Quyết Tử Để Cho Ai Quyết Sinh? * Huỳnh Tâm.

Quyền sống & an sinh xã hội công cộng tại Việt Nam đâu là vấn đền cốt lõi ?
Từ năm 1975 cho đến nay 2025, người dân Việt Nam chưa bao giờ được bảo vệ an toàn. Nhà nước vẫn cho rằng người dân chỉ là sinh học. Không nhận được quyền tiếp cận y tế, giáo dục, môi trường lành mạnh. Càng không có quyền tự do phát biểu, tư tưởng và phát triển nhân cách bị xem thường.
Người dân Việt Nam có thực sự được bảo vệ đầy đủ quyền sống không?
An ninh công cộng, tuy vẫn duy trì được trật tự bề mặt, nhưng quyền phản biện xã hội, tự do bày tỏ, và bảo vệ công lý cho tầng lớp yếu thế rất hạn chế. Người dân ít có cơ chế pháp lý để tự vệ trước bất công.
An sinh xã hội, Y tế công còn thiếu chuẩn mực về công bằng và chất lượng, giáo dục biến thành dịch vụ hơn là một quyền phổ quát, môi trường sinh thái xuống cấp (ô nhiễm không khí, nguồn nước và đất).
Kinh tế không phát triển cân đối, GDP tăng trưởng, nhưng đa phần thuộc về các khu vực đầu tư nước ngoài, nguồn kinh tế không chảy vào đời sống công nhân, nông dân hay người làm dịch vụ nhỏ.
Vấn đề không nằm ở việc không có tăng trưởng, mà là không có sự phân phối công bằng của thành quả tăng trưởng.
Vì nguyên nhân nào Việt Nam thua thiệt?
Các quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, họ đã làm gì khác cho phát triển hơn VN?
Họ trọng tâm đầu tư vào giáo dục, sáng tạo, kỷ luật, quản trị nhà nước hiệu quả. Họ xây dựng nền hành chính phục vụ công dân, không có công cụ kiểm soát. Họ có nhà nước pháp quyền, minh bạch, đối thoại xã hội được chấp nhận, báo chí có vai trò phản biện.
Việt Nam thì sao?
Hệ thống quản lý quá nặng tính hình thức, quan liêu, tư duy cai trị chưa chuyển sang tư duy phục vụ.
Kinh tế nhà nước vẫn chi phối, cho nên hiệu quả thấp, gây lãng phí tài nguyên, và nhân lực.
Không có tòa án hành chính độc lập để bảo vệ dân trước quyền lực.
Việt Nam thiếu cơ chế đảm bảo kiểm soát quyền lực, thiếu tinh thần cải cách thật sự, trái lại duy trì định hướng chính trị khép kín. Điều này khiến quốc gia không thể bước lên đẳng cấp “kiến quốc” mà chỉ dừng ở “quản trị ổn định”.
Có phải lãnh đạo Việt Nam thiếu trình độ quản trị quốc gia? Nêu thẳng ra, không chỉ là trình độ cá nhân, mà là vấn đề của cơ chế lựa chọn lãnh đạo và hệ giá trị vận hành quyền lực.
Hệ thống chính trị hiện hành không có cạnh tranh minh bạch, nên việc lựa chọn lãnh đạo thiếu tính sàng lọc trí tuệ và đạo đức. Quan chức được chọn vì “trung thành” hơn là vì năng lực.
Tư duy quản lý còn mang tính nhiệm kỳ, ngắn hạn, và bị ràng buộc bởi bảo thủ hệ thống. Vấn đề không phải họ không thông minh, mà là không được đặt trong hệ thống buộc họ phải chịu trách nhiệm, phải đổi mới.
Tầng lớp xã hội Việt Nam phân hóa, mất cân đối và không bình đẳng. Các tầng lớp chính trong xã hội Việt Nam hiện nay (2025). Là tầng lớp của quyền lực, tư bản đỏ: Gồm quan chức cao cấp, chủ doanh nghiệp lớn con ông cháu cha, đồng lực liên kết chặt với nhà nước. Họ kiểm soát tài nguyên công, đất đai, chính sách.
Tầng lớp trung lưu đô thị chuyên gia, doanh nhân, trí thức đang cố gắng vươn lên nhưng bị hạn chế phát triển bởi thiếu môi trường minh bạch, và pháp lý bảo vệ.
Tầng lớp lao động, và nông dân đông đảo, làm việc nhiều, thu nhập thấp, ít tiếng nói chính trị dễ bị tổn thương khi có biến động.
Tầng lớp yếu thế bên lề xã hội gồm người khuyết tật, già cả, thất nghiệp, và đồng bào dân tộc thiểu số gần như không được đại diện.
Độc quyền hưởng tài nguyên quốc gia?
Những người quyền lực chiếm giữ đất công, hưởng đặc quyền kinh tế, được ưu đãi đầu tư, tiếp cận các dự án lớn.
Người dân không quyền lực, chỉ biết đứng nhìn sự đời và đóng thuế, chịu giá cả leo thang, cam chịu lạm phát tiền mất giá, người dân không được chia lợi ích quốc gia. Đặc biệt tài nguyên công bị tư hữu hóa một cách trá hình.
Tương lai nào cho tầng lớp “Thấp cổ bé họng”?
Bởi vì người dân không có địa vị, quyền thế, tiếng nói không có trọng lượng, thường bị thiệt thòi khi gặp bất công, khi bị oan ức, cầu cứu không ai quan tâm, dẫu có phàn nàn cũng không mang lại kết quả.
Nếu không có cải cách thể chế, họ sẽ bị gạt ra bên lề, gồm giáo dục, y tế, và nhà ở chỉ còn là mơ ước. Hệ quả tích lũy bất mãn, hoặc sự tuyệt vọng hóa từ đó dẫn đến mất đoàn kết xã hội.
Đất nước cần tư duy mở & giải pháp thực tiễn. Thay đổi từ hệ thống lựa chọn nhân sự, xây dựng hệ giá trị dựa trên minh bạch, năng lực, nhân cách, đạo đức.
Mở rộng không gian đối thoại và phản biện xã hội. Cải cách giáo dục và tư pháp để tạo nền tảng công lý và trí tuệ. Tái phân phối tài nguyên, ưu tiên phúc lợi công, bảo vệ tầng lớp yếu thế.
Thế nhưng nhà nước quảng bá chiêu bài “Tổ quốc” để tiếp tục bốc lột người dân.
Thực chất “Tổ quốc” là khái niệm vừa hữu hình vừa siêu hình. Về mặt pháp lý và chính trị, Tổ quốc có ranh giới cụ thể – lãnh thổ, quốc tịch, hiến pháp, chủ quyền. Nhưng về phương diện nhân văn, Tổ quốc không thể bị đóng khung. Với kẻ lưu vong, di dân, người tị nạn… Tổ quốc có thể là một ký ức, một khát vọng, một hình bóng mơ hồ của nơi từng gọi là “quê cha đất tổ”. Trong thời đại toàn cầu hóa, khái niệm “Tổ quốc không biên giới” là lời kêu gọi phá bỏ định kiến dân tộc hẹp hòi, hướng đến một cộng đồng nhân loại nơi quyền sống, phẩm giá, và an ninh được bảo vệ không phụ thuộc vào quốc tịch hay địa lý.
Quyền sống của người “có Tổ quốc” và “vô tổ quốc”.
Người có Tổ quốc, về lý thuyết, được pháp luật bảo vệ, được hưởng phúc lợi, được phát biểu, được mưu sinh trên quê hương mình. Nhưng nếu Tổ quốc ấy không đảm bảo an sinh, không tôn trọng nhân quyền, thì “quyền sống” trở thành danh nghĩa trống rỗng. Trong khi đó, người vô tổ quốc chẳng hạn người tị nạn, tuy không có quê hương pháp lý, nhưng nếu được đón nhận bởi một quốc gia văn minh, vẫn có thể sống đúng nghĩa làm người: An toàn, được học, được làm việc, được yêu thương. Như vậy, Tổ quốc không chỉ là nơi sinh ra, mà là nơi quyền sống được thực thi.
An ninh công cộng và kinh tế: Hệ lụy từ mô hình khép kín.
Một Tổ quốc “đóng khung” bởi sự ích kỷ, tư duy không mở khép kín thể chế, thường dẫn đến trì trệ. Khi an ninh được đặt trên nền kiểm soát, thay vì bảo vệ, nó biến thành công cụ bóp nghẹt tiếng nói. Khi kinh tế bị thao túng bởi nhóm lợi ích hoặc thiếu minh bạch, nền tảng phát triển sẽ bị xói mòn. Việt Nam hiện nay, tuy đạt được một số thành tựu phát triển, nhưng vẫn như cũ tồn tại các điểm yếu:
Thiếu minh bạch thông tin, kinh tế, tự do, tín ngưỡng, và quản trị quốc gia.
Khoảng cách giàu nghèo gia tăng, môi trường sống bị thu hẹp, và pháp lý chưa đảm bảo quyền con người một cách vững chắc.
Cần một chế độ tư duy mở: Thay vì “Hy sinh vì Tổ quốc”, hãy để Tổ quốc là nơi phục vụ hạnh phúc.
Khẩu hiệu “hy sinh vì Tổ quốc” (Quyết tử để tổ quốc quyết sinh) mang nặng tư duy chiến tranh, đặt trọng tâm vào sự chịu đựng.
Ngày nay đã là thế kỷ XXI, cần chuyển sang “Tổ quốc là nơi phụng sự hạnh phúc con người”. Nghĩa vụ công dân không nên chỉ là gánh nặng, mà là sự đồng thuận vì lợi ích chung. Điều này, đòi hỏi một Tổ quốc công chính, nơi quyền được sống, được học, được hạnh phúc không bị ràng buộc bởi lý lịch hay địa phương.
Lời góp ý chân thành.
Nếu chúng ta chỉ yêu nước bằng cảm xúc, mà không can đảm chất vấn hiện trạng, thì tình yêu ấy sẽ dễ bị thao túng. Tư duy hời hợt dễ rơi vào ngôn từ trống rỗng hoặc dân tộc chủ nghĩa mù quáng. Hãy để “Tổ quốc” là biểu hiện của lương tri, của sự thật, và của trách nhiệm chung, chứ không phải là một danh xưng thiêng liêng dùng để biện minh cho bất công.
Tổ quốc không là nhà tù ý thức. Tổ quốc là ánh sáng nơi quyền sống được tôn trọng, đừng đóng khung Tổ quốc. Hãy mở rộng nó bằng trí tuệ và tình thương.

Huỳnh Tâm.

Aucun commentaire: