào bãi hẫm
rồi rút đi để lại bọt trắng lẫn bọt vàng ngàu vướn víu trên đám lác, đám lục
bình.
Ông Bảy Tịnh hỏi ông Nhưn Giáp:
– Nè anh Nhưn, đây là đâu?
Ông Nhưn giáp nói:
– Đây là một khúc quẹo trên con sông Hàm Luông.
Trời ơi, chưa có vượt qua sông lớn lần nào nên hôm nay ông sợ hãi vu
vơ. Từ rừng tre, tiếng gà gáy
vang. Bình thường tiếng gà
trong những thôn ổ tịch mịch
vào buổi trưa làm cho
ông bồi hồi cảm khái. Còn tiếng
gà gáy ở đây sao
mà rợn óc. Gà gáy từng
chập, không dứt. Và
trong cơn gió rào rào từ giữa sông, từ
vàm biển đưa lại, có những tiếng rít như tiếng
roi mây hươi lên vun vút.
Ông Bảy Tịnh hỏi:
– Mình có nên vượt sông không?
Ông Nhưn Giáp nhìn lên bầu trời
không một gợn mây rồi
bảo:
– Hôm nay tốt trời, tuy có gió, nhưng không có giông. Ở sông lớn
thì gió lúc nào cũng lồng lộng,
không bao giờ thoang thoảng như ở kinh rạch.
Thôi thì mình vượt sông cho sớm, để rút ngắn
hành trình.
Ông Nhưn Giáp điều khiển
lái, bà Nhưn Giáp chèo ở trước mũi.
Nhưng ghe bên kia thì cậu Ba Chí Thành không làm trạo phu nữa mà giành làm đà công. Gặp sông
dài sóng dữ nầy thì phải điều
khiển bánh lái một cách dẻo
dai mới được.
Hai chiếc ghe mạnh dạn ra giữa dòng. Nhưng lúc đầu thì sóng gối đầu từ
giữa sông tràn từng lượn vào bờ, nên ghe có thể
nương theo từng lượn một cách nhẹ nhàng . Nhưng tới gần giữa sông,
ông Nhưn Giáp hét lên:
– Trời ơi! Sóng lưỡi
búa, sóng bạc đầu kìa.
Bà Nhưn Giáp rụng rời.
Sóng không di chuyển từng lượn
nữa. Chúng trồi lên hụp
xuống một chỗ. Ghe không thể gối đầu
để tránh cơn úp chụp của sóng nữa. Sóng chồm lên như phủ nhoà chiếc ghe. Ông Nhưn Giáp nghiến răng chèo lướt
phăng lên đầu ngọn sóng.
Bên kia ông Bảy Tịnh hét lên người
cháu:
– Chèo mạnh lên, hễ lướt qua vũng sóng bạc
đầu là sẽ tới chỗ sóng gối đầu.
Bà Nhưn Giáp chỉ
còn biết niệm Phật, và với một bản năng mù mờ,
bà ngước nhìn về
phía cậu Ba Chí
Thành mà không hiểu tại sao? Có lẽ
trong tiềm thức bà, hình ảnh trầm tĩnh dịu dàng của cậu đã đem cho bà niềm
thanh thản, an lạc vô bờ bến, nên giữa
lúc nguy biến như vậy, bà muốn bấu víu vào cậu để quên bớt cơn kinh hoàng.
Quả nhiên cậu Ba Chí
Thành không hề đổi sắc mặt. Hai mái
chèo của cậu vẫn quạt vun vút để
ghe vượt lên hai đầu ngọn sóng lớn như gò cát rồi hạ xuống
chỗ trũng của ngọn sóng gối đầu, và từ
chỗ trũng sâu thăm thẳm ghe cậu gối đầu ngọn sóng thứ ba và được sóng đưa nhẹ lên cao.
Bên này lúc đầu vì không được bình tĩnh, ông Nhưn Giáp bị
ba lượn sóng bạc đầu úp lên
ghe và phân nửa chiếc ghe ngập nước. Trong lúc đó cậu Ba Chí Thành gọi lớn:
– Bác Nhưn hãy chèo theo cháu, vùng sóng gối
đầu không xa, chèo nhanh lên bác.
Tiếng gọi của cậu lanh lảnh và không bị gió quạt đi. Nó làm cho ông Nhưn Giáp cảm thấy đôi tay
mình thêm sức mạnh không thể
ngờ. Đôi mái chèo ông đẩy mạnh nối
theo đuôi ghe cậu, rớt giữa thung lũng sông và kịp gối đầu lên ngọn
sóng cao, ghe không cần đẩy mái chèo mà tự động lên cao xa vùng sóng bạc
đầu ác hiểm.
Dù gió rít ghê rợn,
nhưng hai chiếc ghe êm đềm thoăn thoắt theo từng lượn sóng đưa vào bờ.
Khi biết mình thoát hiểm,
bà Nhưn Giáp gác chèo ngồi trước
mũi khóc hu hu. Cậu Ba Chí
Thành vẫn cười điềm đạm bảo ông Bảy
Tịnh:
– Thưa bác, mình nên neo ghe nghỉ
mệt rồi nấu cơm. Tối nay nếu có gió xuôi mình trương buồm
cũng không muộn.
Ông Nhưn Giáp như mất hết nội
lực, nói xuôi:
– Tối ni là mười
ba âm lịch, trăng bắt đầu tròn rồi đó.
Hai chiếc ghe đậu sát bên nhau cạnh một bãi hẫm
mọc đầy cây trầm thuỷ như cây vạt sành, cây bần.
Trong lúc bà Nhưn Giáp lẩm bẩm khấn
vái tạ ơn Trời Phật thì cậu Ba Chí Thành nhúm lửa
nấu nước. Ông Bảy Tịnh thở hào hển, rồi khoe với ông Nhưn
Giáp:
– Thằng cháu tui
thì lúc nào cũng bình tĩnh, coi cái chết như không.
Bà Nhưn Giáp hỏi cậu Ba
Chí Thành:
– Bộ cháu
không sợ hay sao? Hoặc là cháu
gượng làm tỉnh để cho tụi tui đừng mất tinh
thần?
Cậu Ba Chí Thành:
– Cháu không sợ – Giọng cậu đều
đều và êm nhẹ – Sống hay chết cũng là mê vọng cả, y như giấc chiêm
bao.
Ông Bảy Tịnh cười hề hề, lòng tràn ngập thương mến thằng cháu tài
giỏi. Ông nói:
– Ừ, sống gửi thác về.
Ông Nhưn Giáp cằn nhằn:
– Về âm phủ thì buồn quá. Nếu nói âm phủ là cái quê quán thiệt
sự của mình thì tui không ham rồi đa.
Cậu Ba Chí Thành vẫn
cười hiền:
– Thưa đâu phải vậy, cõi trần, cõi âm phủ cũng chỉ
là giấc mê mà
thôi. Sống ở âm phủ mà lòng mình không khiếp sợ, không
đau khổ thì âm phủ còn đâu là âm phủ nữa. Theo cháu,
quê hương ở chính cái tâm mình.
Bà Nhưn Giáp tuy không hiểu thủng
những gì cậu Ba Chí
Thành nói, nhưng bà cảm thấy từ khuôn mặt,
từ lời nói, từ dáng điệu,
cử chỉ của cậu như toát ra một niềm
an lạc, dịu mát nên bà rợn ngợp,
nao nao nên không muốn hỏi
han lôi thôi gì nữa. Ông Nhưn Giáp cũng như vợ, nhưng hơn vợ ở chỗ là ông như chập chờn nắm bắt được cái ý
nghĩa của câu nói của cậu Ba
Chí Thành, tuy bắt hụt, nhưng lòng ông như trải rộng ra êm đềm…
Bỗng một chiếc ghe chở lúa
thong thả bơi ngang qua. Đà công
là một người đàn ông ngoài bốn
mươi tuổi, mình mẩy hơi gầy hơi khô, nhưng bắp thịt rắn chắc nổi cuồn cuộn. Người đàn bà chèo trước mũi là một
chị đàn bà cũng trạc tứ tuần, da bánh ích, nhưng mặt mũi sáng rỡ,
miệng nhai trầu chóc chách, mắt ướt lẳng
lơ.
Đà công hỏi lớn:
– Bà con vừa vượt qua sông, phải không?
Ông Bảy Tịnh nói:
– Một lần vượt qua khúc sông nầy là tụi tui như
chết đi sống lại.
Chị đàn bà hỏi:
– Trước khi qua sông, bà con có cúng kiếng
gì chưa?
Bà Nhưn Giáp nói:
– Tụi tui nào có
biết cúng ai? Đây là đâu vậy?
Chị đàn bà chắc lưỡi:
– Muốn qua sông mà bà con gan quá, không
cúng kiếng Cậu, hèn chi cậu
giận cũng phải. Nhưng mà phước đức của
bà con ở đây lớn
lắm nên ghe mới không
chìm. Nhưng chắc chắn bà con phải
một phen hồn phi phách tán.
Ghe lúa ngừng lại. Người đà công nói:
– Các bác và chú em đây xuôi về
Mỹ Tho phải không?
Ông Nhưn Giáp gật đầu xác nhận. Người đàn ông biểu
vợ cắm sào rồi sửa soạn cơm nước. Chiều dần
xuống. Sóng gió vẫn cuồng nộ giữa sông. Chị vợ nói:
– Các bác và chú em cho tụi nầy vầy
đoàn với. Hễ tối nay, gió đổi chiều là mình trương buồm
cho ghe chạy đua, và mình kể chuyện tào lao cho đỡ buồn.
Ghe lúa chật chội, ông Bảy Tịnh mời vợ chồng chú lái
lúa qua chiếc ghe lườn có mui của
mình. Ba ghe cùng hùa đem gạo nấu cơm
chung trong cái nồi đồng lớn của bà Nhưn Giáp. Canh, cá kho, thịt kho dọn chung nên mâm cơm có vẻ ê hề lắm. Ông Bảy Tịnh lấy chai rượu đế ra rót năm
ly. Cậu Ba Chí Thành dùng cơm chay và uống
trà. Bà Nhưn Giáp hỏi chú lái lúa:
– Đây là đâu vậy, chú?
Chú lái lúa trợn mắt:
– Trời ơi, bác không biết
hay sao? Đây là khúc sông Dinh Cậu. Ai mà nghe nói tới hai tiếng “Dinh Cậu” mà lại
chẳng sợ ớn xương sống? Người ta đồn rằng Cậu đây là
con trưởng nam của Hà Bá cai quản
sông Hàm Luông. Ở đây, khách thương hồ lập miễu thờ Cậu. Miễu tuy nhỏ nhưng đẹp đẽ, cất
theo lối thượng thực hạ hư như kiểu nhà sàn, nóc có chạm
cặp rồng tranh trái châu, phía trong cũng chạm tứ
linh, sơn son thếp vàng hực hỡ. Miễu tuy nhỏ nhưng làm dinh thự cho Cậu. Khách thương
hồ nếu muốn vượt sông thì phải
lên dinh cúng cho Cậu cặp gà ta và lên nhang đèn khấn vái Cậu
thì cậu mới phù hộ
vượt qua sông. Còn nếu thiếu sót thì Cậu nhận ghe cho chìm. Bởi
đó, ở rừng tre chung quanh “dinh”, gà thả đầy lỉnh nghỉnh. Lâu
ngày, từ gà nhà chúng biến
thành gà rừng. Gà rừng
thì gáy bất kể sớm tối. Chúng sợ chồn cáo nên làm tổ
trên nhánh tre nữa là khác.
Người vợ nói:
– Dưới đáy
khúc sông nầy, ghe chìm lểnh
nghểnh còn hơn bến chợ Cầu Ông Lãnh ở Thầy Gòn. Trước
kia, khi muốn nhận chìm ghe ai, Cậu
cho cặp ngỗng trắng ở thuỷ phủ trồi lên. Nhưng tầu
xà lang của Tây cậy
có súng nên tụi Tây đâu thèm sợ cậu, sợ ngỗng. Vừa thấy cặp ngỗng trồi lên là tụi nó bắn chết,
máu ngỗng lan rộng cả một khúc sông. Tuy vậy mà Cậu vẫn
linh, ai khi dễ cậu là đố qua khỏi
sông mà bình yên cho được?
Cậu Ba Chí Thành lắc
đầu cười, nhưng không cãi cọ hoặc bàn tán ngang dọc gì hết. Vừa
thấy cái lắc đầu nhẹ của cậu, ông Nhưn Giáp chợt hiểu thủng lời nói lúc
nãy của cậu mà ông không hiểu
tại sao mình lại hội được ý của cậu qua cái lắc
đầu kín đáo kia. Trước hết ông không tin huyền thoại ác ôn của
khúc sông này. Mà nếu Cậu có thật chăng nữa cũng là thứ
tà thần, tham của hối lộ khách thương hồ. Sắc mặc thanh thản của cậu Ba Chí Thành như thầm bảo cho ông biết
rằng: vào tuổi già bóng
xế, bởi ông lo sợ thiếu quê hương, thiếu “chỗ trụ” để gửi nắm xương tàn nên ông lo lắng, ông bất an.
Thiệt sự, đâu phải chỉ tìm được
“chỗ trụ”, “chỗ gối đầu”, mà ông sẽ được an
ổn hưởng cái tuổi già nhàn
nhã? Về Đạo Thạnh rủi ông gặp
tai ương, gặp chuyện bực mình thì cái “chỗ
trụ”, “chỗ gối đầu” kia có khác gì âm phủ
đâu. Mới hồi xế đây, nếu cuộc vượt sông thất
bại, ghe ông chìm đáy nước, vợ chồng
ông chết trôi và
bên kia cõi chết, vợ chồng ông
còn uất ức cái tai ương thì khổ
biết bao. Nhưng nếu vợ chồng ông bình thản
đón nhận tai nạn, và nếu trong cõi chết
cố tâm của cả hai vẫn tiêu dao, bình thản, thì cõi chết
còn hạnh phúc hơn
“chỗ trụ”, “chỗ gối đầu” muôn vạn
lần.
“Quê hương ở tâm!” Trời ơi, câu nói đó dễ
hiểu mà khó, khó hiểu mà dễ. Ông Nhưn Giáp cũng biết
rằng mình chưa đủ cái lợi
căn để nhận diện cái quê hương ở nơi cái Tâm. Làm sao ông có cái tâm bình thản, vững
mạnh như cậu Ba Chí Thành. Bởi đó ông cần phải có “chỗ
trụ”, “chỗ gối đầu”. Nhưng mà “chỗ trụ”,
“chỗ gối đầu” đâu cần phải là Đạo
Thạnh nơi có mồ mả tổ tiên ông, nơi đã từng chôn nhau cắt
rún của ông.
Ông đã hiểu rằng “chỗ trụ”, “chỗ gối đầu” sẽ là bất kỳ ở đâu, có thể
là cái am của sư bà Diệu
Pháp, chớ chẳng thu hẹp ở Đạo Thạnh, miễn
là nơi đó ông tu tập để tìm được cái tâm an lạc.
Đêm đó, gió đổi
chiều, trăng sáng vằng vặc. Ba chiếc ghe cùng trương buồm chạy trên dòng nước
lao xao sóng vỗ và lấp
loáng ánh trăng.
Ngồi giữ lái,
ông Nhưn Giáp chưa bao giờ cảm thấy tâm hồn yên tĩnh và bát ngát như giờ
phút nầy. Ông cất
tiếng hát. Bà Nhưn Giáp cũng cảm thấy bớt
lo sợ về viễn ảnh chỗ trụ. Bà chưa tìm được
“cái quê hương ở nơi tâm” như cậu Ba Chí Thành bảo.
Nhưng nghe ông hát nho nhỏ dưới ánh trăng, bà cảm thấy một cách rõ
rệt mà không sao giải thích được là từ đây ông đã qua một giai đoạn sống mới mẻ, không còn nghĩ tới Đạo Thạnh nữa. Tiếng hát của
ông khàn đặc, run rẩy, yếu ớt vì tuổi già, không phải
là để làm sống
lại thời kỳ ông đi lưu diễn gánh “Rương Vàng” đâu. Nó là tiếng vang của tâm hồn ông trước giai
đoạn mới của cuộc đời. Bà cảm thấy mình sẽ nương tựa vào chồng
để tìm ra cho được “Quê hương ở tâm”, để khỏi nhọc
công tìm kiếm “chỗ trụ”, “chỗ gối đầu” ở Đạo
Thạnh hay bất cứ ở đâu.
Bên kia ghe lúa, chị vợ nhúm bếp nấu nước pha trà.
Trăng sáng vằng vặc dễ làm
thao thức lòng người. Làm sao mọi người có thể
ngủ trong lúc trăng đẹp trăng trong như vầy?
Ghe đi sâu vào khúc sông mà sóng bớt gào thét, và gió chỉ thổi lao rao. Chị vợ lái lúa
chõ miệng qua ghe ông Bảy
Tịnh năn nỉ cậu Ba Chí Thành:
– Hát huê tình, hát vọng cổ chơi,
cậu em.
Cậu Ba nói:
– Tôi không biết hát huê tình. Nhưng tôi cũng đang muốn hát một bài kệ…
Chị vợ lái lúa cười:
– Trên trăng dưới nước cảnh hữu tình như vầy mà hát một bài kệ thì… mà thôi, miễn
là cậu hát rồi
cậu thưởng thức theo cái đạo tâm của cậu, còn tui thưởng
thức theo cái trần tâm của
tui. Cậu em hát bài… mặc kệ đi cậu.
Rồi chị ỏn ẻn hỏi chồng:
– Mình, em nói vậy mà có nhằm lẽ, không mình?
– Nhằm lẽ lắm.
– Nhằm lẽ mà hữu tình nữa, hén mình?
– Ừ.
Bà Nhưn Giáp bực
cười mắng thầm: “Con này ngựa quá!”
Nhưng lòng bà chẳng có gợn một chút ác cảm
nào đối với chị ta. Bà lẳng lặng chờ cậu Ba Chí
Thành hát.
Cậu Ba cất giọng lúc đầu hơi e ấp, sau giọng trở nên dạn
dĩ và rõ ràng:
Trời đất liếc hề ôi mênh mang
Chống gậy thả rong hề ra chốn ngoại
phương
Hoặc đến đỉnh cao hề núi thẳm
Hoặc vào nước
sâu hề đại dương
Đói ăn cơm hề
do muôn nơi góp lại
Mệt giấc ngủ hề chỗ chẳng quê hương
Hưng thời thổi hề sáo không lỗ
Lặng sẽ đốt hề giải thoát hương
(*)
* Hồ Trường An.
Troyes, ngày 1-5-86

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire