Tạp chí Bách Khoa số 407. Thực hiện Giai Phẩm Xuân, ông Lê Ngộ Châu, chủ biên tạp chí Bách Khoa. Gửi thư
Họa sĩ Phạm Tăng ở Ý, xin phỏng vấn. Họa sĩ Phạm Tăng hồi âm, viết bức thư dài trả lời với báo Bách Khoa cuối năm 1973. Tạp chí Bách Khoa loan tải như sau:
Phạm Tăng sinh năm 1928 tại Ninh Bình, học
hội họa và kiến trúc tại Hà Nội từ năm 1943, làm báo trong thời kỳ kháng chiến
và sau hiệp định Genève làm báo ở Saigon. Đã được đông đảo độc giả ưa thích các
tranh hài hước đặc sắc của anh trên nhật báo Tự Do. Năm 1959 anh sang Roma (Ý)
học về Hội họa và trang trí... Sau khi tốt nghiệp tại đây anh đã vẽ rất nhiều,
triển lãm tranh ở rất nhiều nơi tại Âu Châu và Hoa Kỳ, được một số giải thưởng về
Hội họa và hoàn toàn sống bằng các họa phẩm của mình. Anh cũng được rất nhiều
nhà phê bình nghệ thuật danh tiếng ở Ý, ở Bỉ v.v... cùng báo chí ở các nơi anh
triển lãm, lên tiếng ca ngợi đường lối sáng tác độc đáo mà anh tìm ra được sau
nhiều năm suy tư, thử nghiệm, và anh đã thể hiện trên các tranh của anh trên
mười năm nay, mỗi năm một mới lạ, một đặc sắc hơn...
Một nhà phê bình hội họa Tây phương André
H. Lemoine, năm 1968 đã viết về Phạm Tăng như sau: “Nghệ thuật của Phạm Tăng là
một chuỗi liên tiếp những khám phá choáng ngợp, bởi vì người ta không bao giờ
biết được tác phẩm khởi đầu từ đâu và chấm dứt ở đâu, mỗi bức tranh là hằng hà
sa số vũ trụ mà mắt ta lướt trên đó chẳng khác gì một phi thuyền không gian đi
kiếm tìm các thế giới”. Nghệ thuật này Phạm Tăng quả quyết là đã phát huy chân
thực được tinh thần giao kết Phật Lão của Thiền đạo, và lối phát biểu nghệ
thuật của anh, hi vọng sẽ “làm đảo lộn những u đặc, nghìn năm không đổi thay
của Nghệ thuật cổ Trung Hoa và Nhật Bản”.
Trong một lá thư gửi về anh em Bách Khoa
nhân kỳ triển lãm đầu tháng
7/1973 ở Bruxelles, Phạm Tăng đã tâm sự như sau: “15 năm! hầu như bước phiêu
lưu của nàng Kiều, nhưng tâm tình tôi không hề đổi thay, trước sau vẫn một lòng
một dạ. Về phương diện vật chất thì cũng đỡ chật vật.
Ở nơi đây, không hề chịu thương mại hóa
nghệ thuật mà vẫn đủ sống nghề nghiệp tự do của mình là một điều tôi không mong
gì hơn, nhất là mình đơn thương độc mã, lẻ loi có một mình. Đừng có hòng chi
một lời cổ võ, dù là một lời cổ võ bằng miệng ở bất cứ một hướng nào của người
mình.
Tuy nhiên, những hồi chuông tôi gióng ở Tây
phương thực ra cũng đã gây được nhiều tiếng vọng. Và có thể nói với anh, không
ngần ngại gì, là những âm vọng đó từ xưa tới nay, kể từ khi đất nước mình bị đô
hộ, chưa có ai làm hơn”.
Bao nhiêu năm im lặng hầu như để “tu dưỡng
cho nghệ thuật được trưởng thành”, thấy Phạm Tăng đã lên tiếng giải bày nghệ
thuật của mình, Bách Khoa liền gửi thư sang phỏng vấn anh về sự học tập ở nước
ngoài, về tình trạng Hội họa ở Tây phương, về đường lối sáng tạo của riêng anh, v.v...
Có lẽ vì thấy cuối năm 1973, Bách Khoa như
ngọn đèn chập chờn sắp tắt, nên anh xúc động vội cố gắng trả lời bằng một lá
thư thật dài, mà chúng tôi xin đăng nguyên văn sau đây. Cảm ơn anh Phạm Tăng đã
cặm cụi viết 13 trang thư dài gửi về, chứng tỏ tấm lòng của anh đối với các anh
em cũ và bạn đọc Bách Khoa, đúng như anh nói, vẫn nguyên vẹn như 15 năm trước.
Ta hãy thử ngắm kỹ những
hàng lớp đá chạy trên sườn núi, mây bay vần vụ trên trời, làn sóng cuộn trên
mặt bể, dấu vết gió vờn trên bãi cát, đường vân nổi trong con ốc biển, trên
mảnh vỏ cây, trong viên đá sỏi, trên mặt rong rêu, ta đều có thể nhận thấy dễ
dàng một nhịp vận chuyển thật sinh động tự nhiên hiển hiện thành đường nét...
Nhắm mắt lại, nhìn vào
trong lòng mình tôi cũng thấy hiển hiện những đường nét đó. Khi vui khi buồn,
lúc mừng lúc giận, nhất nhất mọi trạng thái cảm súc đều có thể vẽ lên thành
những đường nét uyển chuyển trùng điệp gắn bó vào nhau chẳng khác chi những đường
nét biểu hiện cái nhịp sống của sự vật.
Bên trong, bên ngoài, nhịp
sống đó ngự trị, chi phối tất cả. Đem thể hiện nó lên tranh, tự nó, nó đưa đẩy
những hình thề đã được kết tụ do sự tổ hợp của các tế bào và làm cho các hình
thể đó trở nên sinh động.
* PHẠM TĂNG.
Roma 27-1-1974,
Anh Châu thân mến,
Đã hầu như 15 năm, tôi im hơi lặng tiếng.
Muốn thận trọng trong lời nói, nên không dám thưa thốt ba hoa. Nhận được thư
anh, trong cái phong bì mầu vàng cũ kỹ giống như những cái phong bì mà anh đã
gửi cho tôi 15 năm về trước đến nay còn giữ lại tự nhiên tôi thấy lòng như se
sắt - tấm lòng trung hậu của anh em vẫn y nguyên - tôi tự nghĩ thấy mình không
thề im lìm giữ hoài thái độ đắn đo, vả lại tưởng cũng đã qua cái thời kỳ dựa
cột, nên đánh bạo trả lời những điều anh hỏi.
- Anh hỏi đến bằng cấp? Bằng cấp không có
nghĩa gì hết đối với nghề của tôi, nếu có
thể gọi là nghề. Cầm cái bằng trong tay, chưa chắc đã có thể thực là họa sỹ!
Chẳng qua chỉ là những mảnh giấy chứng minh những khoá huấn luyện để cho người
học vẽ tập sự vào nghề. Tuy nhiên anh muốn rõ, tôi cũng xin thưa:
Tôi tốt nghiệp từ năm 1962 ở Mỹ thuật học
viện Roma, ban Hội họa. Tôi tiếp tục học thêm ban Trang trí và tốt nghiệp lần
thứ hai ở ban này. Để lấy thêm kinh nghiệm, đồng thời cũng vì những lý do
riêng, tôi lại học thêm ở ban Điêu khắc và ban Dàn cảnh. Ở mỗi ban sau, đến
niên khóa thứ 3, tôi đành bỏ dở vì vướng mắc các hoạt động đó đây tại các nước
Âu Châu. Kể từ xưa và 1943, tại trường Mỹ thuật Hà Nội tôi bỏ ban Kiến trúc để
học Hội họa, âu cũng là 30 năm trong nghề, nhưng thực sự, tôi tự coi mình chín
chắn chỉ từ 1965 trở lại. Những hoạt động tích cực, những ganh đua đọ tài thử
sức với thiên hạ, trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của một kẻ lẻ loi, đơn
thương độc mã, dần dà cho tôi thêm kinh nghiệm trong nghề cũng như trong cuộc
đời. Chí những cái đó - đem đối chiếu với những kết quả cụ thể thâu lượm được - mới thực là quan trọng để có thể đánh giá một họa sỹ!
Tưởng cũng nên nói thêm ít nhiều về những
từng trải-không phải để kể khổ - nhưng để cho các anh
em ở nhà, nhất là các bạn trẻ học vẽ, lấy thêm kinh nghiệm.
Trước khi dự tính chương trình hoạt động
sau khi ra trường tức là từ năm 1962 - tôi
đã ý thức rõ rệt những nỗi khó khăn lớn lao mà tôi sẽ phải gặp:
Tôi tự lập với hai bàn tay trắng, ngoài sự
xoay sở để sinh sống, có chỗ làm việc, và dụng cụ để sáng tác tôi lại phải tìm
cách lo liệu - bằng cách này hoặc cách khác - những chi phí về tổ chức triển
lãm. Mỗi một cuộc triển lãm tốn kém từ một ngàn đến hai ngàn đô-la, riêng về ấn
loát quảng cáo, thuê nhà bày tranh, v.v...
không kể một số lượng tranh
từ 20 đến 30, mà mình đã phải có sẵn. Tại mỗi đô thị lớn ở Âu Châu có ước
khoảng hàng 100 nhà bày tranh, trong số đó không hơn 20 nhà có tiếng. Như vậy
cứ mỗi kỳ trung bình là 2 tuần, ở mỗi đô thị có thể có tới hàng 100 họa sỹ
trưng bày, không kể những Viện Bảo tàng công cộng. Trên báo chí, mục phê bình
nghệ thuật có hạn, báo hàng ngày thì một tuần một lần, báo hàng tuần thì khi có
khi không, một góc cột, một nửa cột, họa hoằn lắm mới có thể ra một trang cho
một cuộc triển lãm quan trọng. Truyền thanh, truyền hình thì lại càng khó khăn
nữa: Một vài phút, một vài giây dành cho những triển lãm đáng lưu ý, trừ những
mục dành cho các bực thầy đã công thành danh toại. Giới phê bình nghệ thuật thì
khó khăn, có thể nói là có nhiều đẳng cấp. Không dễ gì được những nhà phê bình
đã có danh tiếng nói tới mình, trừ phi nghệ thuật mình phải đặc biệt, xứng đáng
được chú ý đến. Ấy là tôi chưa nói đến những vận động thương trường đầu tư trục
lợi, làm khuynh đảo mọi giá trị chân chính của nghệ thuật trộn lẫn vàng thau,
khiến cho Nghệ thuật thành ra một món hàng để lừa phỉnh, gạt gẫm của bọn con
buôn, làm nản lòng những kẻ có nhiệt tâm thiện chí.
Tôi là một họa sỹ Việt Nam đã lẻ loi đơn
độc giữa nước Ý (một Trung tâm Nghệ thuật Âu Châu có hàng bao nhiêu thế kỷ
truyền thống, có hàng bao nhiêu kho tàng nghệ thuật cổ kim) tài chính lại suy
kiệt, sức lực thì ốm yếu, tưởng chẳng cần phải nói anh em cũng có thể thông cảm
với tôi, trước những trở lực "bên ngoài" kể trên; ấy là chưa nói đến
những trở lực "bên trong" tức là việc xây dựng nghệ thuật, bồi dưỡng
bản lĩnh mình trước khi ra thi thố với người.
Chỉ những chuyến ngủ đêm co ro trên xe,
ngoài xa lộ, trong đêm lạnh dưới 15, 17 độ đề đỡ tiền trọ, chỉ những đêm trắng
nhìn tuyết tan trên kính, như những dòng nước mắt trong khi chờ đợi sáng để làm
thủ tục quan thuế tại biên thùy cho đỡ tốn tiền chuyên chở tranh, chỉ những lúc
ghé vai khuân vác dưới mưa những bọc khung vì không có tiền thuê người đỡ việc,
chỉ những khi hồi hộp đợi chờ kết quả vừa về tài chính, vừa về phê bình sau
những cuộc triển lãm ế khách, tôi mới thực cảm thấy cái giá mà mình đã phải trả
khi muốn được tự do chọn lựa con đường của mình.
Tuy nhiên kiểm điểm lại những điều tôi đã
học được-không phải chỉ ở trong trường-nhưng chính là học ở những hoạt động thực sự trong
nghề, tôi có thể nói là mặc dù sự học của tôi chẳng bao giờ có thể gọi là xong,
nhưng kể từ 1962 đến nay, về phương diện tinh thần tôi cũng có phần nào mãn
nguyện.
Tôi triển lãm ở Ý tại các đô thị lớn như
Roma, Firenze, Milano, Venezia, v.v,
không kể các đô thị nhỏ và một vài lần chiếm giải tại các cuộc triển lãm có
tính cách quốc tế.
Tại Âu Châu tôi triển lãm nhiều lần tại Bỉ, Áo, Đức, Hòa lan, Thụy Sỹ. Tại Nam Mỹ, tôi triển
lãm ở Ba Tây, và ở Bắc Mỹ tại Los Angeles. Riêng tại Pháp, tôi chưa triển lãm
lần nào, mặc dù có nhiều cơ hội tốt. Có nhẽ là tự tôi chưa rũ sạch được cái mặc
cảm của một kẻ mà tổ tiên đã bị đô hộ tù đày, mặc dù tôi đã có gặp những bạn
người Pháp tốt lành, hoặc những người bạn dân Pháp người Việt thân ái muốn giúp
đỡ.
Trong những hoạt động đó đây, tôi đã có nhiều
dịp gặp gỡ và trao đổi ý kiến với những nhân vật có tiếng tăm trong lĩnh vực
nghệ thuật. Trong những cuộc phỏng vấn của báo chí, của những cơ quan truyền
thanh truyền hình các nước, tôi cũng được nhiều dịp chứng minh là tại Việt Nam ta,
cũng có người làm nghệ thuật, yêu nghệ thuật và nhất là qua những họa phẩm của
tôi, hội họa Việt Nam cũng lộ ra một bản sắc riêng, góp một tiếng nói với nghệ
thuật thế giới, dù là một tiếng nói nhỏ bé, nhưng là tiếng nói của mình, không
lai căng của Tàu hay của Tây. Nói tóm lại, tôi cảm thấy hãnh diện là mình không
mất rễ, không chịu mất rễ và sau 15 năm đụng chạm trực tiếp với Tây phương, tôi
nhờ ở sức phản ứng mà phá tung được mọi xích xiềng nô lệ, do sự lệ thuộc vào
lối nhìn nhận sự vật, ảnh hưởng của Hội họa Trung Quốc và Tây phương trong thời
kỳ đô hộ. Chính là nhờ ở lòng ham muốn tự do và ở cái chí khí quật cường của
dân tộc, tôi mới tìm được một đường lối giải thoát cho nghệ thuật của tôi, và tin
chắc rằng công học hành và những hy sinh qua 30 năm trời không đến nỗi uổng.
Vấn đề xây dựng sáng tác.
Từ khi sang đây cho tới giờ, tôi đã chứng
kiến và hiện đang chứng kiến một giai đoạn khủng hoảng trầm trọng của Nghệ
Thuật Hội họa Tây phương. Có nhiều nguyên nhân:
Ảnh hưởng do sự tàn phá của chiến tranh từ
cuộc Đại chiến thứ nhất đến sau cuộc Đại chiến thứ hai; nỗi lo âu phiền muộn
của con người phù du đối trước cái Chết, do những luồng tư tưởng hiện sinh gợi
nên; sự bành trướng phi nhân của nền văn minh máy móc; sự đổ vỡ của những giá
trị tinh thần; những mâu thuẫn gay cấn vì ý thức hệ đối lập, v.v...
Guồng máy khổng lồ nhằm sản xuất nhanh
chóng của nền kinh tế tiêu thụ, do giới tư bản kỹ nghệ nắm giữ, gạt dần dần Nghệ
thuật - vốn dĩ là một sản xuất có tính cách thủ
công chậm chạp - ra ngoài lề xã hội. Mặt khác, Nghệ thuật hội họa xưa kia được
xây cất trên thực tại, giá trị của nó được xã hội bảo đảm coi như bất di bất
dịch; giờ đây, thực tại đã bị truất phế vì giới họa sỹ cấp tiến muốn hoàn toàn
giữ vai trò chủ động trong việc sáng tác. Hội họa biến thành một ngôn ngữ trừu
tượng của từng cá nhân nghệ sĩ với sự tự do phóng túng phô diễn cảm nghĩ riêng
của từng người. Có những ước vọng muốn vượt lên trên thực tại như xu hướng trừu
tượng kỷ hà. Có những ước vọng muốn diễn đạt sâu hơn thực tại như xu hướng trừu tượng vô thể.
Có những manh nha lợi dụng các khám phá mới mẻ của khoa học để dò xét thực tại
bằng một con mắt khác. Không thể kể cho hết những tìm tòi về mọi mặt mọi phía,
mỗi nghệ sĩ đều cố gắng tìm cho mình một bản sắc riêng, một thế giới riêng. Vì
tính chất cá nhân dị biệt nên Hội họa ly khai với xã hội. Từ ly khai đến cô
độc. Từ cô độc đến thất vọng, phẫn nộ, chống đối, phá hoại. Thêm vào sự kiện
đó, những ảnh hưởng bất lợi bên ngoài mà tôi đã lược kể ở trên làm cho Hội họa
mới của Tây phương tưởng như bị đẩy vào tuyệt lộ.
Thậm chí đã có những tiếng
kêu báo nguy. Giáo sư G.C. Argan, nhà nghiên cứu phê bình hội họa nổi danh, lập
luận theo quan điểm biện chứng khoa học, đã băn khoăn tự hỏi: "Phải chăng
vì bị xã hội ruồng rẫy mà Nghệ thuật Tây phương đã đến giờ phải tự cáo chung?"
Theo thiển ý tôi, Hội họa mới sở dĩ bị xã
hội ruồng rẫy vì Hội họa chưa tìm ra được một điểm tựa chắc chắn để đứng vững
khả dĩ thế vì cho cái điểm tựa "Thực tại" đã bị phá hủy. Thực tại
trên tranh, xưa kia, là một ngôn ngữ thống nhất mà người vẽ và người xem có thể
gần gụi thông cảm nhau. Giờ đây, nghệ sĩ mở rộng chân trời tự do, không muốn dùng
cái ngôn ngữ chật hẹp đó, lẽ dĩ nhiên phải tìm sao cho ra được một giải pháp
vừa không câu thúc tư tưởng nghệ thuật của mình, vừa để cho quần chúng trong xã
hội có thề tìm thấy một khía cạnh thông cảm. Một khi giải pháp chưa tìm ra được
thì nghệ sĩ mới càng bị cô lập, xã hội càng lánh xa, Nghệ thuật tránh sao khỏi
sự tự hủy diệt?
Sau hơn 10 năm hoạt động ngay chính giữa
cơn bão lốc của cuộc khủng hoảng trầm trọng đó tôi sở dĩ còn tồn tại và đứng
vững được để bảo vệ bản sắc nghệ thuật của riêng mình, là bởi tôi đã tìm ra
được một giải pháp hợp cho tôi và đồng thời được sự hưởng ứng của những giới
yêu Hội họa.
Vậy tôi đã xây dựng sáng tác như thế nào?
Có thể nói gọn ghẽ vắn tắt là tôi tìm "Xây
dựng cái Hồn tranh". Tôi thấy cần phải định rõ tôi quan niệm "Hồn
tranh" ra sao?
Xưa nay, ta thường gọi tranh có hồn là khi
ta thấy tranh sinh động, giống tự nhiên. Nhìn phong cảnh thực nhìn người kiểu
mẫu thực rồi so sánh thấy phong cảnh trong tranh linh hoạt, thấy hình người kiểu
mẫu như cười như nói, thì ta phê bình là tranh có hồn. Nếu ta nhìn nhận kỹ tấm
tranh trước mắt, thì hồn đó biến đi và trên tranh chỉ còn trơ mầu sơn, mặt vải.
Chính vì lẽ đó mà Platon khi xưa đã buộc không oan cho Hội họa cái tội vẽ vời
ảo tưởng làm mê hoặc con người. Tìm cái Đẹp thực hay đi tìm ảo ảnh của cái Đẹp?
Con người sống đắm chìm trong si mê vì bị ảo tưởng làm mê hoặc, Nghệ thuật chân
chính với mục đích cao cả dẫn dắt con Người tới cái Đẹp thực sự, sao có thể đặt
căn bản trên ảo ảnh của Thực tại?
Cái Hồn tranh mà ta nói ở trên kia, chính
là cái Hồn giả tạo, vay mượn xét ra cần phải hủy bỏ để tránh một mê lầm. Chính
vì lẽ đó mà tôi đã chọn lựa đứng về phía những nghệ sĩ loại bỏ hình bóng vay
mượn ở thực tại. Cũng chính vì lẽ đó tôi không những không ham mê Nghệ thuật cổ
điển Tây phương mà ngay cả đến toàn bộ Nghệ thuật Đông phương với hình dáng
hiện thực, sơn thủy mai lan cúc trúc v.v... tôi cũng thấy vướng vất một cái
mành che ảo tưởng làm cho cái Tâm tôi mất quyền chủ động và đi đến chỗ bị mê
hoặc. Vậy thì cái hồn tranh mà tôi muốn xây dựng không thể là cái hồn tranh giả
tạo cổ điển; cũng không phải là cái hồn mập mờ nửa thực tại, nửa trừu tượng. Nó
là cái hồn của chính bức tranh, tự những tổ chức cấu tạo của nó mà nó có cái
hồn. Nói rõ hơn, hồn tranh là hồn xuất hiện tự ở bút pháp của người họa sỹ mà
ra. Bút pháp là sự sử dụng đường nét, hình thể, mầu sắc, tức là ba yếu tố căn
bản của tranh. Nếu đường nét, hình thể, mầu sắc, được sắp xếp, tổ chức, hướng
dẫn, theo một phương pháp, một trật tự nào đó để mọi thứ trở nên sinh động, thì
bức tranh - dù chẳng hình dung một sinh vật gì có thực - cũng tự nó trở nên một
vật sống, có một linh hồn riêng.
Tôi hoàn toàn tự do suy ngẫm ngoại giới,
kết lọc những cái tinh túy bên trong gạt bỏ những thừa thãi giả tạo, nhìn ngoài
xong lại nhìn trong, cố gắng tìm ra cái chân tướng của sự Sống có thể diễn lên
trên tranh, đem phổ sự Sống đó vào nét vào hình vào sắc, đó là quá trình xây
dựng sáng tác của tôi, mà tôi sẽ trình bày một cách đơn giản cho dễ hiểu.
Nguyên liệu đầu tiên để xây dựng họa phẩm
của tôi là tế bào. Ai cũng biết tế bào là nguyên ủy của sự Sống kết tinh từ thuở
khai thiên lập địa. Trong cảnh hỗn mang của trời đất tế bào sinh sôi nẩy nở kết
tụ, thành mọi sinh vật sống từ côn trùng, cây cỏ, cầm thú cho đến con người.
Trời đất hỗn mang khi xưa có khác chi cái xã hội hiện tại mà chúng ta đang
sổng? Tro bụi, điêu tàn, băng hoại, đổ vỡ.
Gieo tế bào như gieo mầm sống mới, gây nên
những sinh vật mới trong một thế giới mới, với một tổ chức, một trật tự mới
đặng thế vì cho những cái tàn rụi, nát rữa, trong Hội họa, ngoài xã hội và cả
ngay chính trong ta nữa.
Bắt đầu từ cái tế bào nhỏ nhoi tôi có cảm
tưởng như đang xây dựng lại chính mình. Từ tế bào đầu tiên là cái tôi nguyên
thủy đến sự tập hợp của muôn triệu những tế bào tuần tự nẩy sinh, hình ảnh của
hằng hà sa số những cái tôi khác nhau kết lại, tôi từ cái trạng thái bào thai
trở nên thành người. Những hình thể được cấu tạo trong tranh có thể tạm ví như
những hình ảnh của chính tôi, từng giai đoạn một. Toàn thể cái tranh là cái Tôi
cuối cùng. Ngẫm cho kỹ thì cứ trong mỗi phút giây, xê dịch liên miên không biết
bao nhiêu là cái Tôi không giống nhau, trùng điệp; cái nọ lan sang cái kia tựa hồ như một vết mực
loang trên mặt giấy, không ngưng đọng trong một hình thể nào nhất định. Bởi vậy
không hề bao giờ có một bức ảnh chụp nào dù bằng một cái máy tinh vi nhất có
thể bắt chụp được đúng hình người. Những hình thể cố định, tưởng như rõ ràng
minh bạch, nhưng thực ra chỉ là một hình ảnh hết sức đơn giản, một lược đồ của
sự Sống. Suy luận như vậy, những hình thể mà tôi tạo nên tranh không khuôn bó
trong một chu giới nhất định; tôi dụng ý để cho những hình thể đó khi ẩn, khi
hiện, lúc tỏ, lúc mờ, hình nọ lan sang hình kia, tựa hồ như những khối tế bào
được tự do co dãn, nảy nở.
Để thể hiện sự sống mong manh của từng tế
bào, tôi tạo những đường vòng đồng tâm li ti kết tụ quanh hạt nhân ở giữa. Mỗi
đường vòng là một mầu đối chiếu trong ngũ sắc. Mầu nọ phản ứng mầu kia tạo nên
một cảm giác tựa hồ như có tính chất phát quang. Ánh sáng đó có thể gọi là ánh
sáng tự tại xuất phát tự bên trong từng cái sống nhỏ thoi thóp của từng tế bào
một. Cũng tỷ như ở con người, muôn triệu cái sống nhỏ, cùng với những cái chết
nhỏ bên trong đã kết nên sự Sống toàn diện của con người có cảm xúc, trên bức
tranh, một ánh sáng nhỏ, hai ánh sáng nhỏ, muôn ngàn ánh sáng nhỏ tụ tập vào
nhau, chuyển vần, kết thành những hình thù sinh động của những vật thể mới ương
mầm đang ngoi lên tìm sự sống trong ánh sáng.
Muốn gây nên một động lực để thúc đẩy những
sinh vật đó, tôi kết hợp chúng theo một nhịp
đường nét mà tôi tạm gọi là nhịp sống. Nhịp sống đó như thế nào?
Sống là động, là chuyển địch, chuyển dịch
cả trong những trạng thái tĩnh nhất. Không những chỉ ở những sinh vật sống
thuộc những loài động vật hay thảo vật có chuyển động mà cả những cái tưởng là
vô tri như quặng đá cũng thay đổi không ngừng. Vạn vật hiện dưới mắt ta thiên
hình vạn trạng, từ những kích thước thật nhỏ của những tế bào li ti cho đến
những kích thước thật lớn của các vì tinh tú, mỗi sự vật có một hình dạng cá
biệt. Trong mỗi hình dạng cá biệt lại có sự chuyển vần. Lấy mấu chốt ở chỉ để
định hướng đặng tìm ra cái nhịp sống động đó? Tôi suy nghĩ và nhận thấy nếu mở
mắt nhìn từng sự vật qua cái vỏ ngoài dị biệt thì dễ bị loạn tâm. Nếu ta tĩnh tâm
nhập định, ôn lại tất cả những kinh nghiệm để lý hội toàn thể thì ta có thể
nhìn rõ thấy ở muôn loài muôn vật trong thế gian có một nhịp điệu tiềm tàng chế
ngự tất cả, giống như một giòng sông mênh mông cuộn giòng uốn khúc, đưa đẩy mọi
sự vật trôi theo.
Ta hãy thử ngắm kỹ những hàng lớp đá chạy
trên sườn núi, đám mây bay vần vụ trên trời, làn sóng cuộn trên mặt biển, dấu
vết gió vờn trên bãi cát, đường vân nổi trong con ốc biển, trên mảnh vỏ cây,
trong viên đá sỏi, trên mặt rong rêu, ta đều có thể nhận thấy dễ dàng một nhịp
vận chuyển thật sinh động tự nhiên, hiển hiện thành đường nét, khi lên, khi xuống,
lúc hiện, lúc tan, vừa xô đẩy cuốn hút, vừa êm ả nhẹ nhàng, xoay vần di động,
giống như những đường vân đá chạy trên miếng cẩm thạch, như làn khói thuốc chuyển
động qua hơi thở. Khoa học lại giúp cho ta nhận thấy một cách tinh vi hơn nữa
cái nhịp vận chuyển huyền bí đó ẩn náu tận trong sâu cơ cấu sự vật: nhìn những
hình ảnh phóng đại của các tế bào, nhìn những sự sắp đặt bố trí của từng bộ
phận cực nhỏ trong từng sinh vật, ta có thể vạch rõ ra thành đường thành nét
cái động lực mầu nhiệm của sự Sống thâm sâu và nhận thấy đường nét đó cũng
tương tự như ở cảnh giới mà mắt ta có thể quan sát được.
Hẳn chúng ta không ai không còn nhớ những
hình chụp từ trên thượng từng không gian, trái đất của chúng ta thu nhỏ lại.
Nhìn những mạch chuyển động của lớp không khí bao trùm địa cầu, thực chẳng khác
chi những đường vân xoay tròn trong con ốc biển. Nhắm mắt lại, nhìn vào trong
lòng mình tôi cũng thấy hiển hiện những đường nét đó, khi vui khi buồn, lúc
mừng, lúc giận nhất nhất mọi trạng thái cảm xúc đều có thể vẽ lên thành những
đường nét uyển chuyển trùng điệp gắn bó vào nhau chẳng khác chi những đường nét
biểu hiện cái nhịp sống của sự vật.
Bên trong, bên ngoài, nhịp sống đó ngự trị,
chi phối tất cả. Đem thể hiện nó lên tranh, tự nó, nó đưa đẩy những hình thể đã
được kết tụ, do sự tổ hợp của các tế bào và làm cho các hình thể đó trở nên
sinh động.
Như vậy có thể nói tranh không còn là phản
ảnh thực tại, không còn dấu vết gì gợi nhớ đến những cái thường thấy, mặc dù
nguồn cội thâm sâu của nó vẫn xuất nguyên ở Tạo vật.
Người nghệ sĩ tự do hoàn toàn cởi mở trong
việc sáng tác để tạo tranh thành một thế giới khác, một thế giới ước vọng, một thế
giới lý tưởng. Đồng thời tranh cũng trở thành một vật thể sinh động, có cái hồn
riêng của nó, có sự sống riêng của nó để có thể trực tiếp tạo mối giao đồng với
người xem tranh.
Trong thế giới hiện tại mà bao nhiêu giá
trị đang tan nát đổ vỡ, bao nhiêu băng hoại điêu tàn, kể cả đến con Người - con
người mà xưa kia được sùng bái như thần linh, giờ đây chỉ là hình dạng Ác quỷ
khát máu, tràn ngập căm thù, ai cấm tôi không được đem cái ngông cuồng tưởng
tượng của người nghệ sĩ - vốn chẳng là triết gia cũng không phải là nhà khoa
học - mơ màng xây dựng lại tất cả, từ số không, bắt dầu từ cái tế bào mong manh
cho đến những sinh vật, hòng xếp đặt lại tất cả trong một nhịp sống mới, trong
một trật tự mới.
Qua những lời nói đó, tôi ý thức rõ và
không muốn giấu giếm là tôi đã có một ham muốn vượt khỏi tầm người - đó là thái
độ ngạo mạn muốn học làm ông Tạo nhỏ.
Tuy nhiên, nếu không nuôi dưỡng một ý chí để
tiến tới một chù đích – dù chủ đích đó trong giới hạn ngắn ngủi của cuộc đời,
không đủ cho ta có trọn công sức chí lự để bòng đạt tới - thì con người nhiều
khi cảm thấy thiếu nguồn động lực thúc đẩy mình đi lên. Vả lại, xét ra cho
cùng, đã có cái chủ đích tối cao nào, ngoài môi trường nghệ thuật, như Tôn
giáo, Khoa học, Triết học mà không ở cõi trừu tượng, vô ảnh?
Nhưng dù có thực là ngông cuồng hay không,
tôi cũng vững một niềm tin vào công việc sáng tác của tôi hiện tại, vì đôi khi
đối chiếu với những lời vàng ngọc của những bực tiền bối cổ kim, tôi thấy những
suy tư của tôi về Nghệ thuật cũng có, không ít thì nhiều, những điểm tương
đồng.
Tuy có ngần ngại khi phải dẫn chứng, tôi
xét thấy cũng có điều có lợi cho những ý kiến của tôi.
Cái Đẹp mà Platon quan niệm là cái Đẹp tự tính,
siêu phàm, tuyệt đối, thuần tinh thần, không vướng mùi trần tục, không nhơ nhớp
da thịt, áo quần chúng sinh. Tìm đến cái Đẹp tự tính, vượt lên trên tất cả mọi
cái đẹp ở thế gian, con người sẽ tới cõi giải thoát, viên mãn, hòa đồng cùng vũ
trụ. Platon cực lực lên án cái Đẹp giả tạo, tức là cái hồn tranh lường gạt đã
nói ở trên.
Theo Ariistote, gần gụi với con người hơn,
thì ý niệm về cái Đẹp có tính cách tiên thiên nội tại tiềm ẩn trong tinh thần
con người. Làm nghệ thuật tức là sáng tạo những hình thể mới, những hình thể mà
người nghệ sĩ chẳng có hề biết đến trước khi sang tác. Nghệ thuật làm biến dạng sự thực chứ không phải
là bắt chước. Con người chung sức với thiên nhiên làm nên Nghệ thuật.
Nghệ sĩ có thể sáng tạo ra những công trình
giống như những công trình mà Hóa công đã tạo nên, dù chỉ trong một kích thước
nhỏ. Từ ta đến sự vật, từ sự vật vào trong ta, có một nhịp điệu hòa đồng toàn
diện. Đó là ý kiến của Leibniz.
Theo Kant, Nghệ thuật là sự sáng tạo có chủ
định hẳn hoi, những công trình làm cho người xem có cảm tưởng như đã được sáng
tạo một cách tự nhiên, không hề có dụng ý trước, giống như thấy ở thiên nhiên vậy.
Schilier gọi cái Đẹp là sự Sống, là "cái
thể sống động". Ý kiến của Schelling cho là Nghệ thuật không phô bầy những
cái nhỏ hẹp, hạn chế, nhất thời nhưng thể hiện bao quát cuộc sống vô biên, cho
nên ý niệm tuyệt đối là đối tượng của Nghệ thuật.
Theo Schopenhauer, con người chĩu nặng đau
khổ vì nỗi tử sinh, vì lòng ham sống. Nghệ thuật làm tâm hồn thanh thoát và
hướng dẫn con người tới cõi thanh tịnh niết bàn.
Croce đã viết: Nghệ thuật dù có giới hạn
khuôn hẹp trong phạm vi cá nhân nhưng càng bao trùm được cái rộng lớn cao thâm
như vũ trụ càng chửng tỏ được trình độ cao siêu, trái với những cái hời hợt,
non yểu.
Làm Nghệ thuật tức là sử dụng điều hòa
những chất liệu sinh động có dụng ý truyền thụ cho người xem một cảm tưởng siêu
việt trước cái thế giới mà người nghệ sĩ muốn phô diễn. (Souriau) Tìm kiếm
những tư tưởng cổ kim về Nghệ thuật đối với tôi chỉ là một việc muốn tự mình kiểm
điểm, so sánh, dò dẫm bước đường mình đi, gạn lọc tìm một "mẫu số chung"
trong những tư tưởng phát biểu của thiên hạ, coi như một cái gậy dùng để dò đường,
còn thì việc chủ định đi, đứng, tiến, thoái đều là ở tự mình hết thảy.
Nguồn cảm hứng sáng tác, sự thể hiện sáng
tác không ai có thề dẫn dắt, chỉ huy, khi người nghệ sĩ biết tự trọng một khi
coi mình là một kẻ sáng tạo.
Cho tới đây, tôi đã cố gắng giải bày phần
xây dựng sáng tác của tôi để được rõ ràng phần nào hay phần ấy. Phân tích giảng
giải, mổ sẻ một cách võ đoán, trừu tượng, công việc đó chẳng khác chi chắp
những bộ phận rời rạc, cái tay, cái chân, cái mặt để cắt nghĩa sự sống của con người!
Theo ý tôi, những sự giảng giải trình bày
đó thực là vô ích. Giả sử có ích lợi chút nào thì chỉ cho riêng tôi để có thể
nhìn lại chính mình, xếp đặt mọi sự trong tôi có trật tự hơn. Ngoài ra đối với người
xem, không có chi là quan hệ. Tại sao vậy? Tôi xin trả lời ngay: Tại cái hồn
tranh. Nếu tranh có hồn như một vật thể sinh động thì tự nó hấp dẫn người xem.
Giữa người xem và nó có sự thông cảm trực tiếp, không cần phải có kẻ đứng sau nó
mà giảng giải thay cho nó. Nếu tranh không có hồn thì dù có giảng giải bằng thiên kinh vạn quyển nó cũng
không thể sống được, và như thế cùng lắm cũng chỉ có thể vứt tranh vào đống rác
hoặc trong một viện bảo tàng nào đó để cho nhện chăng mà thôi!
Như trên kia tôi đã nói về tình trạng khủng
hoảng của Nghệ thuật Hội họa Tây phương - xét ra cần phải nhắc lại - là theo
tôi, người nghệ sĩ phải tìm cho ra "một giải pháp vừa không câu thúc tư
tưởng nghệ thuật của mình vừa để cho quần chúng trong xã hội có thể tìm thấy
một khía cạnh thông cảm". Chính cái khía cạnh làm cho người xem thông cảm
là ở cái Hồn tranh có hay không. Tại sao tôi lại có thể tin tưởng là không cần
phải giảng giải tranh mà người xem tranh cũng có thể tiếp nhận, hưởng ứng họa
phẩm - (lẽ dĩ nhiên tôi muốn nói một họa phẩm có hồn)? Lý do chính là tôi tin
rằng trong tất cả mọi người đều có ý niệm tiên thiên về cái Đẹp. Vô luận ở nơi
đâu, vô luận ở thời nào, từ già trẻ lớn bé, ai nấy cũng có tiềm ẩn ở trong lòng
một nhu cầu tìm tòi cái Đẹp.
Có ai dạy cho những người man rợ nơi núi thẳm
rừng sâu biết bông hoa là đẹp, con bướm là xinh? Có ai dạy cho đứa trẻ sơ sinh
biết vỗ tay vui mừng đòi cái chong chóng xanh đỏ trước mắt? Hình cầu vồng lộng
lẫy, cảnh sớm mai huy hoàng, viên ngọc châu, miếng cẩm thạch, có cần chi đến
những nhà nghệ sĩ, hoặc thẩm mỹ gia giảng giải ta mới cảm thấy
thích thú?
Cầm con Ốc biển, cái cánh bướm trên tay, ta
xoay ngang xoay dọc, ham mê mầu sắc lóng lánh của sà cừ, sững sờ trước những
phấn mầu linh động, có mấy khi ta cần phải xét xem con ốc, cánh bướm giống cái
chi mà ta đã biết trước rồi mới chấp nhận giá trị của nó. Nói rõ hơn nữa ta có
mấy khi đòi hỏi năn nỉ xem thâm ý của ông trời ra sao khi sáng tạo ra chúng?
Con ốc biển là con ốc biển, cánh bướm là cánh bướm, đâu có tên chi khác? Nếu là
người man rợ nơi thâm sơn cùng cốc ta nhìn nhận lĩnh hội bướm và ốc một cách
riêng, nếu ta là nhà thông thái bác học ta lại nhìn nhận và lĩnh hội một cách
khác. Như vậy, mỗi một người ở mỗi nơi mỗi thời có quyền tự do nhìn nhận phán
đoán tùy theo sự hiểu biết và khả năng nhậy cảm của mình. Thấy bướm đẹp thì giữ
gìn, thấy bướm xấu thì bỏ đi, cũng như thú tranh thì thấy tranh có giá trị, xem
kỹ ngắm lâu; không thấy tranh hấp dẫn thì cứ tự do quay đi hướng khác. Đó là
thái độ trung thực với chính mình, biểu lộ tinh thần tự do nhìn nhận, suy nghĩ
phán đoán, hơn là chịu ảnh hưởng, hoặc vướng mắc vào những vòng lý thuyết có
khi chỉ là loạn ngôn. Cũng có những người muốn giảng giải cho ta rằng các nghệ
sĩ đã mở mắt chúng ta và dậy cho chúng ta biết cái Đẹp trong sự vật, bởi lẽ nếu
không có giới nghệ sĩ thì con bướm, con ốc biển chỉ là những vật câm nín, bất
động! Tôi không nghĩ như vậy: ngược lại, chính những sự giảng giải, hướng dẫn,
những lý thuyết này nọ về Nghệ thuật, về cái Đẹp đã làm tối tăm, nhiều hơn là
làm sáng tỏ, gây do dự hoang mang trong tâm trí người xem.
Chính vì sự hiểu biết nửa chừng bằng kiến
thức đã đây nên những định kiến sai lầm tai hại có khi cố kết lâu dài hàng bao
thế kỷ và làm cho cái Tâm thanh tịnh uyên nhiên của con người bị che lấp trong
sai lầm, tỷ như những lớp đá cố kết chung quanh viên ngọc trai vậy.
Tuy nhiên, dù nhiều dù ít, một khi gặp một
sức động nào khả dĩ có thể gợi cảm như một âm thanh vang vọng vào trong sâu,
làm thức tỉnh cái ý niệm tiên thiên về Đẹp, con người nào cũng thấy rung động,
cũng ví như bất thần nhìn thấy ở cái mạng nhện lóng lánh những hạt châu, hoặc
trên mặt đất, lung linh một viên đá quý.
Đó là những khía cạnh mà tôi cố gắng tìm
cách khai thác để cho người xem khỏi phải bỡ ngỡ khi lạc vào trong tranh của
tôi. Ngoài sự tìm tòi ra cái nhịp sống, sáng tạo ra những hình thể kết tập tế
bào, gây nên một động lực bằng đường nét, ánh sáng, mầu sắc để cho tranh có
hồn, tôi lại tìm cách đứng lùi ra khỏi tấm tranh, tựa như thái độ mở cửa đón
khách để khách biến thành chủ. Làm sao để bày tỏ thái độ đó một cách cụ thể?
Số là thường khi xem tranh là phải đứng
cách tấm tranh một quãng xa nào đó để có thể quan sát toàn diện bức tranh; nếu
đến gần quá thì tầm con mắt không đủ mở rộng ra tứ phía. Đó là người xem tranh
phải giữ thái độ "kính nhi viễn chi" không gần gụi. Xem tranh tôi,
khác hẳn. Càng tới sát gần, càng dễ nhận thấy những vẻ khác. Thoạt tiên nhìn
thấy cái nhịp vận chuyển toàn diện; tới gần, nhận ra những hình thể; tới gần
nữa, nhận ra những tế bào; với một lăng kính, nhận ra hình thù từng tế bào một.
Từ kích thước lớn đến kích thước nhỏ, người xem tranh như tự mình giữ vai trò
chủ động trong việc đi khám phá, thăm dò. Có thể đi từ phải sang trái, từ cao
xuống thấp, hay ngược lại; tỷ như khi ta cầm một cánh bướm, ngắm nghía trên
tay. Đó là một thí nghiệm, mà chính tôi đã làm và tôi tin rằng ai cũng có thể
có những cảm giác như tôi: nếu nhìn cánh bướm qua một lăng kính thì cánh bướm
không còn là một sinh vật nhỏ gợi tính hiếu kỳ thoáng qua. Nó sẽ trở thành một
bình diện rộng lớn, một khu vườn mênh mông đầy kỳ hoa dị thảo mà trong đó người
xem, đột nhiên thấy mình hóa bướm, nhởn nhơ bay lượn, tự do múa may, lâng lâng
trút bỏ mọi ràng buộc kìm hãm thân xác con người.
Cách đây không lâu, tôi có viết một đôi câu
để trình bày cuộc triển lãm:
"Xem tranh là một nghệ thuật, một kinh
nghiệm sống động như kinh nghiệm của con bướm khi cất cánh bay, như con cá nhẩy
bơi ngược dòng; nếu người xem tranh nhìn thấy cái chi trong sáng tác của tôi, đó
là người xem tự nhìn thấy mình như khi đứng trước tấm gương trong vậy. Hướng
dẫn một lối nhìn sự vật, rõ ràng là một thái độ gây hấn, một thái độ đè nén. Tìm
kiếm tự do là sứ mệnh cốt yếu của Nghệ thuật, vừa cho kẻ sáng tác, vừa cho
người xem tranh".
Những lời lẽ đó thiết tưởng cũng đã rõ để
trình bầy ý kiến của tôi về tương quan giữa người xem và người sáng tác. Đó là
cái giải pháp mà tôi đã đem thử thách, đo lường trong các cuộc triển lãm và qua
những thành quả thâu lượm được, có thể nói là công trình mười năm không đến nỗi
uổng công.
Bức thư trình bầy với anh và các bạn ở nhà
những việc tôi đã làm, đang làm và sẽ phải làm, tưởng cũng đã tạm đủ. Trọn đời
người nghệ sĩ không bao giờ có thể ngừng chân! Tuy nhiên, sau 15 năm, tôi vẫn
còn phải ở nơi đây; Nơi xứ người, dù có làm hay làm đẹp, cũng là làm hay làm
đẹp cho xứ xở họ. Nhìn về nhà, nghĩ còn có bao nhiêu các bạn bè, các mầm non
yêu mến say mê nghệ thuật mà không có môi trường hoạt động! Hội họa Việt Nam
ta, từ thời bị đô hộ cho tới giờ, chưa cất nhắc ngửng đầu lên nổi. Hết bị ảnh
hưởng Trung Quốc lại tới ảnh hưởng Tây phương vùi dập. Những anh tài trong nước
lạc loài ra tứ phương rồi lâu dần, cũng bị đồng hóa thành người địa phương
không có cơ hội nào mang lại lợi ích cho xứ xở.
Tôi vẫn hằng nghĩ nhiều đến tài năng xuất
chúng của anh Nguyễn Gia Trí, đến lòng nhiệt thành yêu mến Hội họa của anh Đoàn
Thêm, đến những cố gắng trong những hoàn cảnh cực kỳ khó khăn của hàng bao
nhiêu các bạn khác, già có, trẻ có, để bồi dưỡng cho cái cây Hội họa khỏi bị
chết khô chết héo. Hoàn cảnh chính trị, xã hội, kinh tế trong nước mà tôi hằng
theo dõi hàng ngày làm cho tôi cũng thông cảm những nỗi khó khăn, gò bó của tất
cả. Tuy nhiên tôi nghĩ rằng, dù có leo lắt, ngọn đèn văn hóa nghệ thuật cũng
vẫn có thể làm sáng rạng thêm đất nước; và những hoạt động dù lẻ tẻ, ở trong nước
cũng như ở ngoài nước, cũng đã góp một phần xây dựng quốc gia. Đến bao giờ mới
có một luồng sinh khí lớn mạnh hơn nữa trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật nước
nhà?
Trong sự làm việc thầm lặng của tôi nơi
đây, tôi vẫn ngày một ngày hai ngóng đợi, để tiếp tay tiếp sức với các anh em
bạn hữu ở nhà trong việc xây dựng một nền Nghệ thuật mới của dân tộc. Trong
hoàn cảnh khó khăn, không dễ dầu gì có thể tổ chức một cuộc triển lãm tại trong
nước - nói bằng tranh dễ hơn nói bằng lời - tôi đành ghi lại bài thơ bộc bạch
tâm sự và gói ghém những tìm tòi của tôi trong việc xây dựng sáng tác, để tặng
các anh em và tất cả các bạn hữu yêu nghệ thuật.
Múa bút vườn hoang, vẽ láo chơi
Sôn sao sỏi đá nói nên lời!
Đỏ, xanh sáo trộn hồn cây cỏ:
Tình thân,
PHẠM TĂNG.
[1] L.T.S. Những tiêu đề trong bài đều do Bách Khoa ghi thêm.
[2] L.T.S.: Sỏi đá đây là chất liệu mầu sắc, gạn lọc ở sỏi đá mà ra, ý
muốn tạo hồn cho những vật vô tri; chiếc lá thành người, vào chơi trong tranh.



Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire