Con đường nghệ thuật,
cũng như mọi nẻo đường của kiếp nhân
sinh, chưa bao giờ là một lối đi bằng
phẳng. Thành công nếu có thể gọi tên luôn được đánh đổi bằng thử thách, bằng những lần
gục ngã và đứng dậy, bằng ý chí không chịu khuất phục trước nghịch cảnh. Người nghệ sĩ, hơn ai hết, phải học cách đứng thẳng trước
thất bại, chấp nhận nó như một phần của hành trình, nhưng tuyệt đối không được buông xuôi hay thụ động.
Trong môi trường hội họa,
nơi hàng vạn nghệ sĩ chen vai tìm chỗ đứng, câu hỏi đầu tiên mà mỗi người phải
tự đối diện chính là: Hội họa đang chờ ta điều gì ở phía trước?
Đó là
những cuộc ganh đua âm thầm nhưng khốc
liệt; là những thử thách của một kẻ đơn
độc giữa muôn trùng tài năng; là những va đập của đời sống khiến người nghệ sĩ
trưởng thành cả trong nghề lẫn trong nhân cách.
Chỉ khi đối chiếu
những trải nghiệm ấy với những thành quả cụ thể, ta mới có thể đánh giá đúng giá trị của một họa sĩ.
Tôi kể lại đôi điều từng trải không
phải để than thở mà để những người trẻ đang bước vào con đường hội họa có thêm kinh nghiệm, có thêm một tấm gương để soi chiếu.
Ngay từ năm 1963, khi vừa rời ghế nhà trường, tôi đã ý thức rõ những khó khăn đang chờ đợi. Tự lập với hai bàn tay trắng, tôi phải xoay sở để
sinh sống, tìm nơi làm việc, chuẩn bị dụng cụ sáng tác, và quan trọng hơn cả là tự lo liệu kinh phí cho các cuộc triển lãm. Mỗi triển lãm tiêu tốn vài ngàn Frace một con số khổng lồ đối với một nghệ sĩ trẻ chưa kể số lượng tranh phải có sẵn từ hai mươi
đến ba mươi bức.
Ở mỗi đô thị lớn tại châu Âu có hàng trăm phòng tranh, nhưng chỉ khoảng hai mươi lăm nơi thực sự có uy tín.
Mỗi kỳ triển lãm kéo dài hai tuần, đồng nghĩa với việc hàng trăm họa sĩ cùng lúc trưng bày, chưa kể các bảo tàng
công cộng. Báo chí dành rất ít không gian cho phê bình nghệ thuật; truyền thanh, truyền hình lại càng khắt khe, chỉ dành vài giây cho những triển lãm thật sự nổi bật. Giới phê bình thì phân tầng rõ rệt; để được một nhà phê bình danh tiếng nhắc đến, nghệ thuật của bạn phải đủ đặc biệt để buộc họ phải dừng lại.
Đó là
chưa kể những vận động
thương mại đầy toan tính, nơi
nghệ thuật bị biến thành món hàng đầu cơ, nơi vàng thau lẫn lộn, khiến những người làm nghệ thuật chân chính nhiều khi nản lòng.
Là một họa sĩ Việt
Nam đơn độc giữa nước Pháp và Bỉ trung tâm
nghệ thuật châu Âu với truyền thống
hàng thế kỷ, lại thêm tài chính không rộng rã, tôi phải đối mặt với vô vàn trở lực bên ngoài. Nhưng khó khăn lớn nhất vẫn là chính mình phải tự xây dựng bản lĩnh
nghệ thuật, tìm cho mình một tiếng nói riêng trước khi bước ra tranh tài cùng thế giới.
Trong những lần triển
lãm tôi gặp gỡ nhiều nhân vật quan trọng
trong giới nghệ thuật, tham gia phỏng vấn báo chí, truyền thanh, truyền hình. Tôi
luôn cố gắng chứng
minh rằng Việt Nam cũng có những người làm nghệ thuật nghiêm túc, có bản sắc riêng, không lai căng Trung Hoa hay
phương Tây. Sau mười năm va chạm
trực tiếp với nghệ thuật phương Tây, tôi đã
phá bỏ những xiềng xích vô hình của sự lệ thuộc thẩm mỹ, tìm được con đường giải thoát cho nghệ thuật của mình.
Từ khi đặt chân đến châu Âu, tôi chứng kiến một giai đoạn khủng hoảng sâu sắc của hội họa
phương Tây. Nguyên nhân đến từ nhiều phía:
- Nền kinh tế tiêu thụ đẩy nghệ thuật
vào thứ yếu.
- Hội họa không còn dựa trên "thực tại"
như điểm tựa truyền thống.
Tất nhiên người nghệ sĩ muốn tự do tuyệt đối,
muốn phá bỏ mọi giới hạn, từ đó dẫn đến sự phân mảnh cực độ của
ngôn ngữ nghệ thuật.
- Mỗi người một thế giới riêng, một hệ thẩm mỹ
riêng, khiến hội họa dần ly khai khỏi xã hội, rồi rơi vào cô độc, thất vọng,
phẫn nộ.
Giáo
sư G.C. Argan từng đặt câu hỏi đầy ám ảnh:
"Phải chăng nghệ thuật phương Tây đang đi đến giờ phút tự cáo
chung? "
Theo tôi, hội họa bị xã hội ruồng rẫy vì chưa tìm được một điểm tựa mới thay thế cho "thực tại" đã bị phá vỡ.
Khi nghệ sĩ chưa tìm được ngôn ngữ chung để
giao tiếp với công chúng, sự cô lập là điều tất yếu. Và khi nghệ thuật không còn khả năng đối thoại,
nó sẽ tự hủy diệt.
HÀNH
TRÌNH HỒN TRANH.
Sau hơn mười năm hoạt động
ngay giữa cơn bão khủng hoảng của hội họa Tây phương, tôi vẫn còn đứng vững không phải nhờ may mắn,
mà vì tôi đã tìm được cho mình một giải pháp sáng tạo phù hợp, đồng thời
nhận được sự đồng cảm của những người yêu nghệ thuật.
Câu hỏi đặt ra là: Tôi đã xây dựng sáng tác của mình
như thế nào?
Tôi có thể nói ngắn gọn: Tôi đi tìm "cái Hồn của tranh".
- Tái định nghĩa "Hồn tranh".
Từ xưa, người ta thường gọi một bức tranh "có hồn" khi nó giống tự nhiên, khi phong cảnh trong tranh như đang thở, khi chân dung như sắp cười nói. Nhưng nếu nhìn kỹ, cái "hồn" ấy tan
biến, chỉ còn lại màu
sơn và mặt vải. Chính vì thế, Platon từng
buộc tội hội họa là nghệ thuật của ảo ảnh, đánh lừa con người bằng
bóng dáng của sự thật.
Vậy, nếu nghệ thuật chân chính phải dẫn con người đến cái Đẹp đích
thực, thì liệu nó có thể đặt nền tảng
trên ảo ảnh của thực tại?
Cái "hồn" mà ta vẫn ca tụng thực
chất chỉ là hồn vay mượn, một sự mô phỏng của thế giới
bên ngoài. Và chính cái hồn giả tạo ấy cần phải được loại bỏ để tránh mê lầm. Từ nhận thức
đó, tôi chọn đứng về phía những nghệ sĩ không lệ thuộc hình bóng của thực tại,
không bị trói buộc bởi mô phỏng.
Tôi
không chỉ từ chối nghệ
thuật cổ điển Tây phương, mà ngay cả nghệ thuật Đông phương, với sơn thủy,
mai lan cúc trúc cũng khiến tôi cảm thấy như có một tấm màn ảo tưởng che
phủ tâm trí, làm mất quyền chủ động của nội tâm.
- Vậy cái Hồn tranh mà tôi tìm kiếm là gì?
Không phải hồn cổ điển.
Không
phải hồn nửa thực nửa trừu
tượng.
Mà là
hồn tự thân của bức tranh,
xuất hiện từ chính cấu trúc nội tại của nó.
Hồn tranh sinh
ra từ bút pháp từ cách
tổ chức đường nét, hình thể, màu sắc. Khi ba yếu tố ấy được sắp đặt theo một trật
tự có sinh khí, bức tranh dù không mô tả bất kỳ sinh vật nào vẫn trở thành một thực thể sống,
có linh hồn riêng.
Từ tế bào đến sự Sống: nền
tảng sáng tác của tôi.
Nguyên liệu đầu tiên của tôi là tế bào nguyên ủy của sự sống
từ thuở khai thiên lập địa. Trong hỗn mang của vũ trụ sơ khai, tế
bào sinh sôi, kết tụ thành muôn loài. Xã hội hiện đại, với tro bụi, đổ vỡ, băng hoại, nào có khác gì cảnh hỗn mang ấy.
Gieo tế bào lên mặt tranh, với
tôi, là gieo mầm sống mới.
- Là
tái tạo một thế giới mới.
Là
thay thế những gì đã mục rữa trong hội
họa, trong xã hội, và ngay trong chính bản thân tôi.
Từ tế bào đầu tiên cái Tôi nguyên thủy đến sự kết hợp của muôn triệu tế bào những cái Tôi khác nhau tôi đi từ trạng thái bào thai
đến hình hài con người. Mỗi hình thể trong tranh là một giai đoạn của
chính tôi. Toàn bộ bức tranh là cái Tôi cuối cùng, kết tinh của vô số biến dịch nội
tâm.
- Sự sống không bao giờ đứng yên.
Cái Tôi cũng vậy.
Nó
lan, loang, biến đổi như vết
mực trên giấy.
Không
có một hình thể cố định nào có thể nắm bắt trọn
vẹn con người.
Vì thế, hình
thể trong tranh tôi không bị giam trong
khuôn khổ. Chúng ẩn hiện, tỏ mờ,
lan sang nhau như những khối tế bào tự do co giãn.
Ánh sáng tự tại: Sự sống
thoi thóp của từng tế bào.
Để diễn tả sự sống
mong manh ấy, tôi tạo nên
những đường vòng đồng tâm li ti quanh hạt nhân. Mỗi vòng
mang một màu trong ngũ sắc, phản ứng với nhau tạo nên cảm giác phát quang một thứ ánh sáng tự tại, phát ra từ bên trong sự sống nhỏ bé.
Như trong con người, muôn triệu sự sống nhỏ và muôn triệu cái chết nhỏ kết thành sự sống toàn diện, thì trên tranh, muôn ánh sáng nhỏ kết tụ thành hình thù của những sinh vật mới đang tìm đường sống.
- Nhịp sống: Động lực của hình thể.
Sự sống là chuyển động ngay cả
trong tĩnh lặng.
Từ tế bào đến tinh tú, mọi vật đều có nhịp điệu riêng.
Nếu nhìn sự vật chỉ qua
vỏ ngoài, ta dễ bị loạn tâm. Nhưng nếu tĩnh tâm, ta sẽ thấy một nhịp điệu tiềm tàng chi phối tất cả, như
dòng sông mênh mông uốn khúc đưa mọi vật trôi theo.
Hãy nhìn:
- Vân đá trên sườn núi,
- Mây bay trên trời,
- Sóng
biển,
- Dấu gió trên cát,
- Vân ốc,
- Vỏ cây,
- Rong rêu…
Tất cả đều mang
một nhịp vận động tự nhiên, khi lên
khi xuống, khi hiện
khi tan, vừa mạnh mẽ vừa êm dịu. Khoa học càng chứng minh điều
đó khi phóng đại cấu trúc tế bào: Nhịp sống vi mô giống hệt nhịp sống
vĩ mô.
Ngay cả trái đất nhìn từ không gian cũng xoay vần như đường vân ốc biển.
Và
khi nhìn vào nội tâm, tôi cũng thấy những đường nét ấy: vui, buồn, giận, thương tất cả đều có thể vẽ thành nhịp điệu.
Nhịp sống bên ngoài và bên trong hòa làm một.
Đem nó vào tranh, hình thể tự động trở nên sinh động.
- Tranh như một thế giới mới.
Tranh không còn phản ánh thực tại.
Không
còn gợi nhớ những gì quen thuộc.
Nhưng nguồn gốc sâu xa của nó vẫn từ Tạo vật.
Nghệ sĩ hoàn toàn tự do sáng tạo một thế giới
khác một thế giới lý tưởng, một thế giới ước vọng. Tranh trở thành một sinh thể có hồn, có sự sống, có khả năng giao cảm
trực tiếp với người xem.
Trong thời đại mà mọi giá trị đang đổ vỡ,
con người bị tha hóa, bị biến thành hình dạng của ác quỷ, ai cấm người
nghệ sĩ vốn không phải triết gia hay nhà khoa học mơ tưởng tái tạo thế giới từ
số không?
Từ tế bào mong manh đến sinh vật mới, từ hỗn mang đến trật tự mới?
Tôi ý
thức rằng đó là một ham muốn vượt
khỏi tầm người một sự ngạo mạn muốn làm "ông Tạo nhỏ".
Nhưng nếu không nuôi dưỡng một chủ đích cao cả, con người sẽ thiếu động lực để đi lên. Và suy cho cùng, những chủ đích tối cao của tôn giáo, khoa học, triết học chẳng phải đều nằm trong cõi trừu tượng đó sao?
Một Nghệ sĩ muốn đứnh thẳng phải biết nâng cấp học thuật hội
hoạm tái cấu trúc tư tưởng, tinh thần và trải nghiệm.
* Huỳnh Tâm.

Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire