Nhà
văn Hồ Trường An (phải) và soạn giả Nguyễn Phương.
Ông tốt nghiệp Khóa 26 (1968) Trường Bộ Binh Sĩ Quan Thủ Đức. Trưởng ban Chiến
Tranh Chính Trị tại hai Chi Khu Trị Tâm và Lái Thiêu tỉnh Bình Dương từ năm
1969 tới năm 1971. Sau đó phục vụ tại Ban Thông Tin Báo Chí Quân Đoàn III và
Quân Khu 3 cho tới tháng 4/75. Hiện cư ngụ tại Troyes, Pháp.Ông
viết truyện ngắn, thơ, điểm sách, viết tạp ghi. Và sau này ông viết các bài
nhận định về kịch ảnh, tân nhạc. Hồ Trường An cộng tác với các tạp chí Bách
Khoa, Tin Văn, Tiểu Thuyết Tuần San, Minh Tinh, Sinh Hoạt Nghệ Thuật, với các
nhật báo Tranh Thủ, Tiền Tuyến...
Sự nghiệp sáng tác của Hồ Trường An khó thể nói là khiêm nhường, với 22 truyện
dài, 10 tập truyện, 16 bút khảo, ký sự, bút ký và 3 tập thơ được xuất bản, đó
là chưa kể những bài viết rời ông cộng tác với các tạp chí trong nước và hải
ngoại suốt gần 50 năm cầm bút.
Lãng mạn miệt vườn.
Văn
phong Hồ Trường An gần gũi với những cây bút miền nam nổi tiếng từ Hồ Biểu
Chánh tới Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc và cả Lê Xuyên. Người đọc ông có thể tìm
thấy cái hương vị miền Nam đậm đặc trong từng hơi thở của nhân vật nhưng người
đọc cũng dễ dàng phát hiện ra cái sâu thẳm hơn trong Hồ Trường An bởi tính chất
lãng mạn của một ngòi bút bật ra quá nhiều tỉ mẩn của một cô con gái dính liền
với thôn dã.
Là một người đồng tính, Hồ Trường An không hề có ý định che giấu giới tính của mình; văn chương của ông như sợi lụa mỏng manh nhưng dai dẳng cột chặt người đọc từ trang này sang trang khác qua những lời kể dông dài nhưng quyến rũ về các câu chuyện của một thời xa xưa, lúc đồng bằng sông Cửu trong giai đoạn hình thành.
Hồ Trường An làm cho nhiều người đọc say sưa bởi tính chi li tỉ mẩn của ông qua
từng trang sách. Tả về người đàn bà hay bất cứ điều gì có liên quan đến công
dung ngôn hạnh là chừng như rồng gặp nước, ông không biết dừng và chính tính
chất đặc biệt này đã giúp ông đứng riêng một cõi.
“Cô
Hai Phụng vóc mình dong dỏng, nước da ngăm đen nhưng tóc cô mềm và nhuyễn, dợn
sóng trước trán, mắt cô ướt rượt, nụ cười cô có duyên phô hàm răng trắng muốt
như hột dưa leo. Cô mặn mòi xinh đẹp lắm. Hễ cô liếc tên trai làng nào thì tên
đó bủn rủn mới có một, nhưng khi cô cười thì hắn bàng hoàng tới mười.
Ý
là cô chỉ mới biết đọc biết viết, cô lại không biết đọc tiểu thuyết, không mấy
khi được coi hát bội, hát cải lương, nhưng cách nói chuyện của cô vừa nhõng
nhẽo vừa mơn trớn làm tự ái đờn ông được vuốt ve. Rốt cuộc hắn sướng rơn cả
người, hồn phách tâm trí hắn bị cô hớp hết vô cái miệng xạo đía của cô.”
Khi
viết về đồng quê hay những kỷ niệm trong gia đình, văn phong Hồ Trường An lại
rẽ qua một hướng khác, thâm trầm và sâu lắng hẳn. Hồ Trường An làm người đọc
cảm nhận được hương vị quê hương một cách rõ rệt như đang nhấm nháp và sờ mó
chúng. Có lẽ đây là thế mạnh của ông, biết dằn một chút muối trong nồi canh quê
để người thưởng thức tự cảm nhận cái đậm đà mà họ đã đánh rơi trên suốt quãng đường
gió bụi.
“Ngoại
tôi không nấu canh mồng tơi suông đâu. Bà cũng hái rất nhiều lá mồng tơi, rồi
cùng với rau tập tàng, rau bồ ngót, rau cải trời, rau dịu để nấu canh tôm.
Những con tôm he được ngắt đầu, bóc vỏ, bỏ đuôi, rút gân máu, đem quết nhuyễn
và tra thêm tiêu, hành lá, nước mắm... rồi vo từng cục tròn tròn, dẹp dẹp thả
vào nồi nước sôi, trước khi bỏ rau mồng tơi và rau khác vào. Canh rau do đó,
thật ngọt, được múc vào những chiếc tô sành sản xuất từ Lái Thiêu, với một nét
họa phóng bút bằng tay.
Chúng
tôi nghỉ học. Tìm được tập giấy trắng và ngòi viết lá tre cũ, tôi hái trái mồng
tơi pha chế thành mực tím chép những bài hát nổi tiếng đương thời. Trên nền
giấy ố vàng, những hàng chữ gò gẫm, sắc nét và lối trình bày sạch sẽ cũng làm
cho tập giấy có vẻ ngoạn mục riêng.
Rồi
chúng tôi bỏ Ngã Ba Trung Lương, về Vĩnh Long sống nhờ ông nội chúng tôi. Chung
quanh nhà, chúng tôi rào giậu mồng tơi, trồng bồ ngót, cao kỷ, bạc hà, cây lá
giấm. Mâm cơm quê nội có bát dĩa sang trọng, nhưng thức ăn rất đạm bạc.
Việt
Minh đã sung công hết ruộng đất của ông nội tôi. Sản nghiệp của ông dần dần
khánh kiệt. Với tài chế biến khéo léo, má tôi làm những món đạm bạc nhưng ngon
lành và tinh khiết: canh rau nấu bột ngọt, cá cơm kho tương ăn với dưa leo và
rau thơm, cá linh, cá rô kho sả ớt, con ruốc chấy tóp mỡ... Giậu mồng tơi quê
nội đã giúp cho mẹ con tôi chịu đựng cái nghèo trong cuộc chiến tranh giữa Pháp
và Việt Minh suốt chín năm.”
Viết phê bình, tiểu luận
Hồ
Trường An không những sáng tác truyện dài, truyện ngắn hay tiểu thuyết…mà ông
còn phê bình, viết tiểu luận văn chương và tiểu sử của những ngòi bút nữ nhân
mà ông mến mộ. Hãy đọc một đoạn ông viết về Hồ Biểu Chánh:
“Cái ngôn ngữ dí dỏm, chót chét trong văn phong của Hồ Biểu Chánh thường làm
cho chúng ta bật cười một cách thống khoái, dù cụ có cằn nhằn chì chiết nhân
tình thế thái đi nữa. Chúng ta cảm nhận ngay sự thành khẩn của cụ. Chúng ta vụt
cảm thấy tận đáy sâu của ngôn ngữ cụ, tận cái thiết tha của tình ý cụ có một
hấp lực kỳ đặc, không dễ gì tìm gặp ở bút pháp kẻ khác….”
Nói về Bình Nguyên Lộc Hồ Trường An thân tình hơn, do đó có phần âu yếm:
“Văn
chương Bình Nguyên lộc nồng nàn tình yêu quê cha đất mẹ. Đôi khi cái nồng nàn
đó lên tới mức độ sôi nổi nên anh không làm chủ được ngòi bút của mình. Do đó
văn chương ấy trở nên bộc tuệch, trống trải, cường điệu, bộc lộ cá tính Nam Kỳ.
Cái
bộc lộ ấy chưa chắc là cái khuyết điểm hay nhược điểm gì. Trái lại, nó làm cho
sự diễn đạt tình ý của anh thêm minh bạch, thêm tươi rói và cực kỳ quyến rũ.
Anh để mặc cho tâm sự mình phơi bày hở hang, trần truồng, không ngụy trang,
không úp mở. Độc giả đa số không cần ở văn chương anh cái mánh khóe tiềm ẩn hay
cái phong niêm tinh xảo để làm cho sự diễn tả được hàm súc và ý nhị. Họ chỉ cần
tấm lòng tươi son bền sắt của anh đối với quê hương của anh.”
Còn
Sơn Nam thì sao, hãy nghe ông phê bình mà như một lời trần tình cho người bạn
nối khố:
“Quan
niệm về nghệ thuật của Sơn Nam vẫn là quan niệm vừa sâu sắc vừa dí dỏm như quan
niệm của Võ Phiến. Anh không phải là nhà văn tư tưởng. Nhưng văn chương anh rất
cận nhân tình, gây lý thú bất ngờ cho người đọc qua những lời khề khà của một
bợm nhậu hào sảng trong lúc rượu vào lời ra. Nhưng coi chừng đó, những lời theo
hơi men tuôn ra từ cửa miệng anh thường làm chúng ta nghĩ ngợi.”
Lê
Xuyên thì Hồ Trường An tỏ ra dè sẻn hơn khi viết:
“Lê
Xuyên không viết văn dài dòng: không cần tả cảnh, tả người, tả vật, tả tâm
trạng, tức là không tả những cái mà giới bình dân cho là lòng vòng không hợp
với khiếu thưởng ngoạn của lớp độc giả với lòng dạ rổng rang, suông thẳng như
ống nứa ống tre. Anh thích kể chuyện, ưa cho các nhân vật của mình chuyện trò
vòng vo Tam Quốc, cằn nhằn dai dẳng, cà khịa rỉ rả, cãi lẫy tưng bừng, có khi
chửi bới huyên náo. Anh không cần viết văn đâu.”
Hồ
Trường An nói về những cây viết này:
“Anh
Bình Nguyên Lộc thì ảnh ham đào sâu vào tâm trạng, tâm lý tâm linh của mình,
tới khi đụng tới đồng tính luyến ái thì ảnh không biết. Ông Sơn Nam thì chỉ viết
phong tục xã hội miệt vườn thì, ảnh không cần viết tâm lý của nhân vật ra sao.
Lê Xuyên cũng vậy.”
Mãn
nguyện với giới tính
Mặc
dù được nhiều người công nhận ngòi viết Hồ Trường An tập trung vào đồng quê và
những mẩu
chuyện
trữ tình lãng mạn của miệt vườn, nơi những chàng trai cô gái chân chất tỏ bày
tình cảm của mình hồn nhiên như cọng lúa….thế nhưng phía sau cái mềm mại ấy là
những bùng vỡ của tâm trạng, của giới tính, của khác biệt đôi khi khó thể phân
bày.
Mặc
dù cuồn cuộn và hừng hực như nham thạch, nhưng tâm trạng ấy phải bị đè xuống,
dấu đi chỉ còn lại chút dư âm của cuộc tình đồng tính. Hồ Trường An kể về tác
phẩm “Hợp Lưu” của mình, tác phẩm hiếm hoi viết hẳn về đồng tính luyến ái của
ông:
“Người
đầu tiên mà viết về đồng tính luyến ái là một người bạn của tôi tên là Đỗ Quế
Lâm viết cuốn “Vết hằn rướm máu” nhưng cũng nói tới một chút thôi.
Nguyễn
Văn Trọng viết: “L’Enfer Rouge et mon amour” tức là “Hỏa ngục đỏ và người tình
của tôi” sáng tác bằng tiếng Pháp rồi tự dịch ra tiếng Việt nhưng mà nói cũng
qua loa vậy thôi không tả những cuộc làm tình tỉ mỉ được.
Anh
Thảo trong lúc làm chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ báo Văn bị người ta chửi dữ lắm.
Những cú điện thoại, thơ rơi… nhưng tôi chỉ viết những khía cạnh tổng quát của
một cuộc làm tình chứ đâu tả cái sex ra làm sao… không có! Chỉ tả nàng và chàng
khỏa thân với nhau tạo ra những cảnh đẹp gặp nhau giữa hoàng hôn, hay dưới ánh
trăng thanh rồi chỉ nói sơ qua hai người trần truồng với nhau cùng với hình ảnh
thơ mộng vô trong đó chứ không phải để trắng trợn tục tĩu đâu.”
Nhà
thơ.
Hồ
Trường An còn có hai tập thơ, và khi làm thơ, Hồ Trường An chắt lọc từng chữ
từng ý. Cũng mặn mòi và thấm đẫm chất quê nhưng trong thơ Hồ Trường An người
đọc nhận ra một mảng cảm nhận khác.
Trong
bài thơ “Vườn cau quê ngoại” tác giả phải ky cóp kỷ niệm nhiều lắm, phải thương
nhớ mảnh đất cố cựu một cách sâu nặng lắm mới cho chúng ta những cụm từ tuyệt
đẹp mà chỉ người miệt vườn mới thấm, mới chia sẻ được nỗi thương nhớ quê nhà
qua tàu cau bẹ chuối…
Đêm
qua vườn ngoại tàu cau rụng
Vàng
ố loang từng bẹ lá khô
Mo
xám quắt queo bao cữ nắng
Hồn
xanh phai lạt giữa mơ hồ.
Thềm
vắng, xế nay ngồi vót chổi
Ngoại
đưa cần mẫn chiếc dao dâu
Chừng
nghe tiếng chổi khua sàn sạt
Quét
rụng niềm vui tự thuở đầu.
Sống
lá từng tàu cau chuốt mỏng
Dẻo
mềm lạt buộc chổi tinh khôi
Ngoại
từ xanh tóc nay đầu bạc
Vót
chổi bao năm một chỗ ngồi.
Đêm
qua bão rớt, bông cau rụng
Mai
mốt buồng cau thưa trái non
Vững
mạnh nọc trầu bên mé nước
Dài
giây, tủa rễ, lá xanh rờn.
Nhà
văn Hồ Trường An.
Từ
hình ảnh của cây cối thân yêu sau vườn, Hồ Trường An chừng như muốn bật
khóc khi gió chiều se lạnh, cái lạnh quê nhà tràn tới trong khi tác giả tha
hương đã làm hồn vía của ông trở thành lạc lỏng cô đơn biết chừng nào…
Nắng tắt, hiên ngoài se sắt lạnh
Gió
chiều quét sạch lớp mây giăng
Ngoại
đưa đẩy chổi trên sân vắng
Quét
lá, làm sao quét ánh trăng?
Làm
sao quét nỗi buồn giăng mắc?
Đèn
lửa đêm dài chong hắt hiu
Cau
sấy ba canh, than cháy đỏ
Làm
sao hong ráo lệ bao chiều?
Vườn
cau quê ngoại thời niên thiếu
Ươm
giữa hồn thơ nét đẹp buồn
Ký
ức tháng ngày rung bóng lá
Thơm
hương cau tỏa dưới trăng sương.
Vườn cau hòa tiếng tim châu thổ
Dựng
mộ bia sau mái miếu đường
Có
bóng ma người bao thuở trước
Suốt
đời bám riết đất quê hương.
Hồ Trường An có thể chưa trở thành một cây viết ngang ngửa với Sơn Nam, Bình
Nguyên Lộc, nhưng chắc chắn rằng ông đứng hẳn ra một cõi với văn phong và sự
trăn trở dữ dội của một ngòi viết đồng tính gần như duy nhất của Việt Nam.
Trong
suốt 50 năm cầm bút, ông luôn hãnh diện nhận mình là một người đồng tính luyến
ái, vừa hãnh diện vừa ngại ngùng và đôi khi rụt rè, nhưng bất cứ khi nào nói
đến bốn chữ “đồng tính luyến ái” thì chừng như giọng của ông cất cao hơn, hoàn
toàn mãn nguyện đối với những gì thượng đế ban cho mình.
Đây
cũng là một điểm đặc sắc nữa của Hồ Trường An, một người cầm bút hiếm hoi trong
cộng đồng người đồng tính.
* Mặc Lâm, Phóng Viên RFA.

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire