Trong
đời sống, mất mát nhiều hơn là thu nhận. Cây lúa sẽ không trổ bông, nếu trước
đó nó không chết đi. Hãy sinh động một cách không mệt mỏi, nhìn về tương lai và
nuôi dưỡng bằng những nguồn dự trữ sống chất chứa từ trí nhớ và sự lãng quên.
(It is more important in life to lose than to acquire. The grain will not
sprout unless first it dies. One must remain untiringly alive, looking into the
future and feeding on the living reserves which memory and oblivion together
accumulate. - BORIS PASTERNAK “An Essay in Autobiography”*) Tôi là đứa con thứ
mười hai trong một gia đình mười ba anh chị em. Mười ba người con trong một gia
đình, con số ấy đâu có nhỏ, phải không? Nhưng biết làm sao! Có ai trên đời này
được quyền chọn nơi chốn, gia đình hay dân tộc để chào đời đâu. Tóm lại, tôi là
một người Việt Nam ra đời ở miền Trung, trong thời chiến, dưới một mái nhà
“đông dân” và “kinh tế gia cảnh” đang hồi sa sút. Phải nói là nhà tôi đông người
quá, đông đến nỗi tôi không thể nào nhớ hết tất cả những anh chị em của tôi.
Cha tôi, má tôi, đôi ba ông anh, đôi ba bà chị, một vài cô em… chỉ chừng đó người
thôi cũng đủ nằm chật trong ký ức tôi rồi. Vậy thì, có lẽ, tôi chỉ xin nói trước
một đôi điều về đôi ba người trong gia đình tôi thôi. Tôi nghĩ rằng khi vẽ lại
chân dung những người thân thích ruột thịt của mình, tôi cũng đã tự vẽ phần nào
chân dung mình. Tuy có hơi nhợt nhạt, nhưng chắc là sẽ không xa sự thực lắm
đâu! Cha tôi, tất nhiên đó là người mà tôi muốn nhắc đến trước nhất trong bản tự
truyện này. Ông cao lớn, quắc thước, vạm vỡ. Ngay giờ đây, khi hồi tưởng lại
hình ảnh của ông, điều mà tôi có thể nhìn thấy lại trước nhất và rõ nhất là đôi
mắt của ông. Đôi mắt ấy đầy thần lực, hơi lạnh và có một vẻ gì như tàn nhẫn.
Khi nhìn ai, đôi mắt kia như phát ra một mệnh lệnh buộc họ phải phục tùng. Rất
nhiều màu nâu đen, rất ít lòng trắng, đôi mắt ấy khá gần với loài hổ báo. Cũng
có khi tôi tưởng đôi mắt ấy là con dao cau phạt ngang, có thể cắt đứt cổ tôi
như chơi. Tôi rất sợ cha tôi. Và tôi không biết rõ lòng mình là có bao giờ tôi
yêu ông không. Má tôi thường nói cha tôi là một con sâu rượu. Quả thật, ông uống
như hũ chìm và không bao giờ tôi thấy ông say. “Tao mà say rượu à, rượu say tao
thì có!” Cha tôi nhiều lần nói như vậy. Mỗi ngày bốn bận, cha tôi uống rượu
theo chu kỳ “sáng - trưa - chiều - tối”. Sáng uống theo lối sáng, chiều uống
theo kiểu chiều. Sáng đánh răng súc miệng, uống ít thôi. Tối cần giấc ngủ, uống
khá khá được. Trưa, chiều thì tùy hứng. Má tôi nói rượu là độc dược. Cha tôi
nói rượu là thuốc an thần. Cha tôi tích trữ rượu. Má tôi giấu rượu. Cha tôi ít
nói khi đã uống nhiều. Và má tôi không phải là loại đàn bà lắm lời. Nói chung,
gia đình tôi đông, nhưng buồn và lạnh. Chúng tôi cử động, ăn uống, đi lại, học
hành, trò chuyện như những người khách trọ trong một căn nhà nấu cơm tháng. Có
một thời gian, tuy hơi bất ngờ, nhưng mà cũng ngắn thôi, tôi thấy cha tôi không
uống rượu nữa. “Sáng - trưa - chiều - tối” ông chỉ uống trà. Cái thói quen mà
ông không thay đổi, đó là bao giờ cũng thức dậy sớm hơn tất cả mọi người trong
nhà. Ông nấu nước trong một chiếc ấm màu đen quánh, pha trà trong một bình đất
nung màu đỏ gạch cua bóng lưỡng, và uống trong một cái chén nhỏ cũng bằng đất
nung da màu lông thỏ đỏ. Cái chén ấy ông trang trọng gọi nó là Thố Hào Trản.
Cha tôi rất quý cái chén này. Có lúc tôi nghĩ là ông quý nó còn hơn đứa con của
ông là tôi nữa. Ông thường đem khoe với mấy người bạn của ông cái chén đất và
nói rằng nó xưa lắm, “bảy trăm năm tuổi đấy!”. Nếu đời sống con người chỉ kéo
dài có năm mươi năm thôi thì cái chén này đã áp vào môi của mười bốn đời người.
Nó “chạm” đến bảy thế kỷ của nhân loại. Có lần tôi hỏi ông tại sao cha biết cái
chén này xưa tới bảy trăm năm. Ông nói chính một ông bạn làm quản thủ công nhựt
ở viện bảo tàng vườn Bách Thảo Sài Gòn nói như vậy. “Cha à! Ông ta căn cứ vào
đâu mà nói như vậy?” “Tao không biết, nhưng tao tin ông ấy. Ông ta là một nhà
chơi đồ cổ lừng danh. Lời ông ông ấy rất có giá trị.” “Nhưng tại sao bảy trăm
năm thì quý?” “Cái gì trên cõi đời này mà lâu đời đều quý cả.” Tôi biết cha tôi
trả lời lấy lệ. Và tôi vẫn không tin là hễ cái gì lâu đời cũng đều quý cả.
Nhưng đột nhiên, cũng bất ngờ như lần chừa rượu, ông bỏ trà không một lời báo
hiệu. Tôi nhìn thấy cái chén đất nung, da màu lông thỏ đỏ, nằm lăn lóc dưới gầm
tủ; bình trà bỏ ở góc nhà; còn cái ấm đất màu đen quánh nằm ở chái hiên. Ông uống
rượu trở lại. Thời gian sau đó rất tình cờ có lần tôi nghe ông nói “mấy cái thằng
ăn không ngồi rồi, dư tiền dư của, bày đặt chén Tiểu Tống với Đại Tống, Thán
Hào Trổ với Thố Hào Trản!” Theo ông, rượu tốt hơn trà, và cái quan trọng chính
là “nội dung” chứ không phải là cái “hình thức”. Chén nào cũng được, rượu là đủ.
Tôi không giống cha tôi về mặt này. Tôi uống rượu nhưng không mê rượu.
Links Nguyễn Xuân Hoàng:
Má
tôi là một phụ nữ có cái chiều cao “hơi cao” so với chiều cao trung bình của một
phụ nữ Việt Nam. Da trắng, tóc đốm màu bạch kim, mũi cao nhỏ, mắt xanh hơi nghịch
ngợm, cái vẻ bề ngoài của bà nổi bật giữa những người phụ nữ Việt Nam. Những buổi
đi học về, tôi thường chui xuống bếp với má tôi và đôi khi cả bà chị kế tôi
cũng xuống bếp theo. Thỉnh thoảng, bà kể cho chúng tôi nghe về những mảnh đời của
cha tôi. Chấp vá lại những câu chuyện hở đầu hụt đuôi của bà, tôi hình dung ra
cuộc đời của ông, bằng cách thêm mắm dặm muối cho nó liền lạc. Là thủy thủ của
những thương thuyền, cha tôi trôi nổi từ hải cảng này sang thương cảng khác.
Nay Hồng Kông mai Tân Gia Ba, mốt Marseille, bữa kia Amsterdam… ông như một con
cá mập giang hồ vẫy vùng giữa trời và nước. Những hình xâm xanh lè còn đầy trên
chiếc ngực vạm vỡ và lông lá của ông, cùng với dòng chữ lăn quăn trên hai cánh
tay ông, làm chứng cho những lời nói của má tôi. Trước khi lấy bà, cha tôi đã
có một đời vợ. Mẹ trước tôi là một phụ nữ Pháp, tên Suzanne, sinh trưởng ở
Marseille, thành phố mà đã có thời cha tôi tưởng chừng sẽ chôn chân vĩnh viễn lại
đó như quê hương thứ hai. Nhưng cũng theo lời má tôi kể, ông phải bỏ đi vì một
chuyện “lỡ tay” của ông. Một hôm ông bước vào quán rượu quen, gọi thức uống như
thường lệ, nhưng chờ mãi vẫn không thấy người bồi mang lại, trong khi đó thì
tên chủ quán người Pháp cứ đi ra đi vào ngó ông khinh khỉnh. Ông sốt ruột, nắm
cổ áo hắn hỏi tại sao. Hắn nói ở đây không có chỗ cho một dân “Mít”. Ông giận
điên lên, quật tên chủ quán xuống sàn nhà và tấn công hắn bằng một thế võ cực kỳ
hiểm độc. Tên chủ quán chết không kịp lời trối trăn. Để trốn tránh pháp luật,
ông dắt bà Suzanne chạy lên Paris. Paris đâu phải đất sống của ông. Ông quẩy
đuôi trở lại sông hồ, bỏ lại thành phố ánh sáng lộng lẫy kia người đàn bà với một
giọt máu của ông. Sau này, vẫn theo lời kể của má tôi, có lần bà Suzanne gửi
thư cho cha tôi nói về giọt máu rơi của ông nay đã là một thiếu nữ tên Marthe.
Má tôi muốn tự tay biên thư cho bà Suzanne, nhưng cha tôi không bằng lòng. Ông
nói đó là chuyện của ông, má tôi không được xen vào. Chị Marthe của tôi có thời
nổi tiếng là một trong số những người mẫu lừng danh của Paris. Người ta gọi chị
là Marthe Nuyen (lẽ ra phải viết là Marthe Nguyễn mới đúng, nhưng chuyện này
đâu có ăn nhằm gì). Tôi biết chi tiết này vì lúc hơi lớn một chút có lần tình cờ
tôi nhìn thấy trong cuốn nhật ký của bà chị kế tôi có một tấm ảnh in hình một
cô gái Pháp ăn mặc thật đẹp như một tài tử điện ảnh. Sau lưng tấm ảnh là lời đề
tặng cho cha tôi có chữ ký rất rõ là Marthe Nuyen. Nhật ký của chị nói rằng
Marthe làm nghề người mẫu. Và cha tôi biên thư phản đối bà Suzanne tại sao để
con tự do làm nghề này. Nghề người mẫu thì đâu có gì là xấu, nhưng tôi không hiểu
tại sao cha tôi nói vậy. Cho đến bây giờ, thật tình mà nói, tôi không biết gì
nhiều hơn về người chị có cùng chung với tôi một người cha này. Bỏ Paris, cha
tôi đi Hương Cảng, lại theo một số tàu buôn khác, lại giang hồ kỳ hiệp, nay
thương cảng này, mai hải cảng kia. Đó là thời gian cha tôi gặp má tôi. *** Bà
là người Trung Hoa, nhưng có dòng máu của dân Hồng Mao. Bà thường nhắc đến ông
ngoại tôi một cách kính cẩn như nhắc đến một vị thần đầy quyền lực: “Ông ngoại
con không phải là người phàm. Ổng là con nhà quý tộc chớ không phải dân giang hồ
tứ chiến như cha mày đâu.” “Má, con nhà quý tộc thì sao?” Tôi hỏi. “Dân quý tộc
không lấy con nhà thường dân.” “Vậy sao má chịu lấy cha?” “Không biết! Đừng nhiều
chuyện! Nhưng má thích tụi con ăn học đàng hoàng, hơn là lang bạt kỳ hồ.” Bà
không muốn chúng tôi giống cái thời tuổi trẻ của cha. Ước muốn của bà, sau này,
tôi thấy hình như không đạt được bao nhiêu phần trăm. Ông ngoại tôi người Bắc
Kinh, con một gia đình quyền quý có chức phận, được gởi sang Anh du học. Ông lấy
một phụ nữ người Anh và sinh ra má tôi. Không hiểu vì sao ông bỏ bà ngoại tôi ở
lại Luân Đôn, về nước chỉ mang theo cô con gái là má tôi. Nhưng rồi, ông cũng
không nuôi má tôi. Ông đem gửi bà cho một gia đình người Hoa khác ở Hương Cảng,
cung cấp ít tiền bạc và thỉnh thoảng mới đến thăm bà. Cuộc tình duyên giữa má
tôi và cha tôi ra sao, không ai trong đám con cái chúng tôi biết. Mà má tôi
cũng không bao giờ hé môi nói rõ tại sao một thiếu nữ “con nhà quan xinh đẹp thế
kia” (tôi vẫn luôn luôn nghĩ má tôi là người đàn bà đẹp nhất mà tôi đã gặp
trong đời) lại đi phải lòng một người đàn ông giang hồ như cha tôi. Dù sao khi
tôi bắt đầu nhận ra mình là đứa con của một gia đình đông đảo, tôi có thể nói
má tôi là ngưòi đàn bà tần tảo lo cho chồng cho con trong cái xã hội bình thường
của chúng ta. Quần quật suốt ngày với con cái nhà cửa, chạy ăn từng bữa, tất tả,
ngược xuôi, đắp cái này, vá cái kia, nhưng không bao giờ thấy bà hé răng kêu một
lời than thở. Về ngôn ngữ, tôi không biết nói sao cho đúng. Má tôi nói tiếng
Hoa cũng sõi như tiếng Việt. Phần tôi, tôi chỉ ăn cắp được của má tôi và cha
tôi một chút chiều cao của thân thể, nhưng tiếc thay, tôi không lấy được một tí
nào về sự chịu đựng lớn lao của bà và cái can cường dũng cảm của cha. Tuy vậy
hình như tôi là một đứa con được má nuông chiều quá đáng trong một gia đình
đông đúc. Cha tôi lạnh lùng. Anh chị em tôi dửng dưng. Nhiều khi tôi có cảm tưởng
như chẳng có sợi dây gia tộc nào ràng buộc được chúng tôi lại với nhau. Nói nào
ngay, mấy ông anh bà chị tôi không ai ghét bỏ tôi, nhưng hình như cũng không ai
yêu tôi. Riêng tôi, tôi nghĩ là mình thù ghét tất cả mọi người, trừ một người,
tất nhiên, đó là má tôi. Tôi đâu có cần gì phải làm ra vẻ lạnh lùng. Tôi có thừa
sự nhạt nhẽo để có thể chia xẻ cho tất cả mọi người. Cái phần ấm áp, tôi chỉ
dành riêng cho mỗi một mình má tôi. Thật ra, chị Thảo tôi, mà tôi có lần nói rất
giống má tôi, là người mà tôi cũng yêu lắm, gần bằng tình yêu mà tôi đã dành
cho má tôi. Nhưng giữa chị và tôi có một khoảng cách vô hình. Không bao giờ hai
chị em tôi nói với nhau quá câu thứ hai mà không cãi nhau. Đúng với cái tên mà
má tôi đã đặt cho chị, chị là một thứ cỏ hoang mọc trên một vùng đất khô cằn là
cái gia đình tàn tạ của chúng tôi. Và cái sắc đẹp man dại của chị làm cho má
tôi lo lắng buồn bã hơn là làm cho bà hãnh diện mừng vui. Chị Thảo là một kết hợp
kỳ lạ giữa cha tôi và má tôi. Chị có cái nhan sắc của má tôi và cũng có cái lạnh
lùng đôi khi tàn nhẫn của cha tôi. Năm mười bảy tuổi, chị bị một tên thanh niên
con nhà giàu trên tỉnh theo đuổi. Hắn mang tặng chị hết món này đến thứ khác,
toàn là loại đắt tiền. Lúc đầu chị cười cợt, coi như trò đùa. Về sau chị vất tất
cả những thứ ấy ra cửa. Hắn tên là T. và theo chủ quan tôi, lúc ấy hắn là một
thanh niên khá đẹp trai. Cao lớn, để ria mép, ăn mặc chải chuốt, hắn đẹp theo
kiểu một công tử. Hắn khôn khéo, tìm mọi cách để chiều lòng mọi người trong nhà
tôi. Kín đáo mang rượu đến cho cha tôi mỗi tuần, tặng vải vóc cho má tôi, đồ
chơi cho tôi và các em tôi. T. đi lòng vòng chung quanh trước khi chinh phục
tâm điểm là chị Thảo tôi. Tôi có cảm tưởng như nếu bắt hắn phải quỳ xuống để
xin chị Thảo chút tình yêu, chắc hắn cũng sẵn sàng không do dự. Nhưng chị Thảo
nhất mực không hề cảm động hay thương hại hắn nói gì đến thương yêu. Tôi không
biết là lúc đó chị có đang yêu người nào không. Hình như là không. Thật ra tôi
cũng không chắc lắm. Nhưng rõ ràng là chị vất cái thứ tình yêu đầy quy lụy, say
đắm và mù quáng của T. xuống cống rãnh. Nhiều buổi chiều, tôi thấy T. đứng bứt
rứt bên kia đường, dưới gốc cây muồng hoa vàng nghệ, ngó chăm vào nhà tôi. Hắn
đau khổ thấy rõ. Và thú thật, tôi có thương hại hắn. Tôi thấy chị Thảo tàn nhẫn.
Cha tôi không giờ uống một giọt rượu của T. Còn má tôi vào những ngày năm cùng
tháng tận, cần mua sắm ít vải may quần áo mới cho chúng tôi, vậy mà bà cũng nhất
quyết gói gửi trả tất cả vải vóc lại cho T. Một lần cha tôi cho gọi T. vào nhà,
rót rượu cho hắn uống. T. nói không biết uống rượu. Cha tôi bảo “Nam vô tửu như
kỳ vô phong” đàn ông không uống rượu như cờ không gió. Hắn nhìn cha tôi như cầu
khẩn. Cha tôi cụng ly. T. bưng lên nốc cạn một hơi. “Khá!” cha tôi nói, và rót
tiếp một ly thứ hai. Cứ thế hết ly này đến ly khác. Khi cha tôi đứng dậy, T. ói
thóc ói tháo, đầu gục xuống bàn, người mềm như sợi bún. Khi người Pháp trở lại
Việt Nam sau cuộc chiến, T. làm thông ngôn trong một tiểu đoàn Lê dương. Hắn
lúc bấy giờ nổi tiếng như một hung thần. Nhiều người đã chết dưới tay hắn. T.
háo sắc đến độ gần như vùng nào mà tiểu đoàn hắn đi qua đều có vài ba thiếu nữ
là nạn nhân của hắn. Đi bên cạnh T. luôn luôn có hai tên lính người Ma Rốc rạch
mặt. Nhiều cô gái sau khi bị hãm hiếp, còn bị tên Ma Rốc dùng dao cắt vú và đâm
nát cửa mình. Thời gian này gia đình tôi đã tan thành nhiều mảnh. Tôi theo cha
tôi chạy lên Hòn Lớn, một địa danh ở miền Trung, nằm dưới chân một ngọn núi khô
cằn, nhà cửa giống như những căn chòi cất vội vàng trên một nền đất chưa được
phẳng. Tiếng súng còn khá xa chỗ ở của cha con tôi. Lúc đó, tiểu đoàn của T.
đang bố ráp càn quét ở một vùng quê khác, nơi má tôi và chị Thảo đang ẩn náu.
Sau này má tôi kể lại: Một buổi tối T. xông vào nhà với hai tên lính Ma Rốc rạch
mặt. Hắn ung dung ngồi hút thuốc để hai tên Ma Rốc đè chị Thảo ra cột lên giường
và trói má tôi chặt vào cột nhà. Ở thôn quê hồi đó, phòng khách, phòng ngủ,
phòng ăn chỉ là một. Má tôi hãi sợ lắm. Hắn hỏi chị Thảo: “Em có bằng lòng lấy
tôi không?” “Không!” Chị trả lời. “Tại sao?” “Không tại sao gì cả.” “Chừng nào
mới chịu lấy tôi?” “Không chừng nào hết!” “Sợ tôi không?” “Tại sao phải sợ?” Chị
Thảo hỏi lại ương ngạnh. T. rút khẩu súng ngắn đeo ở thắt lưng ra, kê vào đầu
chị, nhắc lại một lần nữa. Chị Thảo không nhìn hắn. Má tôi la lên, sợ T. bắn thật.
Hắn tát vào mặt má tôi. Xong hắn xé quần áo chị Thảo ra, hãm hiếp chị ngay trước
mắt chừng ấy con người. Lúc đó, má tôi nói, hắn như một con thú say mồi. Má tôi
phát bệnh nặng sau khi chứng kiến cái cảnh tượng hãi hùng giáng xuống đời chị
Thảo. Chị Thảo, sau tai nạn khủng khiếp kia, âm thầm bỏ má tôi đi biệt vô âm
tín. Mặc dù chỉ nghe lời kể của má tôi về những hành động dã man của tên T.,
tôi không bao giờ quên hắn. Tôi sẽ nhắc hắn ở đoạn sau. Phần tôi, kể từ khi bắt
đầu va chạm cuộc sống, tôi khám phá ra rằng con người ta không thể nào sống mà
thiếu người khác được. Tôi thấy tôi là kẻ đói tình thương trong một gia đình thừa
mứa những liên hệ ruột thịt. Nói giản dị, khi tôi nhận thấy mình cần một bà chị
như kiểu chị Thảo để yêu mến thì chị ấy không còn trong gia đình nữa. Có lẽ là
chị ấy vẫn còn sống đâu đó mà không muốn trở về gia đình chăng, tôi không rõ.
Tôi giữ lại trong trái tim mình hai người anh. Một ông anh cả và một người anh
kế. Anh cả tôi bỏ nhà đi giang hồ khi mới mười bốn tuổi. Năm đó tôi chưa chào đời.
Má tôi nói anh đi Sài Gòn. Sau đó là Cà Mau, Rạch Giá, Năm Căn, Cần Thơ, Châu Đốc…
Có lần trong bữa cơm, má tôi nói anh mày ở Vạn tượng bên Lào mới gửi thư và tiền
về cho má. Lần khác trả lời câu hỏi của chị Thảo, má nói anh cả đang ở
Savanakhet. Khi cha tôi bỏ trà, liệng lăn lóc cái Thố Hào Trản, là lúc ông nói
anh đang ở đồn điền Chup bên Nam Vang, Căm bốt. Nói chung là tôi rất lơ mơ về
nơi ăn chốn ở của anh ấy. Còn mặt mũi của anh ra sao thì mãi lâu về sau tôi mới
có dịp nhìn thấy. Người anh kế tôi, tuy cao lớn, nhưng dáng người thanh nhã. Ấy
vậy mà khi vừa đậu xong cái bằng tú tài toán anh đã chọn đời lính như một nghề
nghiệp. Anh thi vào trường Võ Bị Đ à Lạt nhưng khi ra trường chuyển sang binh
chủng Không Quân. Khi Sài Gòn thất thủ, anh đang mang lon trung tá, bị bắt đi học
tập cải tạo và chết trong lao tù Cộng Sản. Anh là người lính ưa văn chương chữ
nghĩa. Anh có nhiều bạn là nhà văn nhà thơ, mặc dù anh không hề viết một truyện
ngắn hay làm một bài thơ nào. Sở dĩ tôi có biết mặt quen tên một ông nhà văn, một
bà nhà thơ nào đó, chẳng qua cũng là do ông anh tôi dắt về nhà thôi. Anh che chở
cho một nhạc sĩ trốn lính, bỏ tiền trợ cấp cho một bà ca sĩ có bầu “với ai đó”.
Anh luôn luôn hào hoa rộng lượng. Tôi thích nhìn anh trong bộ đồ bay, chữ Tổ Quốc
Không Gian trên ngực áo, chiếc nón lưỡi trai che ngang cặp kính Ray Ban rất là
thời thượng. Anh có nhiều bạn gái, phần lớn là ca sĩ phòng trà, và anh không
yêu một cô nào quá lâu. Anh nói với tôi anh không có tình yêu. Mãi đến năm Bảy
Hai, sau mùa hè đỏ lửa, trước ngày má tôi qua đời, anh báo tin cho tôi biết là
anh quyết định lấy vợ. Chị là một cô giáo dạy Vạn Vật và là người rất xa lạ với
thế giới đầy buông thả của anh. Nếu cái vẻ hào hoa phong nhã của anh là thứ vũ
khí sắc bén chinh phục các cô ca sĩ thì khi gặp chị, vũ khí ấy trở thành thừa
thãi, vô hiệu. Chị nói chị lấy anh vì tánh thật thà của anh, chứ không phải vì
“cái mã bề ngoài” của anh. Hôn nhân đã ép anh vào một khuôn khổ, không kẽ hở.
Nhà cửa, vợ con, gia đình, hàng xóm đâu ra đấy. Anh không còn luông tuồng như
xưa nữa. “Tình yêu có thật!” Anh vẫn nói với tôi như vậy khi đã có với chị một
đứa con. Tuy vậy mỗi khi có dịp về Sài Gòn, anh như một con cá gặp nước. Bạn
bè, ăn nhậu, nhẩy nhót như điên. Vũ nữ, ca sĩ, phòng trà, âm nhạc, rượu chè…
anh sống vội vã như thể ngày mai trái đất này sẽ trở thành tro bụi. Tuy vậy có
lần anh nghiêm chỉnh nói với tôi rằng không biết cuộc chiến tranh này rồi sẽ đi
về đâu. Có nhiều điều anh không hiểu. Tình hình chính trị ngày càng xấu. Các
thành phố lớn có vẻ như co rúm lại. Chiến tranh đâu chỉ có ở một mặt trận, nó nằm
cùng khắp đất nước thành thị, thôn quê, ruộng vườn rừng núi. Ngay trong hơi thở
ta, trên da thịt ta, trong thành phố hiền lành chiến tranh cũng đầy chật. Anh
nói đến những ánh đèn nhấp nháy của nhà cửa làng mạc, nói đến rừng núi sông ngòi…
những nơi anh đã bay qua. Anh nói đến những đám mây như những tảng bông trắng xốp,
đến bầu trời xanh lơ mênh mông. Anh thích nhà văn phi công người Pháp, ông
Saint Exupéry trong tác phẩm Terre Des Hommes. Và câu nói của một nhân vật
trong cuốn sách này ám ảnh anh là: “Cái mà mình đã làm, mình nói thật, không một
con vật nào làm được.” Anh muốn có cái cơ hội thử thách điều đó. Khi hay tin
anh chết trong lao tù cải tạo, nhớ đến lời nói của anh, tôi tự nghĩ không biết
anh đã chiêm nghiệm ra điều ấy hay chưa. Nghĩ cũng hay, một gia đình đông đảo đến
là như thế mà chiến tranh đến, chiến tranh đi, vô tình cướp mất của tôi lúc này
một ít ông anh, lúc kia một ít bà chị, để rồi rút cục con rắn dài mười ba khúc
chỉ còn lại có khúc đầu, khúc giữa và khúc đuôi. Tôi muốn giới thiệu về ông anh
cả tôi trước khi nói tiếp về ông anh trung tá. *** Cũng giống như cha tôi, anh
cả tôi cao lớn vạm vỡ khác thường. Anh có một khuôn mặt bạnh, chân mày rậm xếch,
mũi to, miệng rộng, cằm vuông, râu quai nón, đen sạm. Một vết sẹo dài chạy từ
khóe mắt đến mang tai. Mắt anh không lớn nhưng lì lợm và dữ dằn như mắt cha
tôi. Tóc anh xoắn chảy xuống gần phía ót một chùm mịn quăn tít. Cổ anh tròn cứng,
vai ngang, hai bàn tay to lớn phốp pháp. Trên khuôn mặt anh, người ta có thể
nhìn thấy một sự kết hợp kỳ lạ, mâu thuẫn đến tuyệt vời giữa sự cứng rắn và mềm
mại, dễ ghét và dễ thương, hận thù và thân ái… Tất cả những hình nét mà tôi có
thể vẽ được về anh chỉ là nhờ vào những tấm ảnh anh gửi về cho má tôi. Tôi còn
nhớ Tết Nguyên Đán một năm nào đó, lần đầu tiên tôi giáp mặt anh. Tôi thấy những
đường nét mà tôi đã hình dung về anh là không xa lắm. Hồi đó tôi mới bốn tuổi,
má tôi bắt tôi ra mừng anh ở xa mới về. Tôi đứng nép bên má nhìn anh, thấy anh
tưởng như một người đã quen nhau từ lâu lắm. Nhưng tôi không chào anh. Anh là
người quen trong trí tưởng tôi, hơn là người anh có mặt trong đời sống thực
tôi. Anh ở nhà không lâu và lại ra đi hồi nào tôi cũng không nhớ. Tôi chỉ biết
thời gian đó gia đình tôi tạm coi như sum họp nhất, mặc dù lạnh lẽo vẫn là khí
hậu chính của mọi người. In hình như là trong nhà ai cũng linh cảm sắp có một
điều chi đó xảy ra, như chờ đợi một cơn bão vậy. Và tôi thấy người anh cả tôi
lúc ấy rất quan tâm đến chị Thảo. Anh nói chuyện khá lâu với chị và loáng
thoáng tôi nghe nhắc đến tên T., người thanh niên vẫn theo đuổi chị. Một buổi tối,
cả nhà ngồi quanh bàn ăn, cha tôi gợi chuyện để anh cả tôi kể những biến cố đời
anh. Anh cười, hàm râu quai nón giãn ra như một ông tây con. Anh nói ít, cũng
như má tôi vậy, về nơi ăn chốn ở của anh: rừng cao su, những người phu được mộ
từ miền Bắc, những tên chủ đồn điền người Pháp hách dịch phách lối, cách tra tấn
dã man những người trốn việc mà bọn cai vẫn thường đối xử với đám phu phen… Anh
kể chậm rãi về nhiều người, nhiều việc, nhưng không ai biết chút gì thêm về đời
tư của anh. Khi anh đứng dậy thì thầm với chị Thảo điều gì đó, cha tôi tuyên bố
một câu khó hiểu: “Thằng này giống tao!” Về sau tôi biết là anh đã “làm thịt” một
tên cai phu tàn ác vì hắn hành hạ dã man một người phu đồn điền. Một năm sau,
Cách mạng Tháng Tám bùng nổ trên toàn quốc, anh tôi bị con lốc thời cuộc cuốn
theo, thổi bay từ núi rừng này sang núi rừng khác, mặt trận, chiến khu, và biệt
tích biệt tăm, cho đến sau tai nạn buồn thảm của chị Thảo tôi. Tôi quên nói là
sau khi trái lựu đạn nội hóa đầu tiên nổ tung trong một ngày mùa Thu ngay trước
cửa nhà tôi thì gia đình tôi giống như một tổ ong bị vỡ. Chúng tôi, những con
ong bay tán loạn, tơi tả, lạc loài, vô định. Má tôi và chị Thảo một đàng, các
ông anh bà chị khác một ngõ. Chỉ có riêng mình tôi, theo cha chạy qua những
làng xa tận cùng một chân núi. Tôi biết những cánh đồng xanh lá mạ, những vườn
xoài vườn mận, những hệ thống dẫn thủy nhập điền thô lậu, những con sông dài
phơi mình ngái ngủ giữa trưa hay trôi lặng lẽ dưới bóng trăng đêm… Tôi được thấy
những đàn bò gậm cỏ buồn nản, những con trâu lười biếng trầm mình dưới đầm nước
tù ngầu đục… Nhưng cuộc chiến ngày một đuổi nà những người thành phố. Tiếng
súng lúc đầu còn xa, càng về sau càng gần hơn. Trước mặt chúng tôi là ruộng vườn,
thôn xóm. Sau lưng chúng tôi là núi đá, rừng cây. Cùng đường rồi, chạy đi đâu nữa.
Cha tôi nói như vậy. Và ông vừa làm tiều phu, vừa làm nhà nông. Cha tôi nói đất
đai chỉ nuôi sống che chở những ai yêu nó, sống với nó, làm việc với nó. Cha tôi
là một người tháo vát. Ông nói tận trong máu huyết của mỗi người Việt Nam đều
có chứa đựng dòng máu của một nông dân. Đây là thời gian cha tôi trở lại với ấm
trà và chén đất. Không còn cái Thố Hào Trản của thời Đại Tống Tiểu Tống gì đó,
mà một ông bạn già của cha tôi từng nói. Chén đất nung thứ thiệt màu đỏ gạch
cua, cha tôi làm lấy. Ông vẫn là người dậy sớm, nấu ấm trà. Và tôi trở thành
người bạn hiền bé nhỏ đối ẩm cùng ông. Cuộc sống của hai cha con tôi nơi sơn
cùng thủy tận hạnh phúc một cách bắt buộc. Cha tôi nhắc má tôi và chị Thảo ít
hơn là nhắc đến hai ông anh tôi. Cho đến một hôm, một người liên lạc đến báo
cho cha tôi biết anh cả tôi ở chiến khu về muốn gặp ông. Tôi mừng lắm. Nhưng
cha tôi trầm ngâm không nói chi. Tôi còn nhớ cuộc gặp gỡ của chúng tôi diễn ra
dưới chái hiên của căn chòi lợp lá phên. Buổi chiều ở núi lạnh tê. Anh tôi đứng
trước sân căn chòi. Vẫn cao lớn, hơi gầy, râu cạo nhẵn, tóc vẫn xoăn tít bám
sát da đầu. Vết sẹo dài từ khóe mắt trái đến mang tai. Cha tôi và tôi đứng dưới
dàn bầu nậm. Tôi hết nhìn anh lại nhìn cha. Anh gầy càng giống cha nhiều hơn.
Hai người đàn ông đứng im sững như hai người thợ săn đang rình mồi, nhìn ngó
nhau trân trân. Tôi thấy những đốm sáng cuối cùng của ngày lóng lánh trong đôi
mắt anh. Sau cùng, tôi nghe thấy tiếng cha tôi kêu tên anh trai tôi. Tối hôm
đó, ba chúng tôi ăn cơm chung bên bếp lửa. Cơm trộn bắp chan nước mắm bằng nước
muối pha đường thẻ. Bữa cơm rất ngon miệng, mặc dù tôi đã quá ngấy với những hột
bắp nhiều hơn gạo trong chén cơm. Anh ôm tôi vào lòng, lấy khẩu súng ngắn ở thắt
lưng ra, tháo đạn, cho tôi mượn. Anh đọc cho tôi nghe một bài thơ của một tác
giả mà sau này tôi biết là Quang Dũng: … Mẹ tôi em có gặp đâu không Những xác
già nua ngập cánh đồng … Đó là những câu thơ mà tôi sẽ còn nhớ mãi. Một lúc,
anh ngập ngừng nói với cha: “Con đã gặp thằng T.!” “Thằng T.?” Cha tôi hỏi gặng.
“Mà ở đâu?” “Ở Tân Hưng. Gần Gò Quít, cha nhớ không?” “Nhớ. Rồi sao?” “Con hỏi
nó có biết con là ai không? Nó nói biết. Con hỏi nó sợ không? Nó nói không…”
Anh ngừng lại, trầm ngâm. “Cha biết con đã làm điều gì phải làm cho em Thảo.”
Cha tôi im lặng rót trà vào chén đất, uống một hơi cạn. Sáng hôm sau, khi tôi
thức dậy, anh đã ra đi từ hồi nào. Cả cha tôi nữa, ông cũng đã vào rừng đốn cây
làm thêm phên cửa, sửa vách và dành củi cho mùa đông. Người anh sinh trước tôi
vài năm, cũng như tôi, lớn lên cuộc chiến tranh Việt Nam đi vào một khúc quanh
khác. Người Pháp đã ra đi sau khi thất thủ Điện Biên Phủ. Người Mỹ vừa đến, Quốc
trưởng Bảo Đại bị truất phế, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất Cộng Hòa
thành lập. Gia đình mười ba anh em chúng tôi chỉ còn cô út ở nhà với má tôi.
Anh cả tôi cũng như chị Thảo đều biệt tăm. Ông anh kế của tôi theo học trường
Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Còn tôi, sau đó vào Quang Trung rồi đi Thủ Đức. Chế độ
Ngô Đình Diệm sụp đổ. Các tướng lãnh thay nhau cầm quyền. Cha tôi qua đời đúng
vào dịp Tết Mậu Thân. Bốn năm sau má tôi cũng “đi theo”, khi một tay nhà báo
Pháp viết về “đại lộ kinh hoàng” ở Quảng Trị, nơi người bạn Thủy Quân Lục Chiến
của tôi làm bài thơ Cổ Thành tặng tôi trước khi hy sinh. Cô em gái út nhà tôi lấy
chồng. Ngôi nhà tôi ở đã bán. Tôi là người lính sống ở văn phòng nhiều hơn chiến
trường. Tôi luôn luôn là kẻ được nuông chiều trong một xã hội không phải ai
cũng may mắn được như thế. Ông anh Không Quân của tôi tuy vẫn hào hoa bay bướm,
nhưng là một người cha gương mẫu, một người chồng tốt. Anh được bạn bè đồng đội
quý mến và quả tình anh cũng rất yêu mến con đường anh đi. Một lần chúng tôi gặp
nhau ở Sài Gòn, anh nhắc tên người anh lớn và chị Thảo của chúng tôi. Không biết
bây giờ anh chị ấy ở đâu, ra sao. Sống chết thế nào. Anh nói chiến tranh ghê tởm
và anh hỏi tôi nghĩ sao. Tôi nghĩ sao? Tôi là một người vô tích sự. Nhưng bây
giờ hiểu ra, tôi yêu tất cả mọi người. Tôi không thù ghét ai. Người anh Không
Quân của tôi cũng nói vậy. Anh chờ đợi và mong muốn hòa bình. Anh nói anh không
phải là một nhà chính trị, nhưng anh tin rằng anh chiến đấu cho tự do của dân tộc.
Anh nói anh không hề mù quáng nghĩ rằng anh đang sống trong một xã hội tốt đẹp,
nhưng anh tin rằng anh đang chiến đấu trong một xã hội để làm cho nó tốt hơn
cái hiện có. *** Tháng Tư Bảy Lăm, Sài Gòn thất thủ, trong “những người chiến
thắng” trở về có ông anh cả tôi, nay là một cán bộ chức sắc, một thứ công thần.
Anh có tìm gặp tôi trước ngày tôi bị gọi đi học tập cải tạo. Tôi thấy anh khác
xưa nhiều. Vết sẹo trên mặt có vẻ như nhạt đi, những bắp thịt gân guốc đã mất.
Anh gầy và trầm ngâm. Anh không gặp người anh Không Quân của tôi. Tôi không
nghe anh giải thích tại sao. Cô em út của chúng tôi đã theo chồng rời bỏ Sài
Gòn trong một ngày áp chót của cuộc chiến. Tôi không hiểu tại sao có phương tiện
trong tay mà người anh Không Quân của tôi không ra đi. Cũng như những sĩ quan
thua trận cấp úy khác, tôi thu xếp ít quần áo và lương thực cho mười ngày học tập.
Nói là mười ngày, nhưng ba năm sau tôi mới được trở về, khi ông anh Không Quân
của tôi vẫn còn ở lại trong một trại cải tạo ngoài Bắc. Ra tù tôi sống lang
thang làm đủ thứ nghề, đi khắp mọi nơi, nhưng tôi vẫn không gặp và không nghe
chút tin tức gì về chị Thảo tôi. Làm như chị là một người không có thực trong
gia đình tôi. Ông anh cả tôi sau đó có đến thăm tôi trên một lần nữa, sau khi
tôi vượt biên bị bắt ở Rạch Giá vừa được thả về. Ông nói đừng làm chuyện bá
láp, vượt biên là phản quốc. Đó là thời gian chế độ mới đánh tư sản, đổi tiền.
Ông nói học tập cải tạo là rất tốt cho những đầu óc vô tích sự như tôi. Phải
như thế thì tôi mới “sáng mắt sáng lòng” ra được. Mãi đến năm thứ mười sau ngày
Sài Gòn thất thủ tôi mới vượt biên thông suốt. Tôi đến được Pulau Bidong, trong
một chuyến đi không đến nỗi bi thảm như những người khác. Tôi luôn luôn là một
người may mắn. Một năm sau nhờ sự bảo lãnh của cô em út, tôi được Mỹ nhận cho định
cư. Khi còn ở đảo tôi hay tin người anh lính Không Quân đã chết trong trại
giam. Ông anh cả tôi cũng không còn nữa. Một lá thư từ bên nhà gửi qua cho biết
ông ấy chết hơi khác thường: tự tử bằng một viên đạn bắn qua đầu. Qua thư từ
tôi biết thêm sau khi ông đi thăm người anh lính Không Quân bị bệnh nặng nằm chờ
chết trở về, ông đã chọn cái chết của chính mình như một cách nói lời tuyệt vọng.
Mười năm sau khi lấn chiếm miền Nam, đất nước ngày càng tan nát, đời sống người
dân ngày càng xuống thấp, trong khi máu mủ ruột thịt bỏ đi xa hay vẫn còn nằm
trong lao tù của chế độ mà mình phục vụ, có lẽ đã là động cơ thúc đẩy họng súng
quay về phía ông. Đôi khi tôi nghĩ cái lẽ sống mới quan trọng hơn sự sống. Có
phải vì thế mà ông anh cả tôi hành động kiểu đó chăng? Đó là tôi suy nghĩ vậy,
chớ tôi không chắc lắm đâu. Tôi bây giờ là một “tếch ních sơn”(technician)
lương ba cọc ba đồng, sống qua ngày đoạn tháng. Hôm qua tôi vừa được thư bà chị
dâu từ Cabramatta Úc Đại Lợi gửi sang cho hay chị đã lập gia đình. Người chồng
chị hiện nay cũng là một người Việt Nam. Hai vợ chồng mở một tiệm ăn. Cả hai mời
tôi có dịp sang chơi, sẽ đài thọ vé máy bay và nơi ăn chốn ở. Tôi không biên
thư trả lời. Tôi gọi điện thoại viễn liên chúc mừng chị. Tôi nói muốn đón các
cháu sang Mỹ chơi. Chị hứa. Đời sống ở Mỹ thật tiện nghi. Tôi đủ ăn đủ mặc và
tôi giàu tự do. Tuy nhiên vào những buổi sáng cuối tuần, đi bách bộ trong khu
công viên Mile Square Park ở Quận Cam, tôi như thấy mình đang trở lại thời sống
với cha ở một vùng núi miền Trung. Buổi sáng sớm rừng còn đầy sương mù, gió thổi
luồn qua những vòm cây lạnh. Trên những ngọn cây cao, tôi nghe tiếng chim kêu từng
hồi buồn bã. Giẫm trên những ngọn cỏ ướt sương, bập bập điếu thuốc lá chưa kịp
khô, tôi thấy mình già hẳn. Như giờ đây, gần bốn mươi năm sau tôi thấy tôi mới
già bằng thuở đó.
* Nguyễn Xuân Hoàng.
California,
Tháng Bảy, 1987 / Biên tập lại tháng Mười Một, 2009.
*
Pasternak, Boris, An Essay in Autobiography, Collins & Harville Press, 1959.

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire