Người dân Việt Nam có
thực sự được bảo vệ đầy đủ quyền sống không?
An ninh công cộng, tuy
vẫn duy trì được trật tự bề mặt, nhưng quyền phản biện xã hội, tự do bày tỏ, và
bảo vệ công lý cho tầng lớp yếu thế rất hạn chế. Người dân ít có cơ chế pháp lý
để tự vệ trước bất công.
An sinh xã hội, Y tế
công còn thiếu chuẩn mực về công bằng và chất lượng, giáo dục biến thành dịch
vụ hơn là một quyền phổ quát, môi trường sinh thái xuống cấp (ô nhiễm không
khí, nguồn nước và đất).
Kinh tế không phát triển
cân đối, GDP tăng trưởng, nhưng đa phần thuộc về các khu vực đầu tư nước ngoài,
nguồn kinh tế không chảy vào đời sống công nhân, nông dân hay người làm dịch vụ
nhỏ.
Vấn đề không nằm ở việc
không có tăng trưởng, mà là không có sự phân phối công bằng của thành quả tăng
trưởng.
Vì nguyên nhân nào Việt
Nam thua thiệt?
Các quốc gia như Hàn
Quốc, Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Đài Loan, họ đã làm gì khác cho phát triển hơn VN?
Họ trọng tâm đầu tư vào
giáo dục, sáng tạo, kỷ luật, quản trị nhà nước hiệu quả. Họ xây dựng nền hành
chính phục vụ công dân, không có công cụ kiểm soát. Họ có nhà nước pháp quyền,
minh bạch, đối thoại xã hội được chấp nhận, báo chí có vai trò phản biện.
Việt Nam thì sao?
Hệ thống quản lý quá
nặng tính hình thức, quan liêu, tư duy cai trị chưa chuyển sang tư duy phục vụ.
Kinh tế nhà nước vẫn chi
phối, cho nên hiệu quả thấp, gây lãng phí tài nguyên, và nhân lực.
Không có tòa án hành
chính độc lập để bảo vệ dân trước quyền lực.
Việt Nam thiếu cơ chế
đảm bảo kiểm soát quyền lực, thiếu tinh thần cải cách thật sự, trái lại duy trì
định hướng chính trị khép kín. Điều này khiến quốc gia không thể bước lên đẳng
cấp “kiến quốc” mà chỉ dừng ở “quản trị ổn định”.
Có phải lãnh đạo Việt
Nam thiếu trình độ quản trị quốc gia? Nêu thẳng ra, không chỉ là trình độ cá
nhân, mà là vấn đề của cơ chế lựa chọn lãnh đạo và hệ giá trị vận hành quyền
lực.
Hệ thống chính trị hiện
hành không có cạnh tranh minh bạch, nên việc lựa chọn lãnh đạo thiếu tính sàng
lọc trí tuệ và đạo đức. Quan chức được chọn vì “trung thành” hơn là vì năng
lực.
Tư duy quản lý còn mang
tính nhiệm kỳ, ngắn hạn, và bị ràng buộc bởi bảo thủ hệ thống. Vấn đề không
phải họ không thông minh, mà là không được đặt trong hệ thống buộc họ phải chịu
trách nhiệm, phải đổi mới.
Tầng lớp xã hội Việt Nam
phân hóa, mất cân đối và không bình đẳng. Các tầng lớp chính trong xã hội Việt
Nam hiện nay (2025). Là tầng lớp của quyền lực, tư bản đỏ: Gồm quan chức cao cấp,
chủ doanh nghiệp lớn con ông cháu cha, đồng lực liên kết chặt với nhà nước. Họ
kiểm soát tài nguyên công, đất đai, chính sách.
Tầng lớp trung lưu đô
thị chuyên gia, doanh nhân, trí thức đang cố gắng vươn lên nhưng bị hạn chế
phát triển bởi thiếu môi trường minh bạch, và pháp lý bảo vệ.
Tầng lớp lao động, và
nông dân đông đảo, làm việc nhiều, thu nhập thấp, ít tiếng nói chính trị dễ bị
tổn thương khi có biến động.
Tầng lớp yếu thế bên lề
xã hội gồm người khuyết tật, già cả, thất nghiệp, và đồng bào dân tộc thiểu số
gần như không được đại diện.
Độc quyền hưởng tài
nguyên quốc gia?
Những người quyền lực
chiếm giữ đất công, hưởng đặc quyền kinh tế, được ưu đãi đầu tư, tiếp cận các
dự án lớn.
Người dân không quyền
lực, chỉ biết đứng nhìn sự đời và đóng thuế, chịu giá cả leo thang, cam chịu
lạm phát tiền mất giá, người dân không được chia lợi ích quốc gia. Đặc biệt tài
nguyên công bị tư hữu hóa một cách trá hình.
Tương lai nào cho tầng
lớp “Thấp cổ bé họng”?
Bởi vì người dân không
có địa vị, quyền thế, tiếng nói không có trọng lượng, thường bị thiệt thòi khi
gặp bất công, khi bị oan ức, cầu cứu không ai quan tâm, dẫu có phàn nàn cũng
không mang lại kết quả.
Nếu không có cải cách
thể chế, họ sẽ bị gạt ra bên lề, gồm giáo dục, y tế, và nhà ở chỉ còn là mơ
ước. Hệ quả tích lũy bất mãn, hoặc sự tuyệt vọng hóa từ đó dẫn đến mất đoàn kết
xã hội.
Đất nước cần tư duy mở
& giải pháp thực tiễn. Thay đổi từ hệ thống lựa chọn nhân sự, xây dựng hệ
giá trị dựa trên minh bạch, năng lực, nhân cách, đạo đức.
Mở rộng không gian đối
thoại và phản biện xã hội. Cải cách giáo dục và tư pháp để tạo nền tảng công lý
và trí tuệ. Tái phân phối tài nguyên, ưu tiên phúc lợi công, bảo vệ tầng lớp
yếu thế.
Thế nhưng nhà nước quảng
bá chiêu bài “Tổ quốc” để tiếp tục bốc lột người dân.
Thực chất “Tổ quốc” là
khái niệm vừa hữu hình vừa siêu hình. Về mặt pháp lý và chính trị, Tổ quốc có
ranh giới cụ thể – lãnh thổ, quốc tịch, hiến pháp, chủ quyền. Nhưng về phương
diện nhân văn, Tổ quốc không thể bị đóng khung. Với kẻ lưu vong, di dân, người
tị nạn… Tổ quốc có thể là một ký ức, một khát vọng, một hình bóng mơ hồ của nơi
từng gọi là “quê cha đất tổ”. Trong thời đại toàn cầu hóa, khái niệm “Tổ quốc
không biên giới” là lời kêu gọi phá bỏ định kiến dân tộc hẹp hòi, hướng đến một
cộng đồng nhân loại nơi quyền sống, phẩm giá, và an ninh được bảo vệ không phụ
thuộc vào quốc tịch hay địa lý.
Quyền sống của người “có
Tổ quốc” và “vô tổ quốc”.
Người có Tổ quốc, về lý
thuyết, được pháp luật bảo vệ, được hưởng phúc lợi, được phát biểu, được mưu
sinh trên quê hương mình. Nhưng nếu Tổ quốc ấy không đảm bảo an sinh, không tôn
trọng nhân quyền, thì “quyền sống” trở thành danh nghĩa trống rỗng. Trong khi
đó, người vô tổ quốc chẳng hạn người tị nạn, tuy không có quê hương pháp lý,
nhưng nếu được đón nhận bởi một quốc gia văn minh, vẫn có thể sống đúng nghĩa
làm người: An toàn, được học, được làm việc, được yêu thương. Như vậy, Tổ quốc
không chỉ là nơi sinh ra, mà là nơi quyền sống được thực thi.
An ninh công cộng và
kinh tế: Hệ lụy từ mô hình khép kín.
Một Tổ quốc “đóng khung”
bởi sự ích kỷ, tư duy không mở khép kín thể chế, thường dẫn đến trì trệ. Khi an
ninh được đặt trên nền kiểm soát, thay vì bảo vệ, nó biến thành công cụ bóp
nghẹt tiếng nói. Khi kinh tế bị thao túng bởi nhóm lợi ích hoặc thiếu minh
bạch, nền tảng phát triển sẽ bị xói mòn. Việt Nam hiện nay, tuy đạt được một số
thành tựu phát triển, nhưng vẫn như cũ tồn tại các điểm yếu:
Thiếu minh bạch thông
tin, kinh tế, tự do, tín ngưỡng, và quản trị quốc gia.
Khoảng cách giàu nghèo
gia tăng, môi trường sống bị thu hẹp, và pháp lý chưa đảm bảo quyền con người
một cách vững chắc.
Cần một chế độ tư duy
mở: Thay vì “Hy sinh vì Tổ quốc”, hãy để Tổ quốc là nơi phục vụ hạnh phúc.
Khẩu hiệu “hy sinh vì Tổ
quốc” (Quyết tử để tổ quốc quyết sinh) mang nặng tư duy chiến tranh, đặt trọng
tâm vào sự chịu đựng.
Ngày nay đã là thế kỷ
XXI, cần chuyển sang “Tổ quốc là nơi phụng sự hạnh phúc con người”. Nghĩa vụ
công dân không nên chỉ là gánh nặng, mà là sự đồng thuận vì lợi ích chung. Điều
này, đòi hỏi một Tổ quốc công chính, nơi quyền được sống, được học, được hạnh
phúc không bị ràng buộc bởi lý lịch hay địa phương.
Lời góp ý chân thành.
Nếu chúng ta chỉ yêu
nước bằng cảm xúc, mà không can đảm chất vấn hiện trạng, thì tình yêu ấy sẽ dễ
bị thao túng. Tư duy hời hợt dễ rơi vào ngôn từ trống rỗng hoặc dân tộc chủ
nghĩa mù quáng. Hãy để “Tổ quốc” là biểu hiện của lương tri, của sự thật, và
của trách nhiệm chung, chứ không phải là một danh xưng thiêng liêng dùng để
biện minh cho bất công.
Tổ quốc không là nhà tù
ý thức. Tổ quốc là ánh sáng nơi quyền sống được tôn trọng, đừng đóng khung Tổ
quốc. Hãy mở rộng nó bằng trí tuệ và tình thương.
Huỳnh Tâm.

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire