Tháng
11 năm 2008, Hồ Trường An bị đứt mạch máu não, bị liệt nửa người, phải ngừng
sáng tác nhưng ông vẫn tập đánh máy lại và tiếp tục viết biên khảo.
Cho
đến những ngày cuối, Hồ Trường An vẫn thiết tha, không ngừng suy tư và bàn bạc
về các tác giả trong văn học miền Nam và hải ngoại, ông vẫn mong một ngày đất nước
sẽ thống nhất trong văn học và trong lòng người.
Hồ
Trường An là một trong những nhà văn nền móng của văn học hải ngoại, cùng với
Nguyễn Mộng Giác, Du Tử Lê, Võ Đình, Kiệt Tấn; trẻ hơn có Đỗ Kh. và Trần Vũ.
Nhưng
Hồ Trường An đã không được đánh giá đúng mức, thậm chí còn bị coi thường, với
những biệt hiệu như nhà văn miệt vườn, bà già trầu… mới nghe tưởng là tôn vinh,
thực ra, ẩn dấu một sự kỳ thị ngầm có ý chê bai tiếng Nam quê mùa, lại được Hồ
Trường An kể lể dài dòng như đàn bà con gái.
Tên
thật là Nguyễn Viết Quang, Hồ Trường An là bút hiệu chính, ông còn ký những tên
khác: Đào Huy Đán, Đinh Xuân Thu, Đông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông
Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Đoàn Hồng Yến và Đặng Thị Thanh Nguyệt.
Hồ
Trường An có nghiã là họ Hồ ở chợ Trường An (gần chợ Vĩnh Long). Và họ Hồ này
“phải là” con cháu Hồ Biểu Chánh.
Hồ
Trường An sinh ngày 11/11/1938 tại xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh
Vĩnh Long, trong một gia đình có truyền thống văn học.
Cha
là nhà thơ Mặc Khải (tên thật là Nguyễn Viết Khải), tác giả hai tập thơ nổi
tiếng Sông Nước Cổ Chiên và Phấn Nội Hương Đồng. Cô là thi sĩ Phương Đài, tác
giả hai tập thơ Đất mẹ và Hiến lễ mùa thơ. Cả hai đều hoạt động cho cách mạng
Việt minh. Mẹ là bà Hà Thị Cang.
Gia
đình chỉ có hai chị em, cách nhau một tuổi. Chị, Nguyễn Thị Băng Lĩnh tức
Nguyễn Thị Thụy Vũ, là một trong ba nhà văn nữ có giá trị hàng đầu của văn học
miền Nam, cùng với Nguyễn Thị Hoàng và Túy Hồng.
Thủa
nhỏ, Hồ Trường An học trường tiểu học Thiềng Đức; trung học cấp một, trường
Tống Phước Hiệp (Vĩnh Long); cấp hai, trường Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), rồi
Chu Văn An (Sài Gòn). Lên đại học, theo ngành dược.
Năm
1967, đang học năm thứ 2 Đại học Dược khoa, bị gọi động viên, khoá 26, trường
Võ Bị Thủ Đức. Ra trường, làm Trưởng ban chính trị chi khu Tri Tâm, rồi chi khu
Lái Thiêu (Bình Dương). Sau đó, là sĩ quan báo chí của Sư đoàn 5 Bộ Binh, rồi
Quân Đoàn III, tham gia tích cực sinh hoạt văn nghệ, cộng tác với nhiều tờ báo
xuất bản tại Sài Gòn như: Tranh Thủ, Tiền Tuyến, Tiền Phong, Tin Sách, Bách
Khoa, Tin Văn, Tiểu thuyết Tuần San, Bút Hoa, Minh Tinh, Vấn Đề, Văn Học…
Sau
ngày 30/4/1975, nhờ gia đình thuộc thành phần cách mạng, Hồ Trường An không bị
đi học tập cải tạo, chỉ phải học khoá “Bồi dưỡng chính trị”, rồi được bổ làm
việc ở Thư viện Quốc gia.
Năm
1977, ông sang Pháp theo diện bảo lãnh.
Tại
hải ngoại, ông làm tổng thư ký toà soạn các tập san Quê Mẹ (Pháp), Làng Văn
(Canada), và cộng tác thường xuyên với những tạp chí Bút Lửa, Lạc Hồng, Viên
Giác, Hồn Nước, Lửa Việt, Nắng Mới, Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Gió Văn và Hợp
Lưu.
Hồ
Trường An là người đồng tính bẩm sinh, nhưng bị cha mẹ buộc phải cưới vợ, sinh
được ba con, rồi gia đình tan vỡ. Vết thương bỏ vợ con, một mình đi Pháp, đã
theo ông suốt đời như một dằn vặt khôn nguôi.
Sang
Pháp, ba năm sau, 1980, Hồ Trường An gặp Bernard Detrez, trở thành bạn đường,
sống chung ở Troyes, một thành phố phiá đông bắc Paris. Những năm đầu ngụ ở số
5 rue Auguste Renoir, sau dời đến địa chỉ 32 D Mail des Charmilles.
Bernard
Detrez không những đã tận tình ủng hộ, nâng đỡ tinh thần, khi Hồ gặp những bước
khó khăn, những sự phỉ báng, của một số không ít quần chúng cộng đồng hủ lậu,
chống đối đồng tính, mà Bernard còn trách nhiệm chuyện áo cơm, để Hồ rảnh tay,
suốt ngày cầm bút ghi trên giấy, rồi gõ máy tính, làm văn, mặc dù không hiểu
được Hồ đã viết gì trong đống sách đồ sộ ấy. Bernard còn tận tâm săn sóc người
bạn đường bị liệt trong 12 năm trời.
Hồ
Trường An qua đời ngày 27/1/2020, ở Troyes, Pháp.
Tác
phẩm đã in.
Hồ
Trường An đã in khoảng 60 tác phẩm ở hải ngoại, gồm: 22 truyện dài, 12 tập
truyện ngắn, 22 tác phẩm biên khảo và 2 tập thơ.
Truyện
dài: Lớp sóng phế hưng (Phong Trào Thanh Niên Hành Động, Paris, 1983, Cành Nam,
Hoa Kỳ, 1985), Phấn bướm (Việt Publications, Toronto, 1986), Hợp Lưu (Văn Nghệ,
Cali, 1987), Nửa chợ nửa quê (Nam Á, Paris, 1987), Đêm chong đèn (Văn Khoa,
Cali 1988), Lúa tiêu ruộng biền (Trung Tâm Phật Giáo VN tại Đức, 1989), Ngát
hương mật ong (Văn Lang, Canada, 1989), Còn tuôn mạch đời (Nam Á, Paris, 1990),
Lối bướm đường hương (Đại Nam, Cali, 1991), Tình trong nhung lụa, Đại Nam,
Cail, 1991), Ngát thơm hoa bưởi bông trà (Nam Á, 1992), Tình đẹp đất Long Hồ
(Đại Nam, Cali, 1993), Trang trại thần tiên (Đại Nam,1993), Vùng thôn trang
diễm ảo (Đại Nam, 1994), Chân trời mộng đẹp (Đại Nam, 1995), Thủa sen hồng
phượng thắm (Đại Nam,1995), Bãi gió cồn trăng (Làng Văn, 1995), Bóng đèn tà
nguyệt (Minh Văn,Virginia,1995), Mùa thục nữ vu quy (Cành Nam, Virginia, 1998),
Tình sen ý huệ (Tân Văn, Nhật Bản,1999), Hiền như nắng mới (Văn Khoa, Cali,
2001), Chiếc quạt Tôn nữ (Tân Văn, 2002), Màn nhung đã khép (Tân Văn, 2003),
Đàn trăng quạt bướm (Làng Văn, 2005), Trở lại bến Thùy Dương (Làng Văn 2009).
Tập truyện: Tạp Chủng (Làng Văn, 1991), Chuyện Quê Nam (Làng Văn,1991), Hội Rẫy
Vườn Sông Rạch (Miệt Vườn, 1992), Chuyện miệt vườn (Đại Nam,1992), Đồng không
mông quạnh (Đại Nam, 1994), Gả thiếp về vườn (Làng Văn,1994), Đêm xanh huyền
hoặc (Làng Văn, 1994), Chuyện ma đất tân bồi (Đại
Nam, 1998), Tập truyện ma (Tân Văn, 2001), Quà ngon đất quê Nam (Tân Văn 2003),
Trăng xanh bên trời Huế (Làng 2009), Truyền kỳ trên Nam (Làng Văn, Canada,
2009).
Ký
sự, bút khảo, bút ký: Giai thoại hồng (Tổ hợp xuất bản miền Đông Hoa Kỳ, 1989),
Thông điệp hồng (Trung Tâm Phật Giáo Việt Nam tại Đức, 1990), Cõi ký ức trăng
xanh (Làng Văn1991), Chân trời lam ngọc, hai cuốn: I (1993), II (1995) do Minh
Văn xuất bản, Sàn gỗ màn nhung (Đại Nam,1996), Cảo thơm (Minh Văn1998), Theo
chân những tiếng hát (1998), Tác phẩm đẹp của bạn (2000), Chân dung những tiếng
hát, ba tập:
I
(2000), II (2001), III (2003) do Tân Văn xuất bản, Lai láng dòng phù sa (Hoa Ô
Môi, 2001), Thập thúy tầm phương (Hoa Ô Môi, 2001), Chân dung 10 nhà văn nữ
(Tân Văn, 2002), Tập Diễm ngưng huy (Hoa Ô Môi 2003), Bảy sắc cầu vồng (Gió
Văn, 2004), Giai thoại văn chương (Cỏ Thơm, 2006), Náo nức hội trăng rằm (Cỏ
Thơm, (2007), Thắp nắng bên trời (Văn Học, 2007), Quê Nam một cõi (Hoa Ô Môi,
2007), Giữa đất trời giao hưởng (Gió Văn, 2008), Núi cao vực thẳm (Tiếng Quê
Hương, 2010), Ảnh trường kịch giới (Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đômg Hoa Kỳ. 2012),
Trên nẻo đường nắng tới (Gió Văn, 2013), Cảo thơm lần giở (Tổ Hợp Xuất Bản Miền
Đông Hoa Kỳ, 2015).
Thơ:
Thiên đường tìm lại (Nhận Thức, 2002) và Vườn cau quê ngoại (Cỏ Thơm, 2003).
*
Là
một trong những nhà văn sáng tác sung mãn nhất và có địa bàn hoạt động rộng
nhất ở hải ngoại, Hồ Trường An viết văn, phê bình, biên khảo, dựng chân dung
nghệ thuật và làm thơ. Số lượng sách của ông rất lớn, trên dưới 60 tác phẩm, có
lẽ lớn nhất trong những người cầm bút ở ngoài nước. Ông đã tạo cho văn học hải
ngoại một chiều kích riêng biệt của miền Nam qua ngôn ngữ, môi trường và phong
tục.
Hồ
Trường An bắt đầu sáng tác từ thập niên sáu mươi, nhưng lúc đầu chỉ lác đác; vì
là nhà báo quân đội, đi phỏng vấn nhiều hơn viết văn, nên chưa nổi tiếng ở
trong nước.
Bài
thơ đầu in trên tạp chí Bách Khoa số 141 (15/11/1962) có
tên Bãi biển chiều, sáng tác thời trung học, có những câu:
“Cây
héo tóc, gục đầu buồn mặc tưởng
Thu
muộn màng rắc gió nhẹ muôn nơi
Vừa
tỉnh giấc, thủy triều vừa thấp xuống
Muôn
sao mờ ném ánh lửa ma trơi…”
Những
lời thơ học sinh thời ấy đã ló vài hình ảnh siêu thực (cây héo tóc, ánh lửa ma
trơi) và ý thơ phảng phất chất Đinh Hùng.
Rồi
ngừng.
Bốn
năm sau, có truyện ngắn Buổi tối êm đềm đăng trên Bách Khoa số 223 và 224 (14/4
và 1/5/66). Sau đó, thêm vài truyện ngắn và thơ nữa, được in trên Bách Khoa,
nhưng những sáng tác này chưa có cá tính đặc biệt, chưa gây ấn tượng.
Tóm
lại, trước 1975, Hồ Trường An mới là chỉ là một nhà báo trẻ, là em ruột nhà văn
danh tiếng Nguyễn Thị Thụy Vũ.
Khi
ra hải ngoại, Hồ Trường An mới thực phát triển phong cách văn chương của riêng
mình.
Phong
cách này hình thành từ sự tổng hợp ảnh hưởng ba nhà văn tiền bối: Hồ Biểu
Chánh, Bình Nguyên Lộc và Vương Hồng Sển.
Hồ
Biểu Chánh là nhà văn tiên phong, đã khai phá tiểu thuyết hiện đại bằng tiếng
Nam đầy hình ảnh và âm nhạc, đã xây dựng toàn bộ xã hội miền Nam trong tiểu
thuyết.
Bình
Nguyên Lộc, đã khai phá truyện ngắn hiện đại, tìm về nguồn cội cuộc di dân từ
Bắc xuống Nam và triển khai hai yếu tố chính đất và nước như thủy tổ của sự
sống. Bình Nguyên Lộc thể hiện sự giao lưu văn hoá thời kỳ chia đôi đất nước:
giao lưu trong giọng văn, và giao lưu trong lịch sử Nam tiến: ông đem chất Bắc
vùi xuống đất Nam, nở thành toàn bộ hệ thống văn phong và tư tưởng Bình Nguyên
Lộc. Ông là một trong ba khuôn mặt lớn của văn học miền Nam thời bấy giờ: Bình
Nguyên Lộc đại diện vùng Đồng Nai, Biên Hoà; Mai Thảo đại diện Hà Nội và Võ
Phiến, đại diện vùng Bình Định.
Vương
Hồng Sển là nhà biên khảo, đã tìm hiểu gốc gác những nhân vật, những thành phố,
những tên đường, của vùng Sài Gòn-Lục tỉnh. Ông dựng lại sinh hoạt tuồng tích,
kịch trường miền Nam, kể những giai thoại vùng Sài Gòn, lục tỉnh. Ông thể hiện
tinh thần biên khảo bình dân, dí dỏm, trái với tinh thần biên khảo bác học nghiêm
túc, thường thấy ở các học giả Bắc.
Tác
phẩm Hồ Trường An có những đặc điểm của ba tác giả kể trên, từ tiểu thuyết đến
biên khảo. Ảnh hưởng này là tự nhiên hay qua rèn luyện tư tưởng? Không rõ.
Nhưng dù gì chăng nữa thì đây không phải là sự bắt chước, mà là căn cước ADN
của Hồ Trường An, làm ông trở thành một trong những nhà văn, nhà biên khảo, đại
diện cho nền văn hoá sông hồ của vùng đất mới.
Nhờ
bản chất riêng tư: thích đọc và yêu văn chương từ bé, thích gần gụi văn nghệ
sĩ, đam mê âm nhạc kim cổ, yêu sông nước, yêu sự vận chuyển thương hồ; nhờ hai
năm học dược, giúp ông có kiến thức uyên bác về cây cỏ, sinh vật, tôm cá, trong
vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Lại
nhờ tính chất độc đáo của người đồng tính, gần với nữ tính, khiến ông có sự
nhạy cảm lạ lùng mà người dị tính không thể có được.
Cái
tên “bà già trầu” mà người ta gọi đùa, chế giễu, gắn bó với miếng trầu, với hũ
mắm, này, đã được người ta gọi tên ra, nhưng chính những người đặt tên cũng
chưa hiểu hết nội dung tác phẩm của Hồ Trường An. Bởi nếu phân tích sâu xa hơn,
thì bà già trầu chính là cái chất Hồ Trường An, mà trong đó yếu tố nam nữ là
chủ chốt, tôi muốn nói: nam như Nam Việt, Nam bộ, và nữ như tính nữ của người
đồng tính. Và đó mới là tinh chất Hồ Trường An. Chỉ có một. Độc đáo. Nó ghép hai
yếu tố khác nhau: nam như tiếng Nam, giọng Nam và nữ như giọng người đồng tính.
Bởi
vì ở hải ngoại, nhiều người khác cũng viết văn giọng Nam như thế, nhưng không
ai có được sự độc đáo này.
Bởi
vì Hồ Trường An rất sành sỏi về tất cả những gì thuộc địa hạt đàn bà con gái,
như màu sắc phấn son, cách màu điểm, cách ăn nói. Ông thạo tâm lý phụ nữ, rành
việc bếp núc, biết đủ cách chế biến, nêm nấu các món ăn như một bà nội trợ cừ
khôi. Óc quan sát tỷ mỷ khiến ông nhìn thấy màu chì tô mắt, màu son móng tay, thậm
chí cả đường kim mũi chỉ trên áo quần người phụ nữ. Như thể Hồ Trường An trời
sinh đã một phần là gái!
Hồ
lại thích chuyện “đàn đúm”, “đấu láo”, nhưng sự đàn đúm ở đây không trở thành
nói xấu, mà luôn luôn có tính chất giai thoại văn học.Với trí nhớ lạ lùng, Hồ
Trường An gần như ghi được hết những sự kiện đã xảy ra trong đời sống văn học ở
miền Nam, trở thành một bộ từ điển sống cho những ai muốn tìm hiểu thêm về khiá
cạnh con người của các nhà văn mà ông đã gặp khi còn là nhà báo trẻ.
Nhưng
tất cả những kiến thức và phong thái đó cũng chưa tạo nên nhà văn, nếu không có
tài năng và phần sâu xa nhất trong bản chất con người, ở ông, là lòng nhân hậu.
Toàn
bộ tác phẩm Hồ Trường An toát lên sự thành thật và lòng nhân hậu đó.
Nhờ
tính nhân hậu và lòng trung thực mà những chân dung văn học và chân dung nghệ
sĩ của Hồ Trường An có giá trị vượt trội các tác giả khác, bởi vì ông không ác,
ông nhìn con người với đôi mắt nhân đạo nhưng không tô hồng. Ông kể cả cái xấu
của họ ra, nhưng với một giọng tử tế, trung thực, không gièm pha, ác ý.
Hồ
Trường An đã pha trộn được cả hai khiá cạnh bình dân và bác học trong tác phẩm
của mình, với những nét thật thà nhân hậu của các tác giả lớn miền Nam.
Không
gian tiểu thuyết của ông nằm trong lòng đồng bằng sông Cửu Long, trên quỹ đạo
cắt ngang miền lục tỉnh, lấy Vĩnh Long, quê cha, làm trung tâm, tiến sang đông
tới Mỹ Tho, Gò Công, Rừng Sát, Tân An, tiến về tây tới Cần Thơ, Rạch Giá. Đó là
những vùng ông đã sống thời niên thiếu và sau này lớn lên đi lính, hành quân.
Ngoài kiến thức sâu rộng thu góp trong sách vở ông còn tích luỹ kinh nghiệm
sống. Với óc quan sát kỹ lưỡng và một trí nhớ phi thường, Hồ Trường An đã nắm
chắc những chi tiết địa lý, hình thế, cây cỏ, gia đình, làng xóm, nên khi ông
đưa con người vào trong những khung cảnh ấy, họ tạo thành một quần thể bà con,
bạn bè, tất cả đều ăn khớp với nhau. Tiểu thuyết của Hồ Trường An mênh mông,
nhưng khi đọc bất cứ tác phẩm nào của ông, ta cũng thấy “thân thuộc” vì tác giả
đã truyền được cả linh hồn đất đai, sông nước, cây cỏ và con người miền lục
tỉnh vào con chữ.
Lớp
sóng phế hưng.
Tiểu
thuyết Lớp sóng phế hưng là tác phẩm đầu tiên và chủ yếu của Hồ Trường An, ra
đời năm 1983, năm năm sau khi ông tới Pháp, được Phong trào Thanh niên Hành
động Xã hội, ở Paris in ronéo offset, 500 bản, phát không, như loại sách truyên
truyền do một kẻ “vô danh” viết ra. Thoáng là hết ngay. Ít lâu sau, Hồ Trường
An nổi tiếng như “sóng cồn” với biệt danh “bà già trầu”. Chuyện gì đã xảy ra?
Trước
hết, tác giả viết theo truyền thống nói truyện của người Nam. Cần nhắc lại
rằng: trong văn chương, từ Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên) đến Hồ Biểu Chánh,
người Nam có truyền thống nói thơ, nói truyện, khác với lối thuật truyện của
người Bắc, thuộc truyền thống văn. Nhờ lối nói truyện này, nên sau khi Lớp sóng
phế hưng ra đời, Hồ Trường An đã được người đọc đặt ngay tên là bà già trầu (bà
già quê mùa, ăn trầu, kể chuyện con cà con kê). Tức là người ta đã nhận thấy sự
khác biệt giữa văn nói và văn viết, nhưng người ta lại đánh đồng cách viết với
con người.
Ngoài
ra, thập niên 80, người di tản vừa bị bứt ra khỏi đất nước cội nguồn trong
những hoàn cảnh bi đát, họ còn đang bơ vơ hoảng loạn, Lớp sóng phế hưng đã dựng
lại cho họ một mái tranh, một lũy tre, cho họ nghe lại tiếng nước chảy dưới
ghe, trong rạch, dọn cho họ bữa cơm cá kho, dưa muối, mắm cà…họ được ngửi mùi
thân của gia đình, đất mẹ, họ nghe được tiếng chửi, tưởng như vĩnh biệt, từ khi
bỏ xứ.
Lớp
sóng phế hưng lấy bối cảnh là Hóc Hỏa, Rạch Giá, vùng quê mùa, cận biển. Ở nơi
thôn cùng thuỷ tận ấy, tác giả đưa ta vào gia đình bà Bếp Luông, mẹ goá.
Bếp
là chức hạ sĩ trong lính khố xanh (thời Tây). Còn Luông, tiếng Nam, nghiã là
Long (vì người miền Nam kỵ huý tên vua Gia Long). Dân miền Cực Nam gọi vua Gia
Long là vua Gia Luông. Luông theo từ điển còn có nghiã là luộc. Qua cái tên
này, ta đã thấy sự uyên bác về chữ của Hồ Truòng An. Bà Bếp Luông có năm con.
Hai trai: Hai Cường, Út Biên và ba gái: Ba Kiểm, Tư Diễm, Năm Nhan.
Truyện
mở đầu như sau:
“Vừa
đi chợ Vàm Xáng về, bà Bếp Luông liền hỏi ngay đứa con trai út của mình:
–
Tụi nó đi đâu hết rồi?
Út
Biên đang vót cần câu nghe mẹ hỏi, liền nói:
–
Anh Hai đi vô Sóc Thổ, chị ba chở khoai mỡ ra cầu đúc Cái Xình, chị Tư đi ăn
đám giỗ ở nhà bà Bảy Hương, chị Năm đi nhổ bồn bồn về làm dưa.
Bà
Bếp Luông lột chiếc khăn rằn, vớ cái quạt mo cau quạt phành phạch, ong óng
chửi:
-
Mồ tổ cha lũ con ăn hại. Thằng lớn thì vào Sóc để ve mấy con đầu gà đít vịt,
hai đứa con gái lớn mượn cớ đi đây đi đó để bẹo dạng bẹo hình với tụi con trai.
Người ta có phước đẻ con nhờ con cậy, còn tui nghiệp dày đức mỏng, đẻ ba thứ
sấu bắt hùm tha, chằn ăn trăn quấn. Phải dè, tui đẻ ra hột gà hột vịt, luộc ăn
còn bổ ích hơn…” (Lớp sóng phế hưng, Tủ Sách Cành Nam, 1988, t. 15).
Mấy
dòng đầu tiên này đã gồm thâu gần đủ những yếu tố chính trong văn chương Hồ
Trường An.
Tưởng
tượng một người Bắc (lần đầu tiên vào Nam sau 1975) đọc được những dòng này, sẽ
tưởng mình lạc vào một “nước” khác. Bởi thứ tiếng này lạ lắm, lạ từ chữ đến
thành ngữ, cả cách chửi cũng không giống ai. Đoạn văn trên toát ra ba tính chất:
1-
Lối viết nói truyện: Út Biên không kể mà nói, nói gọn mà rành: anh Hai vô Sóc
Thổ, chị Ba chở khoai mỡ ra cầu đúc, chị Tư đi ăn giỗ… chị Năm đi nhổ bồn bồn
về làm dưa, theo đúng trình tự trên dưới một lèo và còn cho biết cả chi tiết
nữa, hệt như Nguyễn Du nói:
Này
chồng, này mẹ, này cha
Này
là em ruột này là em dâu.
Lối
nói truyện này không chỉ để… nói mà còn là một kỹ thuật mô tả, lời Út Biên coi
bộ còn hay hơn lời…
Nguyễn
Du, bởi vì, không những nó chỉ rõ vị trí của bốn anh chị, mà còn vạch ra tính
cách của họ: chỉ có chị Năm làm việc (đi nhổ bồn bồn làm dưa), còn ba đứa lớn
chỉ tào lao, mượn cớ đi chơi (anh hai vô Sóc Thổ tán gái, chị Ba ra cầu đúc ưỡn
ẹo liếc trai, chị Tư đi ăn giỗ…).
2-
Thứ đến những chi tiết. Hồ Trường An có lối viết chi tiết trên một người và chi
tiết trên nhiều người. Trích đoạn trên đây là chi tiết trên nhiều người: bà Bếp
Luông đội khăn rằn. Biên vót cần câu, Ba chở khoai mỡ, Năm nhổ bồn bồn… Những
chi tiết này không nằm chết khô, mà chúng quẫy động, chúng tươi rói, nhờ âm thanh
tiếng Nam, nhờ sự thô lậu trong tên gọi và nhờ sự lạ lùng trong thành ngữ, đó
là loại chi tiết tạo chuyển động: Sóc Thổ, Cái Xình, khăn rằn, bồn bồn, quạt
phành phạch, ong óng chửi, mấy con đầu gà đít vịt, bẹo dạng bẹo hình, sấu bắt
hùm tha, chằn ăn trăn quấn… tôi gọi là chi tiết chuyển động do Hồ Trường An
sáng tạo, và ta sẽ thấy ở dưới, do ảnh hưởng của Hồ Biểu Chánh.
Loại
chi tiết thứ hai, dùng để tạo hình và màu sắc, Hồ Trường An viết:
“Dì
Bảy Phụng Hảo bới đầu, mặc áo bà ba bằng lụa trắng thêu hoa xanh nước biển ở cổ
và ở lai, mặc quần mỹ a đen dệt nổi bông cúc, lưng cặp bằng nhiễu xanh màu đọt
chuối, chơn dì đi guốc sơn đen quai nhung… Hai chiếc vòng ngọc thạch xanh biếc
trên cườm tay no nưỡng và nuột nà… Tai dì đeo bông mù u bằng vàng…” (Còn tuôn
mạch đời, Nam Á, Paris, 1990, t. 27).
Kỹ
thuật này Hồ Trường An học của Hồ Biểu Chánh, và không chỉ có mình Hồ Trường
An, Võ Phiến cũng học Hồ Biểu Chánh, nhưng người ta lại coi Võ Phiến là ông tổ
của sự “chẻ sợi tóc làm hai”. Thực ra Hồ Biểu Chánh mới thực là “ông tổ”, bởi
từ thập niên 20 của thế kỷ trước, ông đã viết:
“Tú
Phan trở ra mình mặc một cái áo tố xanh, bộng thêu chỉ bạc, lót lãnh màu hường,
trong lại mặc thêm áo trắng dài, bâu ủi cứng mà nút lại cài chặt, nên cổ day
qua day lại coi không được thong thả, quần nhiễu Bắc thảo mới may chưa mặc lần
nào, mà bởi tại không ủi nên có mấy lằn ngang coi không được thẳng thắn. Giày
bót chinh vàng cũng còn mới chưa mang lần nào nên đi trên gạch bông muốn trợt
lại kêu tiếng trèo treo. Khăn đen bịt thật khéo, song vì lớp nhiều quá nên chần
vần một đống trên đầu coi không được thanh bai cho lắm.” (Hồ Biểu Chánh, Nhơn
tình ấm lạnh, 1925, t. 20).
Chỉ
với mấy dòng, Hồ Biểu Chánh đã tạo được một cảnh phim sinh động, với nhân vật
Tú Phan đầy đủ màu sắc, y phục, cử chỉ, phong thái… Kỹ thuật viết của Hồ Biểu
Chánh, tôi gọi là kỹ thuật hội họa và điện ảnh, vì nó cho người đọc không những
nhìn thấy ngay một bức tranh có âm thanh và chuyển động trước mắt, mà nếu là
một đạo diễn, thì bạn có thể dựng ngay một cảnh phim. Kỹ thuật viết chi tiết
này Võ Phiến học trước, kế đến Hồ Trường An. Cho nên không những Hồ Hữu Tường
ngày trước đã bái phục nghệ thuật Hồ Biểu Chánh mà cả những nhà văn avant-garde
lớp sau như Dương Nghiễm Mậu cũng tôn Hồ Biểu Chánh làm thầy và Hồ Trường An đã
mượn họ của của ông làm bút hiệu.
3-
Ba là cách chửi: Bà Bếp Luông thường bắt đầu câu nói bằng lời chửi.
Lời
chửi ở đây chuyên chở tâm hồn bà. Bà chửi có ngành có ngọn, có vần có điệu,
nhưng bà chửi rất khác, chửi độc đáo, không giống ai. Ở đây ta thấy rõ: chửi
lối Nam khác hẳn chửi lối Bắc, cách ví von lối Nam cũng hoàn toàn khác với lối
Bắc.
Ví
dụ cặp vợ chồng Duyện trong Nhà Nghèo của Tô Hoài chửi nhau:
“-
Mày đẻ lắm thì mày nuôi nhiều…
-
Ối ông cả bà lớn ơi! A bấy lâu tôi nằm với… chó đấy a”. (Nhà nghèo, t. 13)
Hay
anh Duyện chửi vợ:
“Ừ,
ông chửi cha con què đấy” (t. 13)
Hoặc
chị Duyện chửi con:
“Gái
ơi! Cha đẻ mẹ con chết dẫm, ngã xuống ao xuống chuôm nào rồi!” (t. 10).
Lời
chửi của vợ chồng Duyện diễn tả sự thù hằn cay độc, đốp chát, ăn miếng trả miếng,
trong tiếng chửi có tiếng rủa, kể cả chửi con.
Còn
bà Bếp Luông chửi để “giáo dục”, chửi “có văn hoá”, bà chửi con:
“Đồ
ôn dịch, làm biếng nhớt thây, hết ăn tới ngủ, rồi đi ve gái, rồi đi cờ bạc,
nhậu nhẹt. Thay vì mầy khai thác thêm sở rẫy trồng khóm, trồng khoai lang,
khoai mì, khoai từ giúp đỡ má mầy thì mầy cứ đánh lừa đánh đảo, hết ngủ trưa,
rồi đi chơi bời (…) Mầy là anh lớn, là chim đầu đàn, không làm gương cho lũ em.
Mầy mà đi phá hoại trinh tiết đàn bà con gái ở vùng nầy thì lũ em gái mầy sẽ trả
quả, nghe chưa đồ ôn hoàng dịch lệ?” (t. 17).
Sau
lời chửi, bà Bếp Luông thường thêm lời răn:
“Tao
rầy là để trừ hao nghe chưa con đĩ thúi. Mầy mà vừa thấy trai là cười híp mắt;
không răn mầy trước sao được? Thôi đi tắm rửa đi. Má có nấu canh chua và kho cá
bống cho chị em mầy đó. Còn mấy con lươn, mầy muốn ăn món lươn um hay lươn xào
sả ớt?” (t. 21).
Chính
những câu cuối: má có nấu canh chua… đã diễn tả nhân cách và tình thương bao la
của bà. Mà không chỉ đối với con, với cả “kẻ thù” là mụ Thím Bảy Cá Trê, bà
cũng vậy. Mụ hàng xóm này suốt ngày chửi đổng, moi móc cái xấu nhà bà, nhưng
khi “nó” sốt nặng bà lật đật qua cho thuốc ngay. Vậy, sự chửi ở bà Bếp Luông là
sự sống, nó bao trùm triết lý nhân quần của bà; khi Bếp Luông không còn chửi là
bà không muốn sống nữa, sự bất hạnh đã trùm kín tâm hồn bà.
Bếp
Luông không độc quyền món chửi, Sáu Quyên cũng thạo lắm.
Đây
là màn Hai Cường “tỏ tình” với Sáu Quyên, hai anh chị, mỗi người ở một bên
sông:
“-
Đừng có thách. Tui mà qua được, tui hun chị một cái thiệt mùi, nói cho chị biết
trước.
Sáu
Quyên rít lên:
–
Mầy dám nói vậy hả thằng Thiên Lôi? Qua đây mặc sức mà bồng, mà hun. Mầy mà
không qua thì tao vác dao qua liền” (t. 29).
Một
lối tỏ tình rùng rợn quá cỡ, thuộc “trường phái Cô Quờn”. Nhưng chỉ ít lâu sau
họ “bồng bế” nhau trốn đi thật, vì Sáu Quyên lớn tuổi hơn Hai Cường và đã có
một đời chồng, không bà mẹ nào chấp nhận một sự “bại hoại gia phong” như vậy.
Lời chửi ở Sáu Quyên là lời ưng thuận Hai Cường, thằng ôn dịch kém tuổi mình mà
dám chơi trèo, và là lời âu yếm, trá hình, bọc vỏ chửi rủa để “che mắt thế
gian”.
Trong
vùng đất mới này, phong cảnh cũng hoàn toàn không giống các miền khác: “Hai bên
ven rạch, đám dừa nước, đám lác, đám sậy đen thẫm. Những cây cau, cây dừa vươn
lên cao, những tầu lá vẽ nên nét thủy mạc tua tủa. Năm Nhan bước qua cầu khỉ
cong vòng. Dòng rạch lấp loáng, thiêm thiếp như say trăng. Chiếc xuồng câu tôm
thắp đèn tán chai leo lét, mờ ẩn trong đám lá dừa” (t. 34).
Không
những sông nước miền Nam khác hẳn Bắc và Trung, mà cả tên gọi sự vật cũng không
giống: rạch, xuồng, dừa nước, đám lác, đám sậy, cầu khỉ, đèn tán chai leo lét…
Nếu Trần Dần, Phạm Thị Hoài là những nhà văn Bắc giàu tiếng Bắc nhất, thì Hồ
Trường An là nhà văn Nam giàu tiếng Nam nhất. Giả sử chúng ta ghép hai kho
tiếng lại với nhau, thì tiếng Việt giàu thêm bao nhiêu? Vậy mà có thời, một nhà
văn Bắc đã ra lệnh: không được viết cơm chiên, phải viết cơm rang. Sự “chuẩn
hoá” tiếng nói, chỉ là sự ngông cuồng và ngu độn.
Tóm
lại, Lớp sóng phế hưng thể hiện toàn bộ giá trị và phong cách văn chương Hồ
Trường An: Với ngôn ngữ miền Nam, Hồ Trường An đã xây dựng được một thế giới
khác, một nước khác trong lòng nước Việt.
Chủ
trương hoà hợp giống người.
Đặc
điểm thứ hai của Hồ Trường An là chủ trương hoà hợp những giống người.
Người
Việt và người Hoa, trong Tạp chủng. Người Việt và người Pháp trong Hợp Lưu, Còn
tuôn mạch đời, v.v.
Tiểu
thuyết Hợp Lưu ra đời trước, được đăng từng kỳ trên tạp chí Văn của Mai Thảo ở
Cali, trước khi in thành sách năm 1987, mô tả đời sống của vài cặp vợ chồng Pháp
Việt, ở Troyes, họ là những người Việt trung lưu, thành thị, có học, hội nhập
dễ dàng với đời sống Pháp, Hợp Lưu mang tính chất tạp chủng, không những tạp
chủng Pháp-Việt mà còn tạp chủng giới tính.
Mai
Thảo luôn luôn bảo vệ tác phẩm và nhà văn, nên trong thời điểm cộng đồng di tản
còn khá hủ lậu, nhắm mắt kết án đồng tính là bệnh hoạn cần “chữa” cho khỏi hoặc
khai trừ; nhưng Mai Thảo vẫn cho đăng trên tạp chí Văn và dĩ nhiên Hồ Trường An
bị kết án nặng nề, nhận được bao nhiêu lời sỉ nhục, nên khi in thành sách nhiều
năm sau, ông đã phải tự kiểm duyệt.
Quan
niệm hoà hợp giống người hay tạp chủng Hồ Trường An đã chịu ảnh hưởng từ Bình
Nguyên Lộc. Tạp chủng đi đôi di dân trong cuộc Nam tiến của dân tộc ta. Gia
đình thằng Cộc trong Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc, đổ bộ xuống vùng đất Ô Heo,
ba đời nhà nó đã phải đánh nhau với thiên nhiên, chiến thắng rừng tràm mọc dọc
bờ nước để làm ra đất. Và đó chính là gốc gác nguồn cội của dân tộc ta ở phiá
Nam, dựng nên từ đất và nước.
Tạp
chủng bắt nguồn từ sự di dân, như Bếp Luông từ Cái Răng (Cần Thơ) vì trốn nợ,
cùng vợ bơi xuồng ba lá theo con kinh Bảy Ngàn xuống tận vùng Hóc Hoả (Rạch
Giá), trong Lớp sóng phế hưng. Như gia đình bốn chị em Phương Tần, Lệ Phỉ, Diễm
Lăng, Mỹ Cần (giống Bốn cô con gái Dr March của Alcott) từ quê Vĩnh Long lên
ngã ba Trung Lương (Mỹ Tho) lập nghiệp, trong Phấn Bướm. Những người di dân này
khai thác vùng đất khỉ ho cò gáy, hoặc nửa quê nửa tỉnh, xây dựng nên toàn bộ
miền Nam, và khi di dân họ gặp vấn đề tạp chủng, hay họ phải tạp chủng. Hồ Trường
An đã tổng hợp tài tình tình hai vấn đề này trong tập truyện ngắn Tạp chủng
(1991) và tiểu thuyết Còn tuôn mạch đời (1990). Và những tiểu thuyết khác của
ông mở rộng hai chủ đề này để đi vào các ngõ ngách khác của cuộc sống.
Tạp
Chủng viết về những con người “bèo bọt” sống trên trục ngang: Rừng Sát (Cần
Giờ) -Trung Lương (Mỹ Tho) – Vĩnh Long – Hóc Hoả (Rạch Giá). Ông bà Nhưn Giáp
(trong truyện Bèo Bọt) sau một đời thương hồ trên khắp nẻo sông ngòi, tuổi già
mệt mỏi, “Chồn cáo có hang chim có tổ/Con người không có chỗ gối đầu” muốn tìm
một chỗ để trụ, để gối đầu, nhưng không nơi nào có thể trụ được, kể cả quê cũ
là làng Đạo Thạnh ở Ngã Ba Trung Lương. Họ đành tiếp tục cuộc sống không nhà,
chấp nhận lấy tâm làm quê hương. Bèo bọt là một truyện ngắn sâu sắc, âm thầm
bộc lộ triết lý đạo Phật một cách tế nhị và cay đắng.
Chị
Lìn trong truyện Tạp Chủng là một trong những nhân vật thành công nhất của Hồ
Trường An, tương tự như bà Điếc của Nguyễn Thị Thụy Vũ hay Người điên dưới chân
sườn Tam Đảo của Mai Thảo, là những nhân vật ta không thể quên được một khi đã
đọc.
Lìn
“mới sinh ra đã ngu khờ câm đíếc” nhưng “thần sắc rạng rỡ như gương”, Lìn lai
Hoa-Việt, không biết đọc không biết viết, Lìn là sản phẩm “tồi tệ” nhất của cái
xã hội phi nhân và kỳ thị: Tàu không lấy Việt, Việt không lấy Tàu.
Lìn
hoàn toàn sống theo bản năng, cái bản năng ấy không biết phân biệt xấu tốt,
theo nghĩa Luân Lý Giáo Khoa Thư. Lìn sống theo đòi hỏi của xác thịt và sự dẫn
dắt của lương tri, hai đặc phẩm của riêng chị, không cần giáo huấn và cũng
không thể giáo dục. Rồi Lìn chửa hoang. Lìn chết vì vượt cạn. Ai nấy thở phào.
Số phận Lìn không khác gì số phận Vá, con chó ghẻ, bị “thuỷ táng”: “Nó không
dẫy dụa gì hết, chỉ ngoắc đuôi. “Ùm” một tiếng, con chó và cái bị đựng cục đá
quăng vào nước. Sóng lấp xấp tràn tới xoá mọi dấu vết. Hình ảnh ghê tởm đã bị
con sông chôn vùi… Sau buổi thuỷ táng đó tôi bị trúng gió”. Tác phẩm chống lại
mọi sự kỳ thị vô nhân, bằng một giọng văn nhẹ nhàng giản dị, ngây thơ gần như
vô tâm, vô cảm, khiến sự tàn khốc càng thêm tàn khốc, sự độc ác càng độc ác
thêm.
Tạp
chủng là một trong những tập truyện ngắn hay nhất mà văn học hải ngoại có được
và đưa Hồ Trường An lên địa vị những nhà văn nhân bản hàng đầu.
Còn
tuôn mạch đời.
Tiểu
thuyết Còn tuôn mạch đời viết về đời sống của những người trong Foyer
Sonacotra, ở Troyes, một trại tạm cư dành cho những người có quốc tịch Pháp
“hồi hương”. Tác phẩm đạt mức độ tạp chủng trong một chiều hướng sâu xa khác:
bởi những nhân vật đã có sẵn sự tạp chủng trong mình: hoặc họ có thân nhân
người Pháp, hoặc họ là “me Tây” thời trước, hoặc họ là con lai, tất cả thuộc
thành phần bị treo “tòn teng giữa hai dân tộc”. Ngòi bút Hồ Trường An vẫy vùng
như cá gặp nước, tự nhiên, duyên dáng, trào phúng, chua xót, ông vẽ những chân
dung độc đáo của dì Bảy Phụng Hảo, tướng mạo giống hệt cô Bảy Phùng Há được ông
tây Rồng Xanh (Ronsin) mê như lậm bùa, vậy mà vẫn tha thiết nhớ người chồng đã
khuất, xưa làm thợ nguội ở hãng Ba Son. Thằng Sơn ghét độc chuyện đờn bà trang
điểm, vậy mà khi nhìn con Marie-Hélène son phấn, nó lại thấy ngồ ngộ, tự hỏi:
“Chắc mình mê lậm mê lú con đầm này rồi”. Con Tú Vân cứ tưởng mình sành sỏi, dụ
khị thằng lỏi Jean-Philippe hôn mình, chừng nó hôn thiệt, mới hay “thằng hổ bôn
này thạo việc quá chớ”. Marguerite Thọ, lai tây, ở Sài Gòn không ai thèm ngó,
sang đây, đi xi-nê coi phim Tây với Mông Đĩ (Mondy), tây tà thứ thiệt đẹp trai
quá cỡ, lại tha thiết nhớ đến những buổi coi phim Ấn Độ bên nhà, có những “bà
già trầu mê man theo dõi tình tiết cuốn phim, miệng chóc chách nhai trầu không
ngớt, thỉnh thoảng nâng chiếc khăn rằn vắt ở vai lên lau nước cốt ở bên mép,
đôi mắt ướt nhèm xúc động, còn thím mặc áo bà ba vừa coi hát vừa xi con đái
trong rạp”. Sự nhớ nhà của Marguerite Thọ thiệt tình “ác dữ”. Và đó là chân giá
trị của tác phẩm. Hồ Trường An được người Việt hải ngoại đọc “bắt ghiền” bởi
ông đã đụng được tới đáy sâu của tâm hồn họ.
Giai
thoại hồng và Theo chân những tiếng hát.
Không
chỉ là nhà văn, Hồ Trường An còn là nhà biên khảo. Nhưng sự biên khảo của ông
thông thoáng, lối Vương Hồng Sển, tức là rất xa tính học thuật mà gần tính giai
thoại, tuy vậy không phải là thiếu chính xác. Hai tác phẩm chính đã vẽ nên sinh
hoạt văn học và sinh hoạt âm nhạc, kịch trường, điện ảnh của miền Nam là Giai
thoại hồng (1989) và Theo chân những tiếng hát (1998).
Giai
thoại hồng (1989) tiêu biểu cho thể loại chân dung văn học. Tác phẩm dẫn người
đọc trở lại một quá khứ vừa gần mà cũng đã rất xa, với 31 tên tuổi, từ Phương
Đài, Mộng Tuyết, Tuệ Mai, Linh Bảo, Nguyễn Thị Vinh, Minh Đức Hoài Trinh, thuộc
thế hệ trước đến Tuý Hồng, Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nhã Ca,
thuộc thế hệ sau. Là ký giả, là cháu nữ sĩ Phương Đài, là em nhà văn Thụy Vũ,
Hồ Trường An đã có dịp tiếp xúc rộng trong giới văn nghệ. Với trí nhớ đặc biệt,
ông đã làm sống lại, những khuôn mặt, không chỉ văn chương, mà cả con người
trong đời sống hàng ngày, đặt họ vào khung cảnh chung của sinh văn hoạt văn học
miền Nam 1954-1975, bằng cái nhìn bình đẳng và nhân hậu. Như kính chiếu hậu vào
cuộc đời họ, ông giúp những người nghiên cứu văn học có những chi tiết đáng tin
cậy về đời tư, về tác phẩm, về cách sáng tác, về sắc diện và phong cách của 31
nhà văn mà ông đề cập. Bảy năm sau, ông cho ra đời tác phẩm Sàn gỗ màn nhung
(1996), rồi Theo chân những tiếng hát (1998), và ba tập Chân dung những tiếng
hát (2000-2003). Sau khi bị tai biến mạch máu não, ông còn viết thêm một cuốn
nữa về đề tài này là Ảnh trường kịch giới (2012).
Tất
cả những sách này gộp lại là một bộ toàn thư về thế giới kịch trường và điện
ảnh, vẫn trong chiều hướng kể lại sinh hoạt văn nghệ và vẽ chân dung nghệ sĩ.
Tuy Hồ Trường An khiêm nhường nói rằng đây không phải là sách biên khảo, nhưng
cố gắng của ông thật đáng khâm phục. Những hoạt cảnh và chân dung nghệ sĩ ông
viết trong sách, vẫn với trí nhớ phi thường, khiến cho những ai viết về tài
này, không thể bỏ qua mà không tra cứu. Về phương diện này có lẽ Hồ Trường An
còn giàu hơn cả Vương Hồng Sển.
Tóm
lại, toàn bộ những sách Hồ Trường An viết về tân nhạc, kịch nghệ, điện ảnh, sẽ
góp phần dựng nền móng cho sự nghiên cứu về nghệ thuật trình diễn ở miền Nam
sau này.
Paris,
tháng 2/2020.
* Thụy Khuê.

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire