Tên thật Nguyễn Viết Quang và là em ruột của nhà văn Nguyễn
Thị Thụy Vũ, Hồ Trường An sinh ngày 11-11-1938 tại
Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long, cư ngụ tại
Pháp, vừa qua đời ngày 27 tháng 1-2020 tại Troyes. Ông là một cây viết sung mãn, chuyên về thể loại chuyện quê Nam
cùng các ký sự văn nghệ. Gặp ông lần
đầu tại tư gia, tôi đã vô cùng ngạc nhiên là tuy khóa 26 Thủ Đức (1968) và từng làm trưởng ban
Chiến tranh Chính trị tại các chi khu Trị Tâm, Lái Thiêu rồi
phục vụ trong Ban Thông tin Quân đoàn III nhưng tác giả
Phấn Bướm không muốn nhắc đến binh nghiệp
của mình. “Không biết chi hết!”, ông lắc đầu quày quậy
khi tôi hỏi về chiến dịch Chiêu hồi của VNCH thực thi ra sao ở cấp chi khu? “Tại sao
anh đi Chiến tranh Chính trị mà không đi tác chiến?” – “Vì thỏ đế!”, ông trả lời thẳng đơ. Tôi hỏi
tiếp: “Lúc làm Ban Báo Chí Quân đoàn III, anh viết
gì?” – “Về đào kép
cải lương Lệ Thủy, Út Trà Ôn cho báo Sân Khấu!”.
Ông cười rổn rảng: “Con Bạch Lê xinh gái mà giọng nó ngọt lắm
nghe.”, rồi ông đưa hai tay lên trời: “Thôi nghe, không nói chuyện Quốc-Cộng nữa nghe! Qua ngại
lắm…”Là Hồ Trường
An của tháng 3-1989 tại
Troyes, trong ngôi nhà số 5 trên con đường mang tên danh họa
Auguste Renoir. Vậy mà đã ba thập
niên và ông biến mất.
Với cá nhân tôi, không phải
Còn Tuôn Mạch Đời, Gả Thiếp Về Vườn, Hội
Rẫy Vườn Sông Rạch, Chuyện Ma Đất Tân Bồi hay Tình Sen Ý Huệ
mà chính truyện dài Hợp Lưu cùng những
truyện ngắn Bèo Bọt, Trường Hợp Của Nhường và Hai Khuôn Mặt mới phô diễn
kỹ thuật kể chuyện của Hồ Trường An. Nếu trong Hợp Lưu có sự chăm chút tỉ
mỉ từng chi tiết bài trí trang hoàng nhà cửa, cùng cách khắc họa những nét
tương phản của nhân vật
qua những mối tình lưỡng tính và đồng tính di dân giữa
lòng xã hội Pháp,
thì Bèo Bọt là những mái chèo lướt trên sông thương hồ.
Đến Hai Khuôn Mặt là truyện
ngắn dàn dựng rất kỹ trong cấu trúc với điểm xuyến tinh thần Phật giáo mà theo nhà văn, ông “lồng khung” được triết lý Bất Nhị của nhà Phật.
Ba nhân vật chính, Tố
Nga, người đàn ông áo xám và mụ già điên trần truồng hung ác, thật
ra chỉ là một mình
tâm thức Tố Nga. Nhưng khi vào
truyện, kỹ thuật biến hóa của
Hồ Trường An khiến người đọc cảm tưởng có ba
người trong cuộc khác
nhau. Một mà hai, hai mà ba, ba mà một.
Với đoạn kết, khi Tố Nga nằm mộng chiêm bao đi vào thế
giới siêu hình, được miêu tả
như cõi Niết bàn,
nơi con người tìm thấy chân lý của cuộc đời. Giới thiệu lại truyện ngắn ưng ý ấy của Hồ Trường An.
Từ trái sang: Trần
Vũ, Hồ Trường An, Sĩ Liêm và Lưu Uyên Khôi tại
Troyes, tháng 3-1989.
Hai Khuôn Mặt
Vâng, chị có một người bạn. Người đó
không phải như chúng ta đâu. Ông ta luôn
đến chị bằng hai khuôn mặt đối
nghịch, hai khuôn mặt của một người, trên những khúc quanh quan trọng
nhất đời chị. Các em cứ thắc mắc đi… Ông ta không phải là một người
bằng xương bằng thịt đâu. Một bóng ma? Một huyễn ảnh? Thú thật
chị không rõ nữa. Tuy nhiên, khi nhắc tới ông ta, một
niềm an ủi ấm áp phủ nhẹ lên
trái tim chị, như một tia nắng mơn vờn trên thớ
lụa mịn màng vậy. Và
xuyên qua cảm giác mềm mại
kia, chị như thấy chập chờn đâu đó, trên cõi chúng ta sống,
những thế giới khác lồng vào
nhau, trùng trùng như đan võng…
Hồi lên bảy,
chị bị chứng sốt thương hàn trầm trọng.
Ba má chị đưa chị vào nhà thương Mỹ Tho để điều trị. Riêng bà
ngoại chị thì đi cầu
đồng cốt để biết tính mệnh chị ra sao. Một bà đồng ở cuối xóm tự
xưng là xác cốt của cậu Hoàng Năm bảo:
– Không hề gì, con
nhỏ có một cái
“vong cô” lành phù hộ nó. Chẳng những
nó tai qua nạn khỏi phen này, mà từ đây cho đến cuối
đời, cái “vong cô” đó cũng giúp nó mỗi khi nó gặp tai ương.
Một bà đồng khác ở Rạch Miễu (từ tỉnh Mỹ Tho muốn đi Rạch Miễu phải dùng đò máy) tự xưng là xác cốt
của bà Chúa Xứ, lúc lên
đồng, bảo:
– Con nhỏ này căn tánh lộn
lạo tâm địa điên đảo.
Bởi đó, cái “vong cô” theo nó cũng phức tạp
lắm. Vong cô đó khi thì ma khi thì Phật, lúc thương lúc ghét con nhỏ. Bà nên
cầu Đức Phật Bà cho nhiều. Khi con nhỏ khỏi bịnh,
bà nên dạy nó học
thuộc lòng “Bạch Y Thần Chú” và “Quán Âm Linh Cảm Chơn Ngôn Thần Chú” thì họa may cái “vong cô” kia không bao giờ thù ghét
nó để giúp đỡ nó luôn luôn.
Kỳ đó, chị
khỏi bệnh. Bà ngoại chị bắt chị học thuộc lòng hai thần chú kia, để khi gặp
tai nạn cầu Đức Quán Thế Âm Bồ
Tát (người bình
dân mình ưa gọi là Đức Phật Bà) cứu độ. Tại trung đường, bà ngoại
còn lập bàn thờ
vị Đại Bi Bồ Tát kia, và bắt em
Ngọc Nga của chị và chị đêm đêm
thắp hương, cúng nước, vái lạy.
Chị còn nhớ rõ năm đó, chị lên mười ba
tuổi. Nhà chị ở tại Ngã Ba Trung Lương, cách tỉnh Mỹ Tho bốn cây số. Đó là một ngôi nhà, mái lợp ngói âm dương rộng
thênh thang, nằm giữa vườn mận hồng đào. Thuở đó, vào khoảng
năm 1946, 1947 thì phải, lúc mà
Việt Minh đã ký một thỏa hiệp án với chính phủ thực dân Pháp. Cuộc chiến tranh Việt Pháp bớt
sôi động. Ba của chị vẫn còn đi theo phe kháng chiến chống Pháp. Bà ngoại chị, má chị
và chị em của chị phải ở lại Ngã Ba Trung Lương để săn sóc vườn
mận hồng đào cùng gia viên điền sản do
bà nội chị để lại. Căn nhà vắng đi người chủ gia đình
nên trống trải lắm. Bốn mẹ con bà cháu
sống trong cảnh nghèo nàn, ăn những
bữa cơm đạm bạc; hai chị em chị mỗi đứa chỉ có hai
bộ quần áo bằng vải ta, một thứ vải thô tháp dệt bằng thứ chỉ to sợi.
Lúc gia đình túng hụt
thì một hôm nọ,
có một bà
khách trạc ba mươi ngoài ăn
mặc sang trọng, trang điểm sắc sảo từ chợ Mỹ Tho vào
thăm. Hỏi ra đó là cô Yến Tuyết,
người em một cha khác mẹ của ba chị, hồi cô 18 tuổi, bị ông nội từ, vì cô bỏ nhà đi theo người
nhân tình Tây lai. Cô Yến Tuyết
sau mấy phen thay đổi nhân tình, sau ba lần
ly dị chồng, giờ đây là nhân tình một y sĩ
trong quân đội Pháp, với
chức vụ Đại úy. Cô Yến Tuyết bây giờ giàu có, có một
biệt thự ở ngoài chợ Mỹ Tho. Chung quanh biệt thự
trồng nhiều thứ bông, đặc sắc nhất là đủ loại hồng, đủ loại hoa hortensia*. Trong nhà, cô bày nhiều bàn ghế bằng gỗ
cây nu, gỗ cầm lai, nhiều lọ cố, chén bát bằng sứ Tàu, bằng
pha lê Tây phương, bằng bạc, bằng ngà, bằng sừng tê giác. Cô Yến
Tuyết còn có tiệm cầm đồ ở ngoài chợ, còn có thêm nghề
cho vay ăn lời cắt cổ, còn hùn hạp mở nhà chứa… Cô đẹp lộng
lẫy, mà lối xóm bảo
rằng chị giống cô ấy hơn là giống
mẹ. Cô bỏ ra một số tiền để cho má chị mở tiệm cơm ở tại Ngã Ba
Trung Lương… Và một ngày Tết Nguyên Đán nọ, má chị dắt hai
chị em chị ra chợ Mỹ Tho chúc Tết cô Yến Tuyết. Tại đây, má
con được ăn một bữa cơm với các bạn
cô và với cô. Hôm
đó có cô Ngọc Sương, khá đẹp,
mắt hơi trố, ánh mắt hung dữ. Cô Yvette Hương, cũng đẹp, nhưng cặp môi có vẻ buồn và quạu, dù cô hay pha trò cũng như cô Ngọc Sương và dù cô thường ăn nói nhỏ
nhẹ. Đang lúc ăn uống thì có một người đàn bà lớn
tuổi, dung nhan tiều tụy bước vào xin tiền cô Yến Tuyết. Cô đối
xử với mụ ta rất ân cần mềm mỏng, lấy tiền cho mụ, mời
mụ ngồi cùng bàn để dùng cơm cùng với mọi người. Mụ hầu như ăn mãi ăn hoài mà vẫn chưa xong chén
cơm. Mụ lải nhải kể lại cuộc tình của
mụ với một ông thương gia ở Sài Gòn cho má chị nghe, rồi khóc
lóc, chửi rủa. Và khi cơn điên nổi
lên, mụ tuột áo, bạch
ngực phô bày một thân thể
héo khô, đôi vú teo tóp… Hỏi ra, thì đây là nạn nhân của một
cuộc tình phụ. Nhưng trước kia, mụ đã giúp đỡ cô Yến Tuyết
nhiều nên giờ đây mụ
được cô giúp lại.
Má của chị lén lút bà ngoại đưa chị em chị ra Mỹ Tho thăm cô Yến Tuyết luôn. Lúc về,
chị em chị luôn có quà hậu hĩ. Và chị thường chứng kiến những cảnh cô của chị chửi rủa con nợ, đánh đập
tôi tớ, và những
cô gái ăn sương dưới tay cô. Lại còn những cảnh
cô dụ dỗ các cô
gái sa cơ lỡ vận vào nghề buôn phấn, buôn hương. Giọng
nói của cô lúc nào
cũng ngọt ngào, mềm mỏng,
thái độ của cô lúc
nào cũng âu yếm niềm nở, riêng đối
với má con chị. Vậy mà lúc
đòi nợ, lúc đày đọa hành hạ tôi tớ, các cô gái ăn sương, cô hiện thân là
con chó “bẹt dê” dữ dằn mà cô nuôi trong nhà. Cả hai cô bạn
kia cũng thế, lúc họ kể những vụ bắt ghen, vụ giành khách, mắt trố của cô Ngọc
Sương càng rực ánh
hung ác, cái miệng cô Yvette Hương càng thêm quạu
quọ, càng chửi rủa tục tằn, hăng hái hơn.
Chiến tranh càng lúc càng lan rộng trên đất
nước. Các cuộc chạm súng giữa
Việt Minh và Pháp thường xuyên hơn. Bà ngoại chị thường dắt chị em chị đi chùa, để nghe tụng kinh Cầu An và kinh
Dược Sư. Viện chủ trụ trì chùa Phổ Hương là một vị đại đức 40 ngoài, nụ
cười thật hiền. Hai chị em Sa di Phước Điền và Phước
Huệ lúc nào cũng trầm lặng nhưng vui vẻ, dung
quang thật đoan phương, diện mạo thật đoan nghiêm. Mỗi
kỳ rằm và mỗi kỳ ba mươi, Ngọc Nga và chị hái bông trang, bông điệp
đem đến chùa cho các chú cúng Phật, được
các chú cho bánh trái…
Cảnh nhà cô Yến
Tuyết hay cảnh chùa Phổ Hương đều mê hoặc chị cũng như cảnh nhà.
Trong trí óc ngây thơ của chị, các cô Yến
Tuyết, Ngọc Sương, Yvette Hương cũng tử tế như vị sư viện chủ và hai chú sa di…
Hơn bốn mươi năm qua, tuy nhiên, chị vẫn còn nhớ rõ khung cảnh thơ mộng, tràn ngập
màu xanh và bóng cây râm mát ở Ngã Ba Trung Lương. Trong vườn nhà chị
lại có nhiều ao, đầm, mương, lạch, nước
trong leo lẻo, ăn thông ra con lạch yểu
điệu lượn trước nhà. Nơi đây, rau hoang dại mọc
lan tràn, chẳng hạn như rau tập tàng hoặc rau cải trời mềm mại, những chùm rau sam tím đỏ, những cây rau dền
mang từng chùm hột xanh lợt và nhuyễn như cám, những khóm ngò gai xum xuê… Vào những mùa ổi
chín, hoặc mùa mận,
lũ chim chìa vôi, chim áo dà, chim manh manh cùng bọn
quạ, se sẻ kéo về làm náo
nhiệt khu vườn. Trong khu vườn đó, chị
cùng Ngọc Nga hái rau
hoang dại, bông điệp, bông trang đem cúng dường trên
chùa. Chị và Ngọc Nga hái ổi, mận, cùng hoa huệ,
hoa lài tặng cô Yến
Tuyết. Cả hai quên đi sự vắng mặt của cha và cảnh lửa đạn đang phủ trùm đất
nước.
∞
Hôm đó, vào ngày hăm ba đưa ông Táo về Trời, dùng cơm sáng xong, chị ra vườn đi hái rau. Đầu óc chị lởn vởn
về chuyện vong cô (một oan hồn chưa đi đầu thai, cứ
quanh quẩn theo ai đó để phù hộ
hoặc quấy phá) qua sự bàn bạc giữa bà ngoại
chị và các bà lối xóm.
Khi chị tới ngôi miếu hoang thì bỗng
có tiếng súng nổ
lẻ tẻ từ đám dừa nước rậm rạp dầm mình trong bãi bùn lầy gần khu vườn. Rồi thì tiếng
súng nhặt hơn, từng tràng dài. Đạn bay veo véo
trên đầu chị. Chị toan về nhà,
nhưng không kịp nữa. Tiếng súng gần
hơn, lẫn tiếng thét giận dữ. Chị nằm sát trên nền sân gạch tàu, ngoài ngôi miếu, tâm thần hoảng
hốt lắm. Chị đọc hai câu thần chú nhật tụng. Chị nghĩ đến khuôn mặt
từ bi của Đức Quan Thế Âm trong tranh thờ.
Chị nghĩ đến nụ cười hiền dịu của nhà sư viện
chủ chùa Phổ Hương. Chị nghĩ đến phong thái ung dung và trầm lặng cùng dung quang đoan
phương của hai chú sa di. Tự
dưng, cơn sợ hãi lắng xuống. Nhưng vừa khi chị
ngẩng đầu lên, một viên đạn
bay phớt qua đầu chị. Cảm giác đau thốn, nhưng
chị không dám cục cựa. Khi tiếng súng vừa im, chị cảm thấy cơn váng vất
kéo đến làm cho
não cân chị tê mê. Máu đã từ
vết thương chảy xuống nền gạch.
Một bàn tay khẽ nâng chị dậy. Chị cố nhướn mắt lên. Một
người đàn ông mặc Âu phục
xám, trạc ba mươi ngoài (cỡ tuổi viện chủ chùa Phổ
Hương), vẻ mặt trầm tĩnh giống chú sa di Phước
Điền, ánh mắt dịu dàng âu
yếm như mắt chú Phước Huệ, và vầng
trán cao đúng là vầng trán nhà sư viện chủ. Ông khách lạ
nhìn chị với vẻ xót thương vô hạn, rồi nở một nụ cười bùi
ngùi:
– Tố Nga, em bị thương nặng lắm. Để
tôi đưa em về nhà.
Chị khóc nức
lên:
– Tôi muốn gặp ngoại tôi, má tôi và em tôi.
Người đàn ông
rút chiếc khăn tay sực nức mùi
hương cay cay, đúng là mùi nhang quỷ thường bán trong các tiệm Chà ngoài chợ
Mỹ Tho, mà vào các kỳ rằm
lớn, viện chủ chùa Phổ Hương thường thắp lên chánh điện. Ông khách lau nước
mắt cho chị, vỗ về:
– Đúng vậy,
em phải gặp họ chứ. Để tôi dìu em nhé, hay thôi để
tôi bế em, em kiệt quệ như thế này thì làm sao về đến nhà được
chứ? Tố Nga em có đau lắm không?
Tuy mệt lả, chị cố hỏi lại:
– Thưa ông, ông là ai?
Người đàn ông
trầm giọng:
– Tôi là bạn của em, hồi xưa, xa lắm rồi em
ạ. Em không thể nào hiểu
được đâu.
Cơn chóng mặt đến cùng với cơn nôn quặn thắt.
Chị mửa lai láng và mê đi. Khi tỉnh dậy
chị thấy mình nằm trong lòng má chị, trên chiếc xe thổ
mộ chạy lọc cọc ra nhà thương tỉnh
Mỹ Tho. Mắt đẫm lệ, má chị kể lại:
Bọn lính partisan đi ruồng
bố, bắt được một liên lạc viên của
phe kháng chiến, nhưng tới đám dừa nước gần bên miếng
vườn của mình, thì người liên lạc vùng chạy để thoát thân. Bọn lính đuổi theo,
bắn xả vào đám dừa nước. Trận nổ súng vừa im thì má thấy con
lết về tới sân, máu chan hòa khắp vai áo.
Chị thều thào:
– Còn người khách lạ đưa con về?
Má chị lắc
đầu:
– Má cũng chẳng thấy ai cả.
Chị cố cãi lại:
– Khi bị đạn lạc, con đuối sức rồi. Làm sao
con có thể lết từ ngôi miếu
về tới nhà cho được?
Má chị trầm ngâm:
– Có thể là ông ta đưa con về nhà trước khi má chạy tới sân.
Chị không
nói gì thêm vì chị mệt quá đỗi.
Vết thương trên đầu chị dù được
bà ngoại chị dùng lá
lưỡi cọp để cầm máu, nhưng mảnh đạn hãy còn ghim vào xương sọ của chị. Cơn chóng mặt dệt một tấm màn đen
phủ xuống chị và chị lại thiếp đi.
Tết năm đó chị
nằm trong căn phòng thí, tầng lầu của nhà thương Mỹ Tho. Bác sĩ giám đốc
của nhà thương không ai xa lạ là viên đại úy y sĩ, nhân tình của
cô Yến Tuyết. Cô của chị đến thăm chị hằng ngày,
khuôn mặt không giấu nổi sự
lo âu buồn bã. Căn
phòng của trại ngoại thương với những chiếc giường sắt kê hai hàng dài, chăn nệm cũ kỹ, sàn gạch sực nức mùi thuốc
khử trùng. Đôi khi tỉnh táo, chị có thể nhìn ra hàng cây cao cao vút ngoài vòng rào bệnh viện.
Vào những đêm
trăng, bọn chim cú mèo kéo về
đậu trên ngọn cao rúc lên
những tiếng ma quái.
Một tuần lễ trôi qua. Đến ngày thứ tám, ông bác sĩ giám đốc mới chịu giải phẫu vết đạn trên đầu chị. Trong thời gian tuần lễ ở nhà trường, chị cứ mê sảng
luôn, những cơn mê dài
mù mịt, thiếu mạch lạc. Mỗi khi tỉnh dậy chị bắt gặp khuôn mặt chan hòa nước
mắt của bà ngoại chị, của má chị và của em
Ngọc Nga. Trong lúc chị tỉnh táo,
bác sĩ bắt chị phải cử động tay chân, và
phải nhắc cho ông ta rõ tên tuổi và quê quán của chị. Đó là cách ông ta thử
coi mảnh đạn có phá hủy một trung khu thần kinh
nào trên đầu chị hay không? Khi thấy chị có thể
cử động và chưa mất hết tri giác, ông ta mới chịu cho chị được giải phẫu.
Trước ngày chị
lên bàn mổ, cô Yến
Tuyết có đến thăm chị. Cô mặc chiếc áo the nổi
bông nhung màu hồng dịu, đeo kim cương,
ngọc thạch, trân châu choáng lộn. Cô hôn lèn trán chị:
– Rán dưỡng sức cháu nhé. Chừng cháu mạnh,
cô sẽ tặng cho cháu cây kiềng vàng này.
Cô vừa nói vứa
chỉ cây kiềng vàng
trên cổ của cô sáng loé ánh hoàng kim giữa
ánh kim cương, màu ngọc thạch
và màu trân châu. Suốt ngày hôm đó, lúc tỉnh táo, chị cứ bần
thần mơ tưởng tới cây kiềng vàng của
cô Yến Tuyết cùng cảnh đời giàu sang, huy hoát của
cô.
Hôm sau vừa lên bàn mổ, chị vùng vẫy
ghê lắm. Nhưng khi thuốc mê xông vào lỗ mũi chị… thần trí chị
như bị hút sâu vào cơn xoáy đen mù mịt, rồi
như chìm sâu tận một đáy vực
muôn trượng dưới mặt nước. Khi cơn xoáy tan chị như được nâng lên
dần, và bị hất lên
trên một bãi cát lấp lánh trong ánh sáng trắng ớn lạnh như lạc lõng. Chị bơ vơ, tâm thần
dao động, cố tìm một phương hướng để đến nhà cô Yến Tuyết. Ở đó, chắc
chắn sẽ có bàn ăn trải khăn
trắng, và xếp đầy những dĩa thức ăn ngon,
những dĩa bánh trái đắt tiền, và sẽ có một cái hộp nhung đựng cây kiềng
vàng lóe sáng ánh hoàng kim chờ chị.
Bỗng một mụ đàn bà
trần truồng, thân thể gầy guộc, cặp vú khô héo giống như thân thể
mụ điên mà chị đã gặp
ở nhà cô Yến Tuyết. Mắt mụ hung dữ giống
hệt cặp mắt cô Ngọc Sương. Cặp môi mụ quạu và buồn như
cặp môi cô Yvette Hương, vẻ mặt cô khắc bạc, giống như vẻ mặt cô Yến
Tuyết lúc đi đòi nợ. Điều hơi khác là tóc mụ buông xõa chấm
gót, như tóc mấy con mụ tội nhân trong cuốn Ngọc Linh Minh Kinh (sách
nói về cảnh mười cửa địa ngục). Và trời
ơi, khi nhăn nhở cười mụ để lộ hai chiếc răng nanh và cái
lưỡi đỏ như dính máu. Mụ rít lèn:
– Hãy theo tao!
Bàn tay lạnh buốt của mụ chụp vào vai chị. Chị cố vùng vẫy,
nhưng mụ cười gằn:
– Mày đứng hòng
thoát khỏi tay tao. Chúng
mình cùng trẩy đò qua bên kia, mau!
Theo ngón tay chỉ của mụ,
chị thấy một khoảng sông rộng, nước
đen như mực, sóng bủa lao xao. Mỗi một lượn sóng dâng lên là có tiếng kêu
than thảm thiết. Còn bờ
bên kia là một vòm trời
rực lửa, lố nhố những chiếc bóng đen quay cuồng,
hỗn loạn.
Chị lắc đầu:
– Cháu muốn về nhà.
Mụ đàn bà
giận dữ:
– Đừng hòng mà
về nhà. Chiếc cầu từ đây về nhà đã gãy rồi.
Chị bướng bỉnh:
– Cháu không tin thế đâu. Thế nào cháu cũng về
nhà cháu. Và nếu không, cháu sẽ tìm về nhà cô Yến Tuyết của cháu.
Mụ đàn bà
không thèm nói nữa, xô chị xuống đò, nắm tóc chị bắt chị
ngồi yên. Đò vừa tới mé đất,
chị run rẩy khi nhìn biển lửa cháy hừng
hực, tàn tro bay bổng, tiếng củi nổ lốp bốp.
Chị cầu nguyện Đức Quán Thế Âm, cố quán tưởng đến đôi mắt từ bi của Ngài. Bỗng
có hai bàn tay ấm áp nắm lấy tay chị. Chị ngước lên, ô
kìa, ông khách lạ hôm nọ. Thân hình mảnh dẻ và rắn
chắc của ông chỉ choàng sơ sài một tấm khăn trắng ngang bụng. Nụ cười của ông hiền lắm. Cái nhìn của
ông lúc nào cũng tràn ngập thương
xót, cảm thông. Từ
nhân dáng, thân thể ông
như toát ra một lớp hào quang bình lặng
và thanh khiết, gợi cho người đối diện một
niềm an lạc vô bờ bến. Ông bảo:
– Tố Nga. Thôi để
tôi đưa em về nhà là
hơn.
Chị thều thào:
– Còn mụ đàn bà trần truồng đâu rồi?
Người khách hôm nọ
chỉ về phía lửa đỏ:
– Bà ta đã vào trong đó rồi. Còn em, chỗ đó không phải
của em đâu. Em ngây thơ, hiền dịu
lắm. Em phải về nhà sum họp với bà ngoại em, với má em và Ngọc
Nga chứ.
Chị lại hỏi:
– Ông có về cùng với em không?
Người khách lạ
lắc đầu:
– Tôi chỉ đưa em đến cổng nhà em thôi. Chưa phải lúc tôi theo em.
Chị nắm tay ông khách lạ:
– Nhưng ông hãy hứa rằng ông sẽ đến thăm em thường, ông
nhé.
Người đàn ông
lạ mặt hôn lên mái tóc chị, chỗ
vết thương. Hơi thở của ông ta ngát hương cay cay. Chị
cảm thấy vết thương hết đau ngay, ông ta dịu
dàng bảo:
– Tôi đã nói với em rằng tôi là bạn của em thưở xưa, xa lắm. Được rồi, thỉnh thoảng, tôi sẽ đến thăm em.
Ông khách lạ đưa chị
đến soi mặt vào ao nước xanh biêng biếc, gờn gợn những khóm
rong dài tha thướt, có những con cá sặc bướm tím hồng,
những con cá bãi trầu xanh lam đang lội tung
tăng. Chị nhìn vào đáy ao, vụt thấy cái cổng nhà chị với giàn hoa “ti-gôn” trắng, chen hồng, cùng
cây trắc bách diệp lá nhỏ lăn tăn.
Người khách lạ
nói:
– Em về nhà nhé. Không thôi sẽ muộn mất, Tố Nga ạ.
Ông ta xô chị xuống
ao. Chị hoảng hốt giật mình tỉnh dậy,
bắt gặp mình nằm trên giường.
Xung quanh chị ánh đèn trắng xóa. Ngoại chị, má chị
và em Ngọc Nga ngồi chung quanh giường,
ai cũng lộ vẻ lo âu, buồn bã. Bà ngoại chị, giọng đầy nước mát:
– Tạ ơn Trời Phật, nó tỉnh dậy.
Má chị mừng
rỡ:
– Con có mệt lắm không, Tố
Nga?
Chị nói nhanh:
– Ông khách hôm nọ… Con
vừa nằm mơ thấy ông ta.
Má chị lau nước mắt:
– Con đừng nghĩ quẩn. Họ vừa giải phẫu, lấy miếng đạn ra
khỏi xương sọ của con rồi. Con sẽ bình phục
Tố Nga ạ.
Chị nhắm mắt lại. Chung quanh chị như còn phảng phất mùi hương cay cay như
mùi nhang tẩy uế của người Chà Và.
∞
Chị lớn lên khi
chiến tranh Việt-Pháp chấm
dứt. Lúc nào, khuôn mặt người khách lạ cùng mùi hương kỳ
dị vẫn lởn vởn trong ký ức của
chị. Ông ta không hề đến trong cuộc sống lẫn
trong cơn chiêm bao của chị nữa.
Khi lên mười sáu tuổi, chị luôn luôn là một
cô gái trầm tư, thích sống
một cuộc đời khuất lánh. Các bạn của chị thường bảo chị:
– Tố Nga lúc nào cũng như nghĩ ngợi
xa xôi. Nét đăm chiêu của Tố Nga
gợi một vẻ đẹp riêng khó phân tích, nhưng chắc chắn làm cho bao người phải mê hoặc.
Thế mà các em ạ, nghiệp
chướng nào đó đã đưa đẩy chị đi quá xa. Năm 19 tuổi chị bị một tên đại
úy không quân quyến rũ.
Khi biết mình bị tình
nhân bỏ rơi với chiếc bào
thai ba tháng trong bụng, chị liền uống lọ xạ chồn hương để tống cái di tích cuộc tình oan nghiệt
ra ngoài. Cơn đau quặn thắt ruột gan. Mồ hôi lạnh vã ra. Trong căn phòng trần
trụi, chỉ có một chiếc giường sắt, chị lăn lội
rên siết. Ba má chị
và bà ngoại chị thì ở
Ngã Ba Trung Lương. Đây là căn nhà trọ
tại xóm Bàn Cờ mà chị
đã thuê để cùng ở
chung với em Ngọc Nga. Nhưng giờ đây Ngọc
Nga đã đi Lái Thiêu thăm người bạn cùng lớp vì hôm đó là chiều
thứ bảy. Có lẽ chiều mai Ngọc Nga mới về. Cơn
băng huyết tuôn ra như vắt khô cả sinh lực chị. Chị nằm bất động, đợi cái chết chầm chậm đến. Không hy
vọng mảy may có ai đến cứu chị. Trong cơn kiệt
quệ chị cầu nguyện Đức Quán Thế Âm hãy ban bổ cho chị một phút lâm
chung bừng sáng để chị
nghĩ đến cảnh giới trong sạch, một tâm hồn
trong sạch, nhìn thấu suốt cơn ác mộng dàn trải suốt
quãng đời tình ái
ngắn ngủi của mình. Chị cầu mong, nếu đây là quả báo của cái nghiệp xấu, hãy để
cho chị giờ đây chịu đau thêm, chịu
lâu dài hơn, để rửa sạch cái mầm mống ác nghiệp, đừng
để nó hiện hành ở
kiếp sau…
Bỗng một bàn tay ấm
áp sờ lên vầng
trán giá lạnh của chị. Chị cố mở mắt ra thì gặp ông khách lạ.
Mười năm qua có lẻ, nhưng ông ta
không già chút nào. Vẫn cặp mắt tử ái của
Đấng Cứu Rỗi, hay của Đấng Đại Bi. Vẫn mái tóc
bồng bềnh như sóng và óng mượt như
nhung che bớt đi vầng trán cao.
Ông khách nở một nụ
cười thân ái:
– Tố Nga, em đau lắm phải không? Tôi đến đây để đưa em
đi bác sĩ.
Trong một thoáng, chị nhớ lại buổi gặp gỡ bên
ngôi hoang miếu và nhất là cơn chiêm bao hôm chị nằm trên bàn
mổ. Chị nghẹn ngào:
– Ông đến đây muộn rồi, có phải?
Em sắp chết đây. Giá hồi xưa, ông cứ để cho cái mụ
trần truồng bắt em đi luôn.
Người khách lạ
lấy khăn tay chặm nước mắt cho chị, mùi hương cay cay tỏa
rộng, thơm ngát căn phòng. Ông ta an ủi:
– Không đâu Tố Nga. Em phải sống nốt cuộc đời
của em. Mỗi một bước vấp ngã là một kinh
nghiệm sống quý báu cho em. Đời em sẽ
phong phú là nhờ những kinh nghiệm đã qua và những kinh nghiệm sắp tới em ạ.
Chị vẫn nhắm mắt lại, dòng lệ
nóng trào ra hai khóe mắt và chị thiếp đi. Khi tỉnh dậy, chị thấy mình nằm trong bịnh viện tư của bác sĩ
Ánh, một người quen biết nhiều về gia đình chị. Bác sĩ cho chị
biết:
– Tối hôm qua có một
người đàn ông đưa cháu đến đây, xưng là chồng của cháu, ông ta nói rõ nguồn
cơn bệnh hoạn của cháu, rồi ông ta
đi luôn tới nay. Hồi ông ta mới
đưa cháu tới, có ghi
tên tuổi, địa chỉ của ông ta
ở quyển sổ. Vậy mà, sáng hôm qua lật
quyến sổ xem lại, người thư ký tiếp tân chỉ thấy tên tuổi của cháu, còn tên tuổi của ông ta bay đi đâu mất.
Trang giấy của quyển sổ vẫn nguyên hàng gạch, không có dấu vết bôi xóa. Tôi có kiểm
điểm tiền bạc mà ông ta gửi cho tôi, thì vẫn là tiền thật.
Thế là chị thoát chết khỏi cơn băng huyết. Từ đó, chị
lao thân vào hố sâu trụy
lạc, mất niềm tin, tâm hồn đầy bi quan, lòng tự ái bị tổn
thương trầm trọng. Nhờ khôn ngoan và chịu
khó quan sát mọi việc, trong ít lâu chị trở thành gái bao các tay
doanh thương, các hạng quý tộc,
trưởng giả. Chị nhìn đời qua khía cạnh
lọc lừa, không hề tin tưởng bất cứ giá trị đạo đức nào. Chị
không trả thù cuộc
đời, nhưng nhìn cuộc đời với sự thách thức hết sức hỗn láo, với
tấm lòng kiêu hãnh vô biên. Ấy vậy, mà chị vẫn tạo cho mình một
tủ sách, trong đó có một ngăn
chất đầy kinh Phật. Mua sắm sách để làm dáng trí thức thôi, chứ ít khi chị xem qua. Nhưng một hôm, giở
cuốn Kinh Duy Ma Cật, chị bắt gặp câu nói của
Phất Sa Bồ Tát trong phần thứ 9
nói về Pháp Nhập
Bất Nhị Pháp Môn: Cái lành và cái chẳng lành là hai. Nếu lòng chẳng khởi
việc lành, và việc chẳng lành, vào cõi không tưởng, thì thấu
suốt các pháp. Thế là vào
pháp môn màu nhiệm có một chẳng
hai. Các em ạ, không hiểu
tại sao trong đầu óc chị như chập chờn tia sáng. Còn một cái gì thao thức,
toan hiển lộ, lại tắt ngay. Chị rùng mình trong phút dao động
chớp lóe trong tâm linh. Chị lấy
giấy bút chép câu nói đó vào một mảnh
giấy rồi nhét vào tập hồi ký, đúng ngay đoạn chị kể lại hôm lên
bàn mổ, giấc chiêm bao mà chị
đã gặp mụ già lõa
thể và người đàn ông
hiền từ. Và chị bỏ quên cuốn
hồi ký vào ngăn chứa kinh sách mãi đến 10 năm sau, chị mới tìm lại
nó.
Rồi một hôm chị
gặp lại người khách lạ trong một hoàn cảnh lỡ khóc lỡ
cười. Số là, chị bắt tình với
một ông Trung Tá Phòng Chinh Huấn của
một quân đoàn. Cuộc dan díu vụng
trộm kéo dài chừng một năm. Bà vợ của ông ta, sau thời
gian phăng được tung tích của chị, cùng năm bảy mụ nặc nô tới
tận tiệm mà chị thường lui tới để đánh ghen. Chị bị họ lột truồng và đánh
đập tàn nhẫn. Chị ngã gục mê man. Trong cơn mê sảng,
chị thấy lại mụ trần truồng trong cơn ác mộng
năm xưa. Mụ từ đám lửa chạy ra, nghiến răng:
– Ngày xưa, tao bắt mày theo tao quá sớm. Bây giờ, tao
gặp mày đúng lúc. Mày hãy nhìn vào đám lửa
kia, sẽ thấy cái bản mặt hiện tại của mày.
Lửa từ phía sau
lưng mụ hung ác, sáng như một
tấm gương soi mặt, chiếu rõ khuôn mặt chị. Ôi, chị xanh xao mệt mỏi, mắt sâu hoắm,
hung tợn, răng dài sắp biến thành nanh, vóc mình lõa lồ, héo hắt.
Đây là hình ảnh của một kẻ tội lỗi. Ôi chị lạc đường tìm về
hạnh phúc, đi sâu vào một tâm cảnh phiền não. Thôi, hãy chấp
nhận lấy cái cảnh giới phừng phừng lửa cháy. Tâm đã bị thiêu đốt bởi
lửa kiêu căng, phẫn nộ, thì cảnh
giới lửa kia phải chăng là cảnh giới
tương ứng. Tâm nào, cảnh ấy. Chị nghĩ thầm như
thế và chi biết cầu xin Đức Quán Thế Âm giúp chị
sự kham nhẫn, sự không biết khiếp sợ để nhận lãnh hình phạt kia.
Bên tai chị, tiếng
mụ trần truồng the thé:
– Mày giống tao rồi, có phải? Tao đợi mày quá lâu. Chúng ta
hãy vào đám lửa kia, mau!
Chị ngoan ngoãn
theo mụ, và cầu nguyện
Đức Quán Thế Âm. Bỗng
một bàn tay lôi chị ra xa đám lửa. Bàn tay mềm mát, chuyền cái hơi mát chạy
khắp huyết quản, châu thân chị. Rồi bên tai chị văng vẳng một giọng nói dịu
như dòng mật rót nhẹ
vào ly:
– Tố Nga, tôi đến
giúp em đây. Tội nghiệp cho em. Em đã đi quá xa.
Chị tỉnh dậy. Đám đánh ghen đã đi đâu mất. Chỉ còn lại
một đám đông hiếu kỳ đang nhìn chị diễu cợt và soi bói. Người
khách lạ dìu chị
vào xe, sau khi trao cho chị chiếc áo măng tô xám nhạt ngát hương cay nồng.
Trong xe taxi, chi khóc
trên vai “người bạn” của chị, cảm thấy cái đau
đớn của thân xác và tâm hồn dịu
lần… Chị năn nỉ:
– Ông ạ, em
muốn xa lánh thành phố này. Hoặc là ông cho em theo ông với.
Hoặc là ông bằng lòng
theo em.
Người khách lạ
lắc đầu:
– Chúng ta ở hai cảnh giới khác nhau, thì làm sao mà chúng ta đi chung với nhau
một đường, hả Tố Nga? Nhưng tôi tin rằng khi
rời xa thành phố này, em sẽ làm một cuộc hành hương.
Chị lại hỏi bằng một giọng hậm hực:
– Ông ạ, mụ già kia là ai? Sao mụ cứ thù ghét, đeo đẳng
em mãi? Thấy mặt mụ thôi, em đã lợm giọng.
Ông khách nhìn chị. Trong
cặp mắt hiền từ bỗng lóe một chút ánh sáng hung ác, lạnh lùng.
Nhưng chỉ một thoáng thôi, ông lấy
lại vẻ bình thản, ánh mắt
từ bi âu yếm, nụ cười bùi ngùi, man mác… Ông chậm rãi
nói:
– Tôi muốn em đừng thù ghét ai cả. Tại em thù ghét
mới có mụ già kia.
Tại em yêu thương cuộc đời,
nhân loại từ bao kiếp trước hoặc ở kiếp
này bằng cái tâm
từ bi hỉ xả nên tôi mới đến em.
Khi tới nhà chị,
ông khách hôn lên trán chị, âu yếm:
– Tôi phải giã từ
em tại nơi đây. Em nhớ đi bác sĩ và tịnh dưỡng một ít lâu
nhé.
Chị ngập ngừng:
– Cho… tới bây giờ, em
vẫn… chưa biết ông là ai?
– Tôi là bạn thân của em từ một thời xa lắm. Em không sao hiểu và tin những gì tôi kể được đâu.
Ông khách toan lui gót, chị vội níu chặt cánh tay ông ta lại:
– Ông bạn yêu kính, ông không khuyên em thêm một điều gì sao?
Ông khách thoáng vẻ buồn
rầu:
– Em đã sống khá nhiều rồi. Kinh nghiệm mà em
đã trải qua không hữu
ích thiết thực cho em hơn là những lời khuyên nhủ
suông trơn của tôi hay
sao? Tuy nhiên, tôi đã viết cho em một bức cẩm nang và đút nó vào ngăn sách chứa kinh Phật. Em có thể tìm thấy nó và mở ra đọc liền khi nào em
thấy cần.
Từ đó tới hôm qua, bẵng đi mười năm, chị không gặp
người khách lạ nữa. Chị cũng không tìm ra bức cẩm nang của ông ta
khi chị lục lọi ngăn sách chứa
các quyển kinh Phật. Một hôm, chị thầm nghĩ rằng chắc là
trong quyển kinh có những
câu gì đó khả dĩ phù hợp
với đời sống và những kinh nghiệm mà chị trải qua hoặc có liên
quan gì đến ông khách hiền
từ cùng mụ già hung
ác. Chị lôi ra từng quyển
đọc và chiêm nghiệm. Vì tò mò mà chị lần lần đi vào những
quyển kinh Đại Thừa như Kim Cương, Pháp Hoa, Lăng Nghiêm Duy
Ma Cật, Pháp Bảo Đàn Kinh. Và chị lãnh hội ít nhiều về căn bản giáo lý
của Phật. Sau cùng, chị tìm thấy tập hồi ký và mảnh
giấy mà chị đã chép
câu Cái lành và cái chẳng lành là hai. Nếu
lòng chẳng khởi việc lành và việc chẳng lành, vào cõi không tưởng
thì thấu suốt các
pháp. Thế là vào pháp môn mầu
nhiệm có một không
hai.
Chị đọc lại đi đọc lại câu của Phất Sa Bồ Tát
trong kinh Duy Ma Cật kia. Ôi câu nói như một
vết kéo bén ngót cắt tấm màn tối đen đang bủa vây đầu
óc chị, nhất là khi
chị đọc thiên hồi ký thuật
về cuộc gặp gỡ giữa ông khách và chị, và cuộc gặp gỡ giữa mụ già và
chị.
Rồi chị mê đi. Trong cơn chiêm
bao, chị thấy mình nằm lõa lồ trên một bãi sông ẩm bùn. Chung quanh chị
là ánh trăng tái nhợt. Chị
cố tìm một phương hướng để về nhà, hay đến chỗ nào có dân cư. Nhưng vô
ích. Chung quanh chỉ có sự im lặng
và mông lung… Bỗng một bàn tay khô héo kéo chị đến một bãi đất phẳng, khô ráo, ngào ngạt
mùi hương cay cay. Mụ già hung ác và trần truồng đó. Chị
kinh hoảng toan chạy trốn. Nhưng mụ giữ chị lại, lấy tấm vải trắng quấn chung
quanh chị. Và thoắt một cái, tấm
vải biến thành một chiếc áo sa
ri mềm dịu, loại áo của
phụ nữ Ấn Độ, đem lại cho chị một cảm giác êm
dịu mà chị chưa từng gặp.
Mụ già buồn rầu
bảo:
– Tôi đợi bà
hoài. Nhưng tôi làm công chuyện Dã
Tràng xe cát biển Đông. Bà và tôi cùng đi chung
đường, nhưng bà còn có những lối
rẽ. Hôm nay, tôi đến từ giã bà đây. Chúng ta vĩnh viễn không gặp
nhau nữa… Chúc bà vui vẻ tiếp
tục đi trên lối rẽ của bà.
Bây giờ mụ đã già lắm rồi. Thân thể
mụ vẫn trần truồng, nhưng tóc mụ bạc đi
nhiều, sáng trắng như tuyết băng che bớt chiếc
ngực trần và một phần thân thể. Khuôn mặt mụ bớt
vẻ hung ác, nhưng không sao có một dấu
vết tĩnh lặng, vì cái nhìn của mụ hãy còn nung nấu thù hận và cặp môi mụ hãy còn chua chát như xưa.
Chị hỏi mụ:
– Bà có biết ông
khách lạ ở đâu không?
Mụ cười buồn. Chị nghĩ rằng mụ thù ghét ông ta nên không dám hỏi thêm nữa.
Nhưng chị chợt thấy, trời đất ơi, nụ cười mụ bỗng dưng biến đổi, giống nụ cười
của người khách lạ, hai mép môi
cong hình củ ấu không còn nữa. Đây là nét mỉm cười từ ái của
Đấng Cứu Rỗi hay của Đấng Đại Bi. Mụ hỏi:
– Có lẽ bà nghĩ
lúc nào tôi cũng là kẻ bại trận của ông
khách khi cả hai cùng đến với bà. Nhưng bà ạ, chắc bà còn nhớ
câu nói của ông ta
khi ông đến cứu bà trong trận
đòn ghen chớ: (mụ lập lại bằng chính giọng nói êm dịu của
mụ, và trời ơi, đây là
giọng nói của ông
khách) Tôi muốn em đừng thù ghét
ai cà. Tại em ghét nên mới có mụ già kia. Tại em yêu thương cuộc đời và nhân loại
từ bao kiếp trước hoặc ở kiếp này bằng cái tâm từ bi hỉ xả nên tôi
mới đến em.
Thoắt một cái
thân hình lõa lồ héo úa của mụ
biến mất. Đây là thân hình tươi trẻ của
người đàn ông, quấn chiếc khăn choàng – thân hình của ông khách. Mụ
già nhắc nhở:
– Tố Nga, chắc bà ngoại
của bà có thuật lại lời mụ xác cốt của bà Chúa xứ lúc lên đồng thưở trước chứ: Con nhỏ này căn tánh lộn lạo, tâm địa
điên đảo. Bởi đó, cái
“vong cô” theo nó cũng phức tạp lắm. Vong cô đó khi thì ma khi thì Phật, túc
thương lúc ghét con nhỏ.
Mụ cười the thé trước
cặp mắt kinh ngạc của chị. Tiếng cười gay gắt bỗng chuyển dần ra êm dịu, và mái tóc bạc
dài gần chấm gót của
mụ biến thành mái tóc đàn ông đen mướt; vẻ
mặt hung ác và bất an của mụ biến thành khuôn mặt điển trai, hiền lành,
khuôn mặt ông khách với
ánh mắt âu yếm
như ôm choàng cuộc đời.
Cứ thế, ở một con người, khi thì là hình tướng ông khách, khi thì hình tướng
mụ già thay phiên nhau xuất hiện
trước mắt chị. Và rồi “con người” có hai nhân dạng đố tan biến… Bên tai
chị, tiếng ông khách văng vẳng lại,
nhắc câu nói của Phất Sa Bồ Tát.
* Hồ Trường An,
Troyes 1986.


Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire