Hình: một trang Hiến pháp Hàn Quốc, có quá nhiều chữ Hán xen lẫn chữ Hangul,
bởi lẽ chữ Hangul không thể hiện chính xác ý nghĩa của những từ có tính pháp lý
phức tạp và quan trọng. Nguồn: https://baijiahao.baidu.com/
Chữ viết là một phát minh vĩ đại của loài người. Dân tộc nào làm
ra được chữ viết thì dân tộc đó sẽ thoát ra khỏi thời kỳ tiền sử mông muội, tiến
sang kỷ nguyên văn minh có sử sách ghi lại sự phát triển của dân tộc mình. Cho
tới nay, một số dân tộc vẫn chưa làm được chữ viết. Chữ Hán thuộc loại chữ viết
ra đời sớm. Theo nhà ngôn ngữ học Trung Quốc Châu Hữu Quang, chữ Hán chính thức
thành hình và ra đời cách đây khoảng hơn 3300 năm, chỉ sau một vài loại chữ viết
của vùng Trung Đông. Trong hàng nghìn loại chữ viết hiện có trên thế giới, chữ
Hán nổi bật với hình dạng tổ hợp đường nét giới hạn trong một ô vuông, là loại
chữ viết duy nhất có tính chất biểu ý (ghi ý), khác với các loại chữ viết còn lại
đều có tính chất biểu âm (ghi âm).
Hiện nay, chữ Hán đang được hơn 1,4 tỷ người trên thế giới sử dụng.
Công luận phổ biến thừa nhận chữ Hán do người Trung Quốc làm ra, về sau du nhập
Việt Nam, Triều Tiên/Hàn Quốc và Nhật Bản, được các nước này sử dụng theo cách
riêng của mình trong hàng nghìn năm, và cuối cùng đều phải cải cách nhằm ghi được
tiếng mẹ đẻ của mình. Tại Trung Quốc, chữ Hán sau khi ra đời hầu như không có
thay đổi gì, mặc dù từ cuối thế kỷ 19 nước này từng tiến hành cải cách chữ Hán
với quy mô cực kỳ lớn. Cho tới nay, có thể khẳng định chữ Hán là loại chữ viết
thích hợp với Hán ngữ và sẽ được mãi mãi sử dụng ở Trung Quốc. Hiện vẫn chưa biết
ai là người sáng chế ra loại chữ viết độc đáo này. Người Trung Quốc lưu hành
truyền thuyết chữ Hán là do Thương Hiệt (倉頡 Cang Jie), một
viên quan chép sử của vua Hoàng Đế đầu tiên, làm ra.
Vấn đề quyền tác giả của chữ Hán bắt đầu nổi lên sau khi trang mạng
Trung Quốc “tv.sohu.com” ngày
3/2/2008 đăng bài “Giáo sư Hàn Quốc tuyên bố chữ Hán là do người
Hàn Quốc phát minh”.
Bài báo cho biết: Chẳng những tranh giành quyền sáng chế chữ Hán
mà mấy hôm nay người Hàn Quốc triển khai một loạt hành động tranh giành thành tựu
văn hóa của Trung Quốc, như họ báo cáo Liên Hợp Quốc rằng “Kỹ thuật in chữ rời”
là do Hàn Quốc phát minh, Tết Đoan Ngọ là di sản văn hóa của Hàn Quốc; Khổng Tử,
người đẹp Tây Thi, thầy thuốc Lý Thời Chân… là người Hàn Quốc, Y học cổ Trung
Hoa (Trung Y) cũng do người Hàn Quốc phát minh. Bài báo viết: Tờ “Nhật báo Triều
Tiên” của Hàn Quốc, số ra ngày 10/10/2006, đưa tin ông Phác Chính Tú, Giáo sư lịch
sử Đại học Seoul, nói sau 10 năm nghiên cứu khảo chứng, ông nhận định dân tộc
Triều Tiên đầu tiên phát minh ra chữ Hán; về sau khi người Triều Tiên di cư đến
Trung Nguyên, họ mang theo chữ Hán vào Trung Quốc. Mọi người đều biết hiện nay
trên lãnh thổ Trung Quốc có dân tộc Triều Tiên (Chaoxian, Korean) là dân tộc
thiểu số lớn thứ hai (hơn 1,7 triệu người, chỉ sau dân tộc Tráng), trong cộng đồng
56 dân tộc nước này.
“Thời báo Hoàn cầu” của Trung Quốc, số ra ngày
Theo Thời báo Hoàn cầu, mạng Newdaily Hàn Quốc ngày
Giáo sư Hạ kể chuyện: Bộ trưởng Văn hóa Giáo dục đầu tiên của Hàn
Quốc, ông An Hạo Tương, từng than phiền với ông Lâm Ngữ Đường là chữ Hán đã đem
lại cho Hàn Quốc nhiều vấn đề rắc rối, nhưng ông Đường đáp: “Ngài nói gì lạ
thế? Chữ Hán là do tộc Đông Di các ngài làm ra, lẽ nào các ngài không biết
sao?”
Giáo sư Hạ tuyên bố: Người Hàn Quốc hiện nay “coi chữ Hán là
ngoại ngữ - cách làm đó là hành vi tự gây hại cho chính mình”, “chữ Hán
cùng với chữ Hangul có tính khoa học nhất, là đôi cánh của Hàn ngữ; duy nhất chỉ
Hàn Quốc là quốc gia có kết cấu ngôn ngữ lý tưởng như vậy”.
Năm 1998, Giáo sư Trần Thái Hạ thành lập “Tổng hội liên hợp xúc tiến
giáo dục chữ Hán toàn quốc”, ra sức đẩy mạnh dạy và học chữ Hán. “Nhật báo
Trung ương” Hàn Quốc năm 2006 đưa tin về quan điểm của Giáo sư Hạ, cho rằng “Môn
Cờ vây có nguồn gốc từ Hàn Quốc”. Năm 2009, hai chục vị cựu Thủ tướng Hàn
Quốc ký tên vào bản kiến nghị do Giáo sư Hạ dự thảo, đề nghị đẩy mạnh việc giảng
dạy chữ Hán ở Hàn Quốc.
Quan điểm “Hàn Quốc làm ra chữ Hán” của Trần Thái Hạ đã tạo
ra niềm phấn khởi trong một số dân mạng Hàn Quốc, nhưng các cơ quan truyền
thông chính thống của nước này đều im lặng. Mấy năm nay, dư luận trong dân gian
hai nước Trung Quốc và Hàn Quốc xảy ra không ít tranh cãi về vấn đề di sản văn
hóa, nhưng chưa rõ tại sao chính quyền hai nước đều ít nói về các vấn đề đó.
Phản ứng của dư luận Trung Quốc
Dư luận Trung Quốc hăng hái và phẫn nộ phê phán quan điểm “Chữ
Hán do người Triều Tiên/Hàn Quốc sáng chế”. Họ cho rằng chữ Hán từ Trung Quốc
du nhập bán đảo Triều Tiên từ khoảng thế kỷ 3 sau CN, khi chữ Hán đã ra đời ở
Trung Quốc được khoảng 1500 năm (thế kỷ 13 trước CN).
Thời cổ, người Triều/Hàn chưa có chữ viết của mình, phải mượn dùng
chữ Hán, nhưng chỉ tầng lớp quý tộc và quan lại dùng, còn dân chúng thì mù chữ.
Do ngôn ngữ Triều/Hàn thuộc ngữ hệ Altai, khác với Hán ngữ thuộc ngữ hệ Hán-Tạng
(Sino-Tibetan), nên chữ Hán không thể ghi được tiếng Triều/Hàn. Để giải quyết
khó khăn đó, vua Sejong (tức Thế Tôn, trị vì Hàn Quốc thời gian 1418-1450) tập
hợp một số quần thần và nhà trí thức nghiên cứu làm ra một bộ chữ viết riêng của
người Triều/Hàn, gọi là “Huấn dân chính âm” (sau gọi là chữ Hangul) và
công bố ngày 9/10/1446, nhằm thống nhất âm đọc tiếng Hàn trong cả nước. “Huấn
dân” là “Dạy cho dân”; “Chính âm” là “Chữ viết đúng của dân”.
Chữ Hangul là chữ viết biểu âm đầu tiên ở châu Á, là một phát minh
sáng tạo lớn, niềm tự hào và biểu tượng cho sự độc lập của dân tộc này, chữ viết
duy nhất được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới (năm 1997). Đây là lần
đầu tiên một dân tộc châu Á phát minh ra cách dùng chữ cái để ghi tiếng nói của
mình. Tuy rằng khoảng hai thế kỷ sau tại Việt Nam có xuất hiện loại chữ viết hiện
đại hơn, là chữ biểu âm dùng chữ cái Latin được dân ta gọi là chữ Quốc ngữ,
nhưng loại chữ này không phải do người Việt Nam tự làm ra, mà chủ yếu là kết quả
sáng tạo của các nhà truyền giáo châu Âu trong quá trình dùng chữ cái Latin
phiên âm chữ Nôm Việt Nam.
Chữ Hangul là loại chữ biểu âm, ban đầu có 28 chữ cái (hiện nay chỉ
dùng 24), dễ học dễ nhớ, dễ viết. Chữ Hán thuộc loại chữ biểu ý, khó học, khó
nhớ, khó viết. Nhưng do chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Hán nên trong lịch sử,
tầng lớp trên người Triều/Hàn vẫn chủ yếu dùng chữ Hán, coi là chữ quý tộc, còn
chữ Hangul bị coi là chữ của người ít học và của phụ nữ. Mãi đến sau Thế chiến
thứ hai khi người Triều/Hàn giành được độc lập dân tộc, họ mới chính thức bỏ chữ
Hán, chỉ dùng chữ Hangul.
Tại Bắc Triều Tiên, sau năm 1945, chính quyền ra lệnh bỏ hẳn chữ
Hán. Tại Nam Triều Tiên (tức Hàn Quốc), năm 1948 ban hành “Luật chuyên dùng chữ
Hangul”, cấm công khai dùng chữ Hán. “Luật Quốc ngữ cơ bản” ban hành năm 2005
quy định các văn bản cơ quan nhà nước phải dùng chữ Hangul, nhưng khi viết các
lệnh của Tổng thống, có thể dùng chữ Hán hoặc chữ nước ngoài ghi chú trong ngoặc.
Trên thực tế, văn bản Hiến pháp Hàn Quốc vẫn dùng nhiều chữ Hán (ảnh). “Nhật
báo Đông Á” và “Nhật báo Triều Tiên” của nước này vẫn in tiêu đề bằng chữ Hán
phồn thể. Các văn bản cơ quan nhà nước Hàn Quốc tuy dùng chữ Hangul là chính
nhưng có dùng thêm chữ Hán, chủ yếu để ghi chú trong trường hợp nếu chỉ dùng chữ
Hangul thì không phân biệt được chính xác nội dung cần thể hiện. Ví dụ tên người
(nhất là trong thẻ căn cước), tên đất, hoặc các văn bản pháp lý đòi hỏi tính
chính xác cao thường có bổ sung thêm bằng chữ Hán trong ngoặc đơn.
Theo tin trên báo Trung Quốc, ngày
Trên thực tế, vì tiếng Triều/Hàn có ít âm tiết lại không có thanh
điệu, cho nên tồn tại rất nhiều từ đồng âm khác nghĩa, nếu viết toàn bộ bằng chữ
Hangul biểu âm sẽ khó phân biệt ý nghĩa của các từ đồng âm. Nhưng nếu ghi chú
thêm bằng chữ Hán thì sẽ có thể phân biệt chính xác, bởi lẽ chữ Hán là chữ biểu
ý. Người Hàn Quốc sử dụng chữ Hán đã ngót 2000 năm, chịu ảnh hưởng rất lớn từ
chữ Hán, như 70% từ ngữ tiếng Hàn có gốc chữ Hán (tương tự từ Hán-Việt ở Việt
Nam, nhưng tiếng Việt giàu âm tiết nên không tồn tại nhiều từ đồng âm khác nghĩa).[1] Đây là lý
do giải thích vì sao lượng chữ Hán chiếm tới một phần tư văn bản Hiến pháp Hàn
Quốc hiện nay.
Tuy vậy, những điều nói trên không chứng tỏ chữ Hán là do người
Triều/Hàn làm ra. Thật khó hiểu là một dân tộc từng sáng tạo ra Hangul – thứ chữ
viết được ca ngợi là có tính khoa học “với các nguyên tắc ngữ âm vượt thời
gian mà chưa dân tộc nào từng có”[2] giờ đây lại có ý định tranh quyền
sáng tạo chữ Hán, một loại chữ bị chính người Trung Quốc vất vả cải cách sửa đổi
suốt cả trăm năm qua chưa xong!
Việt
Việt
Để khắc phục khó khăn trên, từ thế kỷ 12, tổ tiên ta dựa trên cơ sở
chữ Hán đã sáng tạo ra chữ Nôm ghi được tiếng mẹ đẻ. Nhưng chính quyền phong kiến
Việt
Có điều chữ Nôm khó học hơn chữ Hán, vì thế không được sử dụng rộng
rãi như chữ Hangul ở Hàn Quốc. Từ thế kỷ 17, dân ta may mắn được tiếp nhận chữ
Quốc ngữ do các giáo sĩ châu Âu rất giỏi ngôn ngữ học làm ra trên nền tảng
Latin hóa chữ Nôm. Chữ Quốc ngữ ghi được 100% tiếng Việt, rất dễ học, dễ nhớ, dễ
viết, dễ dùng, về cơ bản đạt được yêu cầu nói thế nào viết thế ấy, viết thế nào
đọc thế ấy. Vì thế, từ cuối thế kỷ 19, nước ta nhanh chóng chỉ học và dùng chữ
Quốc ngữ, dứt điểm bỏ hẳn được chữ Hán, thực hiện triệt để “Thoát Hán” về ngôn
ngữ, không còn phải ít nhiều dùng tới chữ Hán như người Nhật, người Triều/Hàn.
Tuy rất ưa chuộng chữ Hán và văn hóa Trung Hoa nhưng tổ tiên ta chưa bao giờ có
ý định tranh giành các thành tựu văn minh, như chữ Hán hoặc các tác phẩm kinh
điển như Kinh Dịch v.v…
Người Nhật dùng chữ Hán lâu hơn và với quy mô lớn hơn người Triều/Hàn,
trong lịch sử chưa hề thấy họ nghi ngờ việc người Trung Hoa làm ra chữ Hán. Thời
xưa, người Nhật sử dụng gần như toàn bộ chữ Hán, nhiều nhất tới 50 nghìn chữ,
do đó gặp rất nhiều khó khăn. Thế kỷ 8 họ phát minh ra chữ Kana, một loại chữ
biểu âm để dùng kết hợp với chữ Hán, nhờ thế giảm được đáng kể tổng số chữ Hán
cần dùng. Hiện nay họ chỉ chính thức sử dụng gần 2000 chữ Hán. Cuối thế kỷ 19,
trong quá trình chuyển ngữ các thuật ngữ của văn minh phương Tây, người Nhật đã
có công lao rất lớn trong việc phát triển Hán ngữ hiện đại,[3] tuy thế họ
rất ít nói về thành tựu đó.
Nguyễn Hải Hoành
Nguồn: https://nghiencuuquocte.org/2022/02/07/ai-sang-che-ra-chu-han/
Chú thích:
[1] 韩国机构称将汉字视为外国文字违宪sina.com.cn
[2] Nguyễn Thị
Minh Chung: “Hangul và chữ viết của Hàn Quốc”, sách “Tiếng Việt
[3] Xem bài “Người Nhật phát triển Hán ngữ hiện đại”, nghiencuuquocte.org
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire